Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2010

Chuẩn mực đào tạo, thi cấp chứng chỉ chuyên gia kế toán của IFAC: Những kiến nghị áp dụng tại Việt Nam

PGS.TS Đặng Thái Hùng



Chuẩn mực đào tạo chuyên gia kế toán (*) của IFAC.

Kế toán, kiểm toán ngày nay đang trở thành một nghề mang tính toàn cầu. Để đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động đào tạo, làm cơ sở cho sự thống nhất, tương đồng về chất lượng hoạt động kế toán trong nước có nền kinh tế thị trường phát triển, Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) đã ban hành Hướng dẫn số 9 – Quy định các yếu tố trong hệ thống đào tạo chuyên gia kế toán.

Theo đó, IFAC quy định tiêu chuẩn đầu vào để đào tạo chuyên gia kế toán tối thiểu phải tương đương với yêu cầu đầu vào ở bậc đại học. Bởi lẽ, công việc của các chuyên gia kế toán có liên quan đến kinh tế, pháp lý và xã hội vô cùng phức tạp, đòi hỏi họ phải có kiến thức cơ bản và kinh nghiệm ở mức độ cao.

Về nội dung đào tạo chuyên môn về lý thuyết, chương trình đào tạo phải đạt được các kiến thức và kỹ năng cần thiết gồm: Lý thuyết kiểm toán, kế toán, kinh tế, luật pháp, quản trị tài chính… Các kỹ năng thực hành bao gồm khả năng hiểu và vận dụng vào thực tiễn, kết hợp được các kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau, biết nhận định, đánh giá vấn đề, biết đề xuất các biện pháp xử lý và truyền đạt thông tin một cách đầy đủ. Dựa trên các yêu cầu đó, chương trình đào tạo chuyên gia kế toán ở các nước có xu hướng phát triển khả năng đưa ra các nhận định, các đề xuất và bình luận. Các môn học lý thuyết chia làm hai loại: sáu môn học cơ bản (Kế toán tài chính; Kế toán quản trị; Kiểm toán; Công nghệ thông tin); bốn môn học bổ trợ (Kinh tế; Luật; Toán; Marketing).

Bản hướng dẫn cũng quy định về việc kiểm tra năng lực chuyên môn. Các chuyên gia kế toán phải thể hiện được năng lực chuyên môn thông qua hiểu biết một cách đầy đủ các nội dung trong các môn học cơ sở và cơ bản đặt nền móng cho việc tiếp nhận kiến thức các môn học chuyên môn về kế toán, kiểm toán; nắm một cách chi tiết, chuyên sâu về nội dung kỹ thuật nghiệp vụ, các môn học kế toán, kiểm toán; có các kỹ năng chuyên môn liên quan như khả năng áp dụng kiến thức, đạo đức nghề nghiệp, khả năng giải quyết các vấn đề tổng hợp, khả năng đưa ra các vấn đề tổng hợp, khả năng truyền đạt thông tin; biết gắn các hoạt động chuyên môn với các nguyên tắc cơ bản và đặc điểm thực tiễn. Các cuộc kiểm tra có thể bằng hình thức thi tuyển, thi vấn đáp, phỏng vấn bởi các Hội đồng giám định chuyên môn để xem học viên có đủ các kiến thức và kỹ năng cần thiết hay không.

Về trau dồi kinh nghiệm thực tế (thực tập chuyên môn), chuyên gia kế toán, học viên phải qua kỳ thực tập ba năm tại một công ty kiểm toán dưới sự hướng dẫn của một chuyên gia kế toán. Đây là một giai đoạn của quá trình đào tạo. Việc tổ chức thực tập chuyên môn nhằm giúp các thực tập sinh chuẩn bị kỳ thi chung khảo, đồng thời, trang bị cho họ các kỹ năng cần thiết để hành nghề trong tương lai. Ở các nước, nội dung thực tập chuyên môn đều tương tự nhau, đó là tham dự các hoạt động đào tạo về tác phong và đạo đức nghề nghiệp, thông tin kỹ thuật nghề nghiệp.

Về việc tổ chức các kỳ thi, các nước thành viên IFAC tổ chức các kỳ thi chuyên gia kế toán như sau: Kỳ thi quốc gia cho phép học viên được đi thực tập, sau khi đã hoàn thành chương trình đào tạo đại học và có bằng. Kỳ thi này đảm bảo sự đồng đều về trình độ khi gia nhập nghề nghiệp và chứng nhận những kiến thức lý thuyết cần thiết để hành nghề. Kỳ thi chung khảo lấy chứng chỉ chuyên gia kế toán. Để tham dự kỳ thi này, học viên phải có chứng nhận đã hoàn thành chương trình thực tập. Kỳ thi này bao gồm 4 môn thi bắt buộc (vấn đáp với Hội đồng giám khảo, bảo vệ luận văn, hai môn thi viết chuyên môn bắt buộc).

