Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngân hàng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Xem xét thực hiện lãi suất thỏa thuận cho vay ngắn hạn

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 2 tháng đầu năm ư­ớc tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước. (Ảnh: Vnecono.vn).

(ĐTCK-online) Tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ tháng 3 diễn ra chiều 3/3/2010, Chủ tịch Uỷ ban giám sát Tài chính tiền tệ quốc gia Lê Đức Thuý cho biết, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu xem xét để mở rộng đối tượng áp dụng cho vay với lãi suất thỏa thuận. Theo đó, cho vay ngắn hạn cũng có thể được áp dụng cơ chế này nhằm khơi thông dòng chảy trên thị trường tiền tệ.

Ông Thuý cũng cho biết, Chính phủ nhất trí rằng không nên có những biện pháp thắt chặt tiền tệ hơn nữa, chính sách điều hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước cần sớm gỡ bỏ những khó khăn của các ngân hàng hiện nay trong việc huy động vốn và cho vay, phát đi thông điệp điều hành để doanh nghiệp chủ động trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Tại cuộc họp Thường kỳ Chính phủ tháng 3, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu NHNN điều hành thận trọng, linh hoạt lượng tiền cung ứng theo chỉ tiêu được duyệt thông qua công cụ chính sách tiền tệ để điều tiết mức độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng phù hợp với mục tiêu đã xác định, diễn biến lạm phát và tăng trưởng kinh tế, bảo đảm khả năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Chính phủ cũng nhất trí, trong năm 2010 sẽ không tăng giá điện nữa và chỉ tăng giá than bán cho ngành điện một lần duy nhất trong năm. Bộ Tài chính và Bộ Công Thương trao đổi rà soát lại quy chế kinh doanh xăng dầu về thời điểm chỉnh giá sao cho hợp lý nhất, không để tạo ra tâm lý đối với người tiêu dùng về việc tăng giá xăng dồn dập nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo đà phát triển sản xuất, kinh doanh.

Hai tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,6%, nông nghiệp ổn định, thương mại, dịch vụ tăng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 2 tháng đầu năm ư­ớc tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 8.913 triệu USD, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2009. Nhập siêu 2 tháng đầu năm đạt 1.745 triệu USD, bằng 19,6% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 năm 2010 tăng 1,96% so với tháng 1 năm 2010, tăng 3,35% so với tháng 12/2009,

Việc điều chỉnh tỷ giá chính thức VND/USD, tăng giá bán lẻ xăng dầu, tăng giá điện… được nhận định sẽ có những tác động đến chỉ số giá tiêu dùng, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội.


(Theo ĐTCKonline)

Tín dụng bắt đầu tăng trưởng mạnh

picture

Hai tháng đầu năm 2010 lượng tiền gửi của dân cư tại các ngân hàng đã tăng 5,57%.

▪ MINH ĐỨC
00:21 (GMT+7) - Thứ Năm, 4/3/2010

Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng đã ở mức cao nhất trong 3 tháng qua. Xu hướng này dự báo sẽ mạnh lên từ tháng 3

Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng tháng 2 vừa qua tăng 1,14%, cao nhất trong vòng 3 tháng qua. Xu hướng này dự báo sẽ mạnh lên từ tháng 3.

Ngày 3/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tài liệu và những dữ liệu khá chi tiết liên quan đến việc điều chỉnh chính sách tiền tệ, tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại trong hai tháng đầu năm 2010.

Điểm đáng chú ý là thông tin công bố cho thấy tăng trưởng tín dụng trong tháng 2 đã bắt đầu tăng trở lại, đạt 1,14%, trong khi tháng 1 chỉ tăng 0,26%, tháng 12/2009 chỉ tăng 0,72% (trước đó, số liệu Ngân hàng Nhà nước ước tính tăng trưởng tín dụng trong tháng 1/2010 ở khoảng 1%).

Diễn biến tăng trưởng tín dụng những năm gần đây cho thấy, thường hai tháng đầu năm có mức tăng thấp hơn so với các tháng còn lại. Đây cũng là thời điểm chuyển giao các kế hoạch kinh doanh với các chỉ tiêu cho năm mới của ngân hàng và doanh nghiệp, cũng như có ảnh hưởng từ các kỳ nghỉ lễ khá dài.

Trong hai tháng đầu năm nay, tăng trưởng tín dụng tính chung ước tăng 1,4%; hai tháng cùng kỳ năm 2009 cũng chỉ tăng 1,82%; cá biệt trong năm 2006 là mức giảm 1,45%. Trong năm 2009, tăng trưởng tín dụng bắt đầu tăng mạnh từ tháng 3 và duy trì ở mức cao trong quý 2. Năm nay, dự báo đà tăng cũng sẽ bắt đầu mạnh hơn từ tháng 3 này.