Về việc công nhận và cấp chứng chỉ, sau khi đã hoàn thành và đạt được kết quả các kỳ thi, học viên có thể đăng ký như một chuyên gia kế toán tại Bộ chủ quan, cơ quan quản lý đội ngũ chuyên gia kế toán. Những người thực hiện công việc kế toán, kiểm toán không đăng ký tên trong danh sách sẽ bị coi là vi phạm pháp luật.

Việc cấp chứng chỉ chuyên gia kế toán tuỳ theo quy định của Chính phủ mỗi nước, ở các nước Châu Âu do Bộ Tài chính, hoặc Bộ Tư pháp, hoặc Bộ Kinh tế, Bộ Thương mại.

Kiến nghị với Việt Nam.

Kế toán, kiểm toán Việt Nam đang trên đường hội nhập và phát triển. Để đáp ứng nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực chất lượng cao, Việt Nam cần chú trọng công tác đào tạo chuyên gia kế toán.

Một là: Cần thừa nhận các chứng danh nghề nghiệp kế toán, kiểm toán ở Việt Nam.

Cần bổ sung chức danh “Chuyên gia kế toán” hoặc “chuyên gia kế toán, kiểm toán”, người có chứng chỉ này được phép hành nghề cả hai lĩnh vực kế toán và kiểm toán. Quy định rõ, người có chức danh “Kiểm toán viên”, được phép hành nghề trong lĩnh vực kiểm toán; chức danh “Kế toán viên hành nghề”, được phép hành nghề trong lĩnh vực kế toán.

Hai là: Xác định mục tiêu đào tạo thi cấp chứng chỉ chuyên gia kế toán ở Việt Nam. Việc đào tạo thi cấp chứng chỉ chuyên gia kế toán nhằm mục tiêu chung là nhằm đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng chuyên gia kế toán cho Việt Nam, việc thiết lập mô hình đào tạo phải nhằm đạt các mục tiêu: Đào tạo chuyên gia kế toán có trình độ được công nhận ở mức quốc gia và quốc tế (mục tiêu định tính); đào tạo để khoảng đến năng 2020) có đủ số lượng các chuyên gia kế toán cho nhu cầu phát triển của Việt Nam trong điều kiện hội nhập ku vực và quốc tế (mục tiêu định lượng); Thúc đẩy quá trình hội nhập về kiểm toán và kế toán Việt Nam với thế giới.

Trước hết, cần thiết lập các yếu tố hành chính và pháp lý nhằm có được sự công nhận của Chính phủ về chức danh chuyên gia kế toán và trình độ của những người được cấp bằng chuyên gia kế toán. Cần xây dựng một chương trình đào tạo chuẩn bao gồm nhiều bậc đào tạo, trong đó, xác định lượng kiến thức và kỹ năng cho mỗi bậc đào tạo cũng như số học phần và học trình (số giờ) cho mỗi học phần trong từng cấp độ đào tạo.

Ba là: Xây dựng định hướng đào tạo chuyên gia kế toán ở Việt Nam. Nguyên tức đưa ra cá quy định về đào tạo CGKT: Việc đưa ra các quy định về đào tạo CGKT ở Việt Nam phải trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà các yếu tố: quy định của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), kinh nghiệm đào tạo chuyên gia kế toán được đúc kết từ thực tiễn của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và phải phù hợp vớ đặc thù của Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Việt Nam đặt ra.

Việc xây dựng và thực hiện quy trình đào tạo chuyên gia kế toán ở Việt Nam phải đáp ứng được các mục tiêu về lâu dài đạt tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời, phải có các bước đi phù hợp và thích ứng với khả năng, điều kiện của Việt Nam trong từng thời kỳ.

Các phương án đào tạo chuyên gia kế toán phải tính đến sự thay đổi tương ứng về đào tạo cán bộ kế toán ở bậc đại học, vì đây là nền tảng cơ bản để đào tạo chuyên gia kế toán.

Căn cứ vào chuẩn mực của Liên đoàn Kế toán Quốc tế và dựa vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam, người được cấp chứng chỉ chuyên gia kế toán phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây: Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, chưa hề mắc sai phạm kỷ luật tài chính mà dẫn đến bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; Tốt nghiệp đại học chuyên ngành Tài chính Kế toán hoặc có trình độ tương đương và có trình độ tương đương và có thâm niên nghề nghiệp theo quy định; Phải qua khoá đào tạo bắt buộc theo chương trình đào tạo Chuyên gia Kế toán Việt Nam do Bộ Tài chính quy định (cả đào tạo lý thuyết và thực hành); Trúng tuyển kỳ thi chung khảo quốc gia theo trình độ chuyên gia kế toán Việt Nam do Bộ Tài chính quy định.