Cơ sở cho dự báo trên là thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã được cải thiện. Nếu trước Tết Nguyên đán, vốn khả dụng dư thừa của hệ thống ở khoảng 13.000 tỷ đồng, thì hiện đã có khoảng 30.000 tỷ đồng. Đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước chính thức cho vay trung và dài hạn theo cơ chế thỏa thuận, ngân hàng và doanh nghiệp, người vay vốn có điều kiện thuận lợi hơn để gặp nhau, khơi thông nhanh hơn nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.

Thông tin khác được chú ý trong ngày 3/3 là nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục xem xét để có thể mở rộng cơ chế lãi suất thỏa thuận khi cho vay các khoản ngắn hạn…

Cũng theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng trong hai tháng đầu năm 2010 đã giảm 0,17%. Điều này được nhà điều hành giải thích là có từ sự sụt giảm mạnh của lượng tiền gửi từ các tổ chức kinh tế (giảm 5,94%), do các doanh nghiệp tập trung tăng đầu tư từ đầu năm. Điều này cũng thường thấy ở những tháng đầu năm trước đây. Bù lại, lượng tiền gửi của dân cư trong tháng 1 và 2 vừa qua đã tăng mạnh trở lại (tăng 5,57%).

Một nguồn vốn bổ sung khác cho các tổ chức tín dụng đầu năm đáng kể là từ quyết định giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống còn 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng. Điều chỉnh này đã làm tăng nguồn vốn để cho vay khoảng 500 triệu USD (tương đương với khoảng 9.000 tỷ đồng) cho các tổ chức tín dụng, giúp giảm chi phí huy động vốn khoảng 0,1% và tác động ổn định tỷ giá.

Liên quan đến chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước cho biết, cuối năm 2009 tỷ lệ nợ xấu là 2,03%, đến tháng 2/2010 ở khoảng 2,09%.

Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước xác định sẽ điều hành linh hoạt và theo nguyên tắc thị trường công cụ nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, hoán đổi ngoại tệ, công cụ dự trữ bắt buộc; điều chỉnh linh hoạt và thận trọng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, kết hợp với kiểm soát tín dụng theo mục tiêu.

Năm 2010, Ngân hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng sẽ ở khoảng 25%. Năm 2009 tăng trưởng tín dụng là 37,73%.

(Theo Vneconomy)

7 điều kiện để ngân hàng mở chi nhánh mới

Lễ khai trương một chi nhánh mới của Ngân hàng TiênPhongBank tại Hà Nội.

Ngân hàng Nhà nước vừa có dự thảo thông tư quy định mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại
Ngân hàng Nhà nước vừa có dự thảo thông tư quy định mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại. Bản dự thảo này đưa ra 7 điều kiện để mở chi nhánh mới của các ngân hàng.

Đối tượng áp dụng cụ thể của dự thảo thông tư bao gồm: ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân có liên quan đến thành lập và quản lý mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại.

Theo đó, trong vòng một năm kể từ ngày khai trương hoạt động, ngân hàng thương mại chỉ được mở sở giao dịch, chi nhánh khi đáp ứng đủ 7 điều kiện sau.

Thứ nhất, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo tuân thủ các quy định về an toàn tại thời điểm đề nghị: kinh doanh có lãi trong năm trước liền kề năm đề nghị mở sở giao dịch, chi nhánh; tỷ lệ nợ xấu dưới 3% so với tổng dư nợ; đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng; phân loại nợ, trích lập đủ dự phòng rủi ro theo quy định; có bộ phận kiểm toán nội bộ và hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Thứ hai, có bộ máy quản trị, điều hành hoạt động có hiệu quả: hội đồng quản trị, ban kiểm soát có số lượng thành viên và cơ cấu đảm bảo theo quy định của pháp luật; thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát và người điều hành đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định, không vi phạm nghiêm trọng các quy định có liên quan đến quản trị, kiểm soát, điều hành ngân hàng trong thời gian đương nhiệm.

Thứ ba là có hệ thống công nghệ thông tin theo yêu cầu quản lý của ngân hàng thương mại, đảm bảo trụ sở chính kết nối trực tuyến với sở giao dịch, chi nhánh dự kiến được mở.

Thứ tư, không bị thanh tra Ngân hàng Nhà nước xử phạt hành chính tổng cộng từ 15 triệu đồng trở lên trong thời gian một năm, tính đến thời điểm đề nghị mở sở giao dịch, chi nhánh.

Thứ năm là số chi nhánh ngân hàng thương mại được mở phải đảm bảo theo công thức: 200 tỷ x N1 + 100 tỷ x N2 + C1 + C2 <> (C là vốn điều lệ của ngân hàng thương mại (tính bằng tỷ đồng Việt Nam; N1 là số sở giao dịch, chi nhánh đã mở và đề nghị mở tại thành phố Hà Nội và Tp.HCM; N2 là số sở giao dịch, chi nhánh đã mở và đề nghị mở tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ngoài thành phố Hà Nội và Tp.HCM; C1: khoản vốn góp, mua cổ phần theo quy định hiện hành; C2: số vốn cấp cho đơn vị sự nghiệp).

Thứ sáu, giám đốc sở giao dịch, chi nhánh dự kiến mở đủ điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại Khoản 4 Điều 21 Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại và không kiêm nhiệm chức danh nào khác tại sở giao dịch, chi nhánh ngân hàng thương mại.

Điều kiện cuối cùng là phải có phương án mở sở giao dịch, chi nhánh đảm bảo tối thiểu các nội dung theo quy định tại Điều 8 của dự thảo thông tư này.

Cũng theo dự thảo thông tư, trong thời gian một năm kể từ ngày khai trương hoạt động, ngân hàng thương mại chỉ được mở tối đa 5 sở giao dịch, chi nhánh theo kế hoạch trong đề án thành lập ngân hàng.


(Theo Vneconomy)

Nếu lạm phát không giảm, cần điều chỉnh lãi suất

“Việc điều chỉnh về chính sách lãi suất có thể là cần thiết trong những tháng tới, nếu lạm phát không bắt đầu sụt giảm từ tháng Ba”.

Chưa thể khẳng định chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa VND và USD để thu hút thêm tiền tiết kiệm bằng VND khi lạm phát trong tháng Giêng và tháng Hai của Việt Nam ở mức khá cao.

Đó là nhận định của ông Lawrence Wolfe, một chuyên gia ngân hàng, khi trao đổi với chúng tôi xung quanh chủ đề lãi suất và tỷ giá ở Việt Nam.

Ngân hàng Nhà nước đã quyết định giới hạn lãi suất tiền gửi bằng USD ở mức 1%, ông bình luận gì về động thái này?

Đây là một động thái tốt của Ngân hàng Nhà nước vì bước đi này sẽ giúp tăng khả năng thanh khoản đồng USD, bởi vì việc hạ thấp lãi suất tiền gửi USD khiến các doanh nghiệp và người dân ít có hứng thú với việc gửi đồng tiền này. Đã từng có tình trạng thiếu hụt USD trong lưu thông gây khó khăn cho các nhà nhập khẩu và những người khác trong việc mua USD để thanh toán hàng hóa nhập khẩu.

Điều này xảy ra là do một số doanh nghiệp xuất khẩu và những người khác nắm giữ USD nhưng không chuyển đổi sang VND. Việc hạ thấp lãi suất tiền gửi USD khiến cho việc nắm giữ USD trở nên kém hấp dẫn hơn trong so sánh với VND, khi VND đang có lãi suất tiền gửi ở mức 10,49%/năm.

Tuy nhiên, một điều chưa thể khẳng định chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa hai đồng tiền này đủ để thu hút thêm tiền tiết kiệm bằng VND khi lạm phát trong tháng Giêng và tháng Hai của Việt Nam ở mức khá cao. Việc điều chỉnh về chính sách lãi suất có thể là cần thiết trong những tháng tới, nếu lạm phát không bắt đầu sụt giảm từ tháng Ba.

VND đã giảm giá khoảng 3% so với đồng USD, điều này có tác động như thế nào đến xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước, thưa ông?

Việc điều chỉnh tỷ giá khoảng 3% đồng VND so với đồng USD sẽ hỗ trợ các nhà xuất khẩu đôi chút, bằng cách làm giá các sản phẩm xuất khẩu rẻ hơn khi tính theo giá USD và sẽ ảnh hưởng nhẹ đến các nhà nhập khẩu vì giá thành hàng nhập khẩu sẽ đắt hơn khi tính bằng VND.

Vì vậy, động thái này là tích cực vì sẽ giúp cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam, nhưng tác động cũng chỉ có giới hạn. Bởi vì, nền kinh tế thế giới, đặc biệt nền kinh tế của các quốc gia đã phát triển bị suy thoái trong 2 năm, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa đã thấp hơn trước.

Những nền kinh tế này phải bắt đầu tăng trưởng trở lại trước khi nhu cầu hàng hóa nhập khẩu gia tăng. Một tin tức tốt lành là các nước phát triển hầu như đã bắt đầu tăng trưởng trở lại từ quý 3/2009 và điều đó có nghĩa rằng khối lượng hàng nhập khẩu từ Việt Nam và các nước khác sẽ tăng trong năm 2010, đây là một yếu tố quan trọng giúp cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại của Việt Nam.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng việc tăng tỷ giá USD/VND không thể giải quyết được khó khăn của cán cân thương mại, quan điểm của ông là gì?

Tỷ giá chỉ là một phần, nhưng không nhất thiết là phần lớn. Khối lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam gia tăng cần có sự gia tăng nhu cầu từ các nước nhập khẩu đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam cũng như đưa ra mức giá cao hơn đối với những hàng hóa này.

Giá cả rất nhiều hàng hóa, đặc biệt là nông sản, đã bắt đầu hồi phục trong năm qua và nhiều hàng hóa được dự kiến sẽ có mức giá cao hơn từ thời điểm này. Điều này sẽ hỗ trợ nhiều cho xuất khẩu của Việt Nam trong năm nay.

Tuy nhiên, cũng đừng quên là Việt Nam cũng nhập khẩu rất nhiều hàng hóa, đặc biệt các sản phẩm hóa dầu, thép, nhựa, máy móc và giá của những hàng hóa này cũng gia tăng, nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng thêm. Vì Việt Nam là một nước đang phát triển, đang tăng trưởng tương đối nhanh và nền tảng công nghiệp vẫn còn hạn chế. Rõ ràng, Việt Nam cần phải tiếp tục nhập khẩu thêm hàng hóa để phục vụ cho công nghiệp cũng như các loại nguyên liệu thô để phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế.

Việc cố gắng giới hạn nhập khẩu đối với những hàng hóa công nghiệp cần thiết là phản tác dụng. Vì vậy, Chính phủ cần cố gắng kiểm soát nhập khẩu các hàng hóa phi thiết yếu như các loại xe xa xỉ và các sản phẩm tiêu dùng cao cấp và tiếp tục khuyến khích tiêu dùng các sản phẩm Made in Vietnam. Đây cũng là cách làm dễ hơn vì người tiêu dùng ưa thích hơn cũng như phù hợp với các cam kết WTO của Việt Nam.

Vì vậy, giải quyết vấn đề mất cân đối cán cân thương mại có thể là vấn đề dài hạn, mất nhiều năm để thực hiện được. Điều này cũng cần sự chú ý của Chính phủ để giám sát và kiểm soát thâm hụt thương mại cũng như đảm bảo cho cán cân thương mại vẫn nằm trong một giới hạn hợp lý trong so sánh với xuất khẩu của đất nước.

Việc quản lý và điều chỉnh linh hoạt tỷ giá USD/VND tùy thời điểm sẽ là một công cụ hữu hiệu của cơ quan chức năng và cũng là một phần quan trọng của quá trình làm cân đối cán cân thương mại.

Nguồn: Lê Hường - VnEconomy

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

Nợ xấu ngân hàng sẽ phản ánh chính xác hơn

picture

Hiện nhiều tổ chức tín dụng chưa có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để hỗ trợ việc phân loại nợ và quản lý chất lượng tín dụng.

▪ THÙY DUYÊN
17:57 (GMT+7) - Thứ Ba, 2/3/2010

Đây là một mục đích để Ngân hàng Nhà nước xây dựng văn bản mới quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng

Đây là một mục đích để Ngân hàng Nhà nước xây dựng và chuẩn bị ban hành văn bản mới quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng.

Văn bản mới mà Ngân hàng Nhà nước đang dự thảo được xây dựng dưới hình thức thông tư, nhằm thay thế cho Quyết định 493 và Quyết định 18 hiện đang áp dụng.

Theo ban soạn thảo, sau một thời gian thực hiện, Quyết định 493 và Quyết định 18 đã bộc lộ một số những nhược điểm cơ bản cần được chỉnh sửa. Hai văn bản này chưa phân loại nợ, trích lập dự phòng đầy đủ với các khoản mục Tài sản “Có” có phát sinh rủi ro tín dụng; hầu hết các tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo quy định tại Điều 6 Quyết định 493 đều có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng chưa có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để hỗ trợ việc phân loại nợ và quản lý chất lượng tín dụng. Điều này cho thấy kết quả phân loại nợ chưa phản ánh đúng chất lượng nợ của các tổ chức đó.

Mặt khác, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ quy định tại Quyết định 493 mới chung chung, không cụ thể, do đó các tổ chức tín dụng khi xây dựng gặp nhiều khó khăn; mức độ hoàn thành và chất lượng của hệ thống xếp hạng chưa tốt.

Thời gian qua đã có một số tổ chức tín dụng xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ; có 3 tổ chức đã trình và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho thực hiện phân loại nợ theo quy định tại Điều 7 Quyết định 493. Tuy nhiên, do không có quy định cụ thể đối với hệ thống này nên tổ chức tín dụng nói chung và một số trường hợp đã xây dựng hệ thống này chưa đánh giá và khai thác hết vai trò, lợi ích của việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong việc quản lý chất lượng tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro.

Theo ban soạn thảo, do các tổ chức tín dụng tự xây dựng theo một phương pháp riêng đã tạo nên sự không thống nhất giữa các tổ chức tín dụng trong việc quản lý chất lượng tín dụng, phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro; đồng thời việc quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước đối với việc các tổ chức tín dụng phân loại nợ theo Điều 7 Quyết định 493 gặp nhiều khó khăn, không thống nhất.

Với những hạn chế trên, Ban soạn thảo cho rằng việc ban hành một văn bản mới thay thế Quyết định 492 và Quyết định 18 là cần thiết. Văn bản mới này sẽ thống nhất phương pháp, nội dung quản lý chất lượng tín dụng, phân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong toàn hệ thống tổ chức tín dụng trên cơ sở đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.

Ban soạn thảo khẳng định, thông tư này được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, áp dụng những kinh nghiệm tốt nhất của các nước, phù hợp điều kiện Việt Nam; cũng như phản ánh chính xác hơn chất lượng tín dụng, nợ xấu của từng tổ chức tín dụng và của cả hệ thống tổ chức tín dụng để có chính sách, cơ chế quản lý phù hợp.

Cụ thể, dự thảo thông tư đưa ra quy định thống nhất một phương pháp đánh giá chất lượng tín dụng (trừ các quỹ tín dụng nhân dân) trên cơ sở kết hợp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và đánh giá thực tế tại các thời điểm đánh giá, phân loại.

Thông tư sẽ hướng dẫn cụ thể các bước quy trình đánh giá, xếp hạng khách hàng để thống nhất thực hiện, trong đó quy định một số chỉ tiêu với các trọng số đánh giá cụ thể để phục vụ cho công tác quản lý. Các chỉ tiêu và trọng số đánh giá được xác định dựa trên kết quả thống kê, khảo sát số liệu của một số tổ chức tín dụng đưa vào chạy mô hình toán để xác định.

Trên cơ sở hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, dự thảo đưa ra yêu cầu tổ chức tín dụng xây dựng quy định nội bộ về quản lý chất lượng tín dụng, chính sách tín dụng để quản lý chất lượng tín dụng trong suốt quá trình từ khi thẩm định, xét duyệt, cấp tín dụng đến khâu kiểm tra, kiểm soát trong quá trình giải ngân, sau khi cấp tín dụng cũng như việc quản lý tài sản bảo đảm; chính sách dự phòng rủi ro để quản lý quá trình phân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro và việc phát mại tài sản bảo đảm; việc phân cấp, ủy quyền và xác định quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân có liên quan trong suốt các quá trình này.

Ngoài ra, định hướng xây dựng thông tư trên là đảm bảo ở mức tối đa khách hàng giống nhau phải được quản lý giống nhau, từ thẩm định, xét duyệt, cấp tín dụng, hồ sơ tín dụng đến quy trình đánh giá, xếp hạng, phân loại nợ, trích lập dự phòng, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro; giữa các tổ chức tín dụng đều thống nhất việc đánh giá, xếp hạng, phân loại nợ, trích dự phòng, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.


(Theo Vneconomy)

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

Có nên bỏ lãi suất cơ bản?

Lãi suất cho vay của ngân hàng không quá 150% LSCB. Ảnh: Tiền Phong.
Thời gian qua, cùng với việc gia tăng dư nợ tín dụng, nguy cơ lạm phát có thể phát sinh, vấn đề lãi suất cơ bản lại nóng lên. Có quan điểm cho rằng nên bỏ lãi suất cơ bản. Quan điểm khác lại khẳng định phải giữ.

Dưới đây là ý kiến của một chuyên gia kinh tế về vấn đề này.

Có điều thật kỳ lạ là sau 11 năm Quốc hội ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước (năm 1997), lãi suất cơ bản mới được áp dụng thông qua Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16-5-2008 của Ngân hàng Nhà nước, trong đó đưa ra cách xác định mức trần lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN quy định (nghĩa là với mức lãi suất cơ bản hiện nay đang là 8%/năm, ngân hàng thương mại không được cho vay với mức lãi suất vượt quá 12%/năm).

Thực tế, từ khi ban hành Quyết định số 16 đến nay, việc điều chỉnh tăng hay giảm lãi suất cơ bản đã trở thành trung tâm chú ý của các thành phần kinh tế, là kim chỉ báo cho các hoạt động kinh tế trong giai đoạn tiếp theo.

Thực sự khó giải thích khi lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong một giai đoạn nhất định lại không được thực hiện từ khi Luật Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực.

Khi nói về việc vi phạm pháp luật của dân, chúng ta hay dùng từ “dân trí”. Nếu áp dụng vào trường hợp này, dân trí trong việc hiểu luật và thực hiện đúng và đầy đủ luật của Ngân hàng Nhà nước chưa được ngang tầm với nhiệm vụ được giao.

Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh.

Lãi suất cơ bản ở Việt Nam được hình thành từ Luật ngân hàng Nhà nước (điều 9, điều 18), Bộ luật Dân sự (điều 476). Lãi suất cơ bản là cơ sở, là mức lãi suất tham chiếu trong mối quan hệ đi vay và cho vay của các ngân hàng thương mại.

Chính vì lẽ đó, khi nói đến sự tăng hay giảm lãi suất cơ bản, mọi người đều có sự quan tâm rất lớn và phỏng đoán tác động của việc điều chỉnh lãi suất cơ bản đối với quá trình lưu thông tiền tệ và trong sản xuất - kinh doanh của các thành phần kinh tế.

Trong khi đó, sau gần 2 năm thực hiện, trong khi trình Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi), Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra đề nghị gây sốc, loại bỏ lãi suất cơ bản, cho vay theo lãi suất thỏa thuận

Thời gian qua, cùng với Ngân hàng Nhà nước, một số chuyên gia cũng lập luận cần loại bỏ lãi suất cơ bản. Có thể họ cho rằng lãi suất cơ bản là tác nhân chính trong việc căng thẳng tín dụng thời gian qua.

Họ muốn lãi suất chỉ tuân theo qui luật cung - cầu và “bàn tay vô hình” (một học thuyết kinh tế)…Thực tế những lý luận trên đã thực sự đúng hay chưa? Nhiều hay ít nước không quan trọng.

Nếu Ngân hàng Nhà nước cho rằng trên thế giới chỉ còn 2 nước sử dụng lãi suất cơ bản để đề nghị xoá bỏ thì không có tính khoa học và thực tiễn.

Năm 1999, Việt Nam tiến hành thực hiện thuế giá trị gia tăng (VAT). Khi triển khai cũng có nhiều ý kiến cho rằng nhiều nước đã loại bỏ loại thuế này.

Thực tế, sau 10 năm thực hiện, về cơ bản loại thuế này phù hợp với nền kinh tế Việt Nam. Do vậy lý do nhiều nước sử dụng hay ít nước sử dụng không quan trọng.

Nếu lãi suất cơ bản = 0, lãi suất cơ bản không còn là cơ sở để Luật Dân sự và Luật Hình sự tham chiếu: Điều này hoàn toàn đúng trên lý thuyết. Khi lãi suất cơ bản = 0, sẽ không có cơ sở để xác định mức lãi suất đi vay và cho vay của các ngân hàng và tổ chức tín dụng.

Không có cơ sở xác định vượt mức 150% lãi suất cơ bản là bao nhiêu, Việt Nam đang cần, rất cần thu hút đầu tư từ các nguồn, với tình hình tài chính - tiền tệ Việt Nam (lãi suất còn cao hơn nhiều nước, thiếu vốn). Vì thế, không thể có khả năng lãi suất cơ bản = 0, kể cả trong tương lai dài.

Lãi suất cơ bản nếu tồn tại chỉ áp dụng trong hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Ở đây có hai vấn đề cần giải thích rõ, Thứ nhất, việc ban hành và thực hiện lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước đã được qui định tại Luật Ngân hàng Nhà nước và Bộ luật Dân sự (được luật hóa).

Trong mối tương quan giữa hai luật với nhau, Luật Ngân hàng Nhà nước là luật chuyên ngành, còn Bộ luật Dân sự điều chỉnh hầu hết các mối quan hệ xã hội.

Do vậy, việc thực hiện Luật Ngân hàng Nhà nước cần phải phù hợp với Bộ luật Dân sự.

Thứ hai: Ngân hàng Nhà nước còn là thành viên Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước còn là tư lệnh của Chính phủ trên “mặt trận” tiền tệ.

Do vậy, lãi suất cơ bản khi được Ngân hàng Nhà nước ban hành, có hiệu lực không chỉ với ngân hàng và tổ chức tín dụng, mà còn có hiệu lực với các thể nhân và pháp nhân tham gia hoạt động đi vay hoặc cho vay.

Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, có sự điều tiết của Nhà nước (có thể gọi đó là nền kinh tế hỗn hợp).

Việc Nhà nước tham gia điều tiết thị trường tiền tệ là bình thường. Ngoài ra, là qui định hành chính, khi cần thiết, lãi suất cơ bản được ban hành (hoặc điều chỉnh) tại thời điểm nhất định nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô...

Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn và chứa đựng nguy cơ xấu (thâm hụt ngân sách, nguy cơ lạm phát…), sự can thiệp của Nhà nước vào hệ thống tài chính - tiền tệ vẫn thực sự cần thiết và không thể thay thế.

Với ý nghĩa đó, lãi suất cơ bản vẫn là yếu tố cần thiết như qui định trong luật Ngân hàng Nhà nước, không nên loại bỏ. Những ý kiến đòi loại bỏ lãi suất cơ bản trong hoạt động tài chính - tiền tệ phải chăng còn nóng vội, chưa hiểu hết những khó khăn của kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

(Theo Tiền Phong)

Ngân hàng dư thừa 30.000 tỷ đồng vốn khả dụng

Sau Tết Nguyên đán, nguồn tiền gửi đã dần trở lại ngân hàng - Ảnh: Quang Liên.

Đây là thông tin từ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu khi nói về tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng
Đây là thông tin từ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu khi nói về tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng hiện nay.

Nguồn tin Cổng Thông tin điện tử Chính phủ dẫn lời Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết, “vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại trước Tết dư thừa khoảng 13.000 tỷ đồng và hiện nay khoảng 30.000 tỷ đồng”.

Cùng với con số trên, Thống đốc khẳng định các ngân hàng thương mại hiện nay đảm bảo khả năng thanh toán, cũng như đảm bảo khả năng mở rộng cho vay hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh…

Người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết, sau Tết Nguyên đán, lượng tiền gửi của dân cư vào hệ thống ngân hàng đã tăng lên, trong khi lượng vốn đáo hạn, rút khỏi hệ thống đã giảm bớt.

Trước Tết, nhiều ngân hàng thương mại gặp khó khăn trong thanh khoản do tính thời vụ; Ngân hàng Nhà nước đã tăng lượng tiền cung ứng để hỗ trợ.

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho biết, để đảm bảo ổn định thị trường và hoạt động của hệ thống trong thời gian trên, cơ quan này đã tăng cường hỗ trợ vốn cho các tổ chức tín dụng thông qua nghiệp vụ thị trường mở với 2 phiên giao dịch/ngày, kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày bắt đầu từ ngày 23/12/2009; thực hiện tái cấp vốn và nghiệp vụ Swap với khối lượng lớn và kỳ hạn hợp lý cho các tổ chức tín dụng để đảm bảo thanh khoản; bổ sung giấy tờ có giá được phép tham gia giao dịch nghiệp vụ thị trường mở và tái cấp vốn. Tính đến ngày 12/2/2010, lượng tiền cung ứng thực tế tiếp tục tăng ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây.

Và với diễn biến thuận lợi hơn về nguồn tiền gửi và tình hình vốn khả dụng, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết, sau Tết Nguyên đán, số tiền cung ứng hỗ trợ nói trên (34.000 tỷ đồng) đã được thu về.

Ở một diễn biến khác, tại một số ngân hàng thương mại lớn, sau kỳ nghỉ Tết, lãi suất huy động VND cũng đã có xu hướng giảm. Ở nhiều kỳ hạn lãi suất huy động chỉ còn trên dưới 10%/năm, không còn đẩy cao đồng loạt ở mức 10,49% như trước đó.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất bình quân nhiều kỳ hạn cũng tiếp tục có xu hướng giảm; doanh số giao dịch bằng VND giảm mạnh so với tuần trước Tết.


(Theo Vneconomy)

Doanh số giao dịch liên ngân hàng giảm mạnh

picture

Tính đến ngày 12/2/2010, lượng tiền cung ứng từ hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước thực tế tiếp tục tăng ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây.

Doanh số giao dịch VND và USD trên thị trường liên ngân hàng tuần từ 19 – 26/2 giảm mạnh, lãi suất không nhiều biến động

Doanh số giao dịch VND và USD trên thị trường liên ngân hàng tuần từ 19 – 26/2 giảm mạnh. Lãi suất trên thị trường này không nhiều biến động.

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho biết, tuần qua, tổng doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đạt xấp xỉ 66.678 tỷ VND và 2.261 triệu USD, bình quân đạt khoảng 13.335 tỷ VND/ngày và 452 triệu USD/ngày. So với tuần liền trước, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tuần này giảm tới 22.088 tỷ VND và 496 triệu USD. Những tuần trước đó, riêng giao dịch bằng VND luôn duy trì trên mức 85.000 tỷ đồng.

Doanh số giao dịch qua đêm bằng VND đạt 25.130 tỷ, giảm 19.203 tỷ so với tuần trước và chiếm tỷ trọng 38% so với tổng doanh số giao dịch cả tuần.

So với mặt bằng lãi suất bình quân tuần trước đó, tuần qua lãi suất giao dịch bình quân bằng VND trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm nhẹ đối với hầu hết các kỳ hạn với mức giảm từ 0,08% - 0,56%/năm. Riêng lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm không đổi; lãi suất kỳ hạn 6 tháng và lãi suất không kỳ hạn lần lượt tăng 0,08% và 0,15%/năm so với lãi suất bình quân tuần trước.

Lãi suất kỳ hạn qua đêm dao động từ 8,94% - 12%/năm, bình quân ở mức 11,08%/năm; lãi suất bình quân các kỳ hạn từ 1 tuần trở lên đều trên 11,15%/năm. Lãi suất kỳ hạn 3 tháng đạt cao nhất ở mức 11,84%/năm, tuy nhiên doanh số phát sinh đối với kỳ hạn này chỉ chiếm khoảng 5% so với tổng doanh số cả tuần.

Trong tuần, lãi suất cho vay cao nhất là 12%/năm, lãi suất cho vay thấp nhất là 4,4%/năm (không tính lãi suất không kỳ hạn).

Đối với các giao dịch bằng USD, chủ yếu phát sinh đối với các kỳ hạn ngắn (dưới 6 tháng), lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm và 1 tháng tăng nhẹ, lãi suất kỳ hạn 1 tuần không đổi và lãi suất kỳ hạn 2 tuần và 3 tháng giảm nhẹ so với lãi suất bình quân tuần trước. Lãi suất bình quân cao nhất là 1,44%/năm đối với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động từ 0,56% đến 1,28%/năm, không phát sinh giao dịch kỳ hạn 6 tháng.

Ở một báo cáo khác, Ngân hàng Nhà nước cho biết, thời gian qua cơ quan này đã tăng cường hỗ trợ vốn cho các tổ chức tín dụng thông qua các biện pháp: tăng cường nghiệp vụ thị trường mở với 2 phiên giao dịch/ngày, kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày bắt đầu từ ngày 23/12/2009; thực hiện tái cấp vốn và nghiệp vụ Swap với khối lượng lớn và kỳ hạn hợp lý cho các tổ chức tín dụng để đảm bảo thanh khoản; bổ sung giấy tờ có giá được phép tham gia giao dịch nghiệp vụ thị trường mở và tái cấp vốn. Tính đến ngày 12/2/2010, lượng tiền cung ứng thực tế tiếp tục tăng ở mức cao so với cùng kỳ các năm gần đây, tuy nhiên con số cụ thể không được công bố.

Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết, trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua, hầu hết các ngân hàng thương mại đều đảm bảo khả năng thanh toán và đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhu cầu thanh toán, chi trả của khách hàng.

Theo Vneconomy

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

Điều chỉnh tỷ giá đã làm giảm nhập siêu

Kim ngạch nhập khẩu hai tháng đầu năm nay đã giảm mạnh so với cuối năm 2009.

Nhập siêu đã giảm mạnh từ 2 tỷ USD xuống dưới 1 tỷ USD/tháng, nhưng khó tiếp diễn xu hướng
Sau khi xác lập mức báo động, lên tới xấp xỉ 2 tỷ USD trong cả hai tháng 11 và tháng 12/2009, nhập siêu đã giảm chỉ còn dưới 1 tỷ USD ngay trong tháng đầu năm 2010.

Có những bất thường nào, đâu là nguyên nhân, và diễn biến sắp tới ra sao là nội dung VnEconomy trao đổi