Người được công nhận là chuyên gia kế toán có các quyền sau: Được trở thành viên chính thức của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, Hội các CGKT và được hưởng mọi quyền lọi do các hội quy định; Được phép hành nghề tự do trong lĩnh vực kế toán hoặc kiểm toán theo luật pháp quy định; Chức danh chuyên gia kế toán là một tiêu chuẩn quan trọng để xem xét, bổ nhiệm vào các chức vụ trong lĩnh vực quản lý kinh tế - tài chính và kế toán (giám đốc tài chính, kế toán viên cao cấp, kiểm toán viên cao cấp); Có quyền độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ của mình trong hoạt động hành nghề kế toán, kiểm toán.

Người được cấp chứng chỉ chuyên gia kế toán được phép hành nghề ở cả hai lĩnh vực kế toán và kiểm toán.

Bốn mô hình đào tạo chuyên gia kế toán ở Việt Nam:

Trên cơ sở quy định chuẩn của IFAC về thời gian, quy trình, nội dung, chương trình đào tạo CGKT và căn cứ vào kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam về nhu cầu đội ngũ CGKT (trước mắt và lâu dài) cũng như về nội dung, chương trình đào tạo chuyên ngành kế toán - kiểm toán ở các cấp bậc đào tạo của Việt Nam trong thời gian qua, Việt Nam cần thực hiện các mô hình đào tạo CGKT phù hợp với mục tiêu lâu dài và cho giai đoạn trước mắt (từ nay đến 2015). Cụ thể:

Hai mô hình “đào tạo CGKT cho giai đoạn trước mắt”

Mô hình 1: Đào tạo CGKT đặc cách.

Mô hình này nhằm tạo ra thế hệ CGKT đầu tiên cho Việt Nam (tạo đội ngũ giảng viên – máy cái). Đối tượng đào tạo được lựa chọn những người đã hoàn thành khoá đào tạo CGKT do Bộ Tài chính và Dự án EURO – TAPVIET tổ chức năm 1998 để cấp chứng chỉ CGKT đặc cách.

Mô hình 2: Đào tạo ngắn hạn.

Mô hình này nhằm bổ sung đội ngũ các CGKT làm nhiệm vụ đào tạo CGKT. Đối tượng đào tạo là các cán bộ có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán, thâm niên từ 10 năm trở lên, đang là cán bộ giảng dạy trường đại học, kiểm toán viên ở các công ty kiểm toán có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý về chuyên ngành kế toán, kế toán trưởng các Tổng công ty 90,91.

Mô hình đào tạo chuyên gia kế toán trung hạn (Mô hình 3).

Mô hình này thí điểm đào tạo CGKT theo hệ trung hạn trong thời ký quá độ. Đối tượng đào tạo gồm sinh viên vừa tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán - kiểm toán đạt kết quả loại khá, giỏi và các đối tượng như đào tạo ngắn hạn). Thời gian đào tạo trong 1 năm học tập trung và 3 năm thực tập tại công ty kiểm toán. Số lượng đào tạo, mỗi năm khoảng từ 200 – 300 người.

Mô hình đào tạo CGKT dài hạn (Mô hình 4).

Mô hình này sẽ đào tạo đại trà cho nhiều loại đối tượng: tốt nghiệp PTTH và đáp ứng yêu cầu kỳ thi tuyển vào đại học hoặc thi tuyển đào tạo CGKT (đào tạo ở cấp độ 1); đối tượng là nhân viên kế toán có bằng trung cấp kế toán và tốt nghiệp đại học kinh tế không phải chuyên ngành kế toán (đào tạo ở cấp độ 2); đối tượng tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán (đào tạo ở cấp độ 3); đối tượng có bằng tiến sỹ, thạc sỹ chuyên ngành kế toán (được vào dự thi quốc gia để được đi thực tập chuyên môn).

Thời gian đào tạo: 8 năm; trong đó, chia làm 3 cấp độ: Cấp độ 1: 2 năm (đào tạo những kiến thức cơ bản về kinh tế); Cấp độ 2: 2 năm (đào tạo kiến thức cơ bản về chuyên ngành); Cấp độ 3: 1 năm (đào tạo kiến thức cơ bản về chuyên môn). Kết thúc cấp độ 3 phải dự kỳ thi quốc gia để kiểm tra kiến thức trước khi đi thực tập chuyên môn.

Thực tập tại công ty kiểm toán: 3 năm (nâng cao khả năng thực hành).

Công nhận và cấp bằng CGKT: Cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo, cấp chứng chỉ CGKT và quản lý hành nghề đối với các CGKT ở Việt Nam là Bộ Tài Chính./.



(*) Chuyên gia kế toán: là từ do tác giả sử dụng.



Theo TC Kế toán

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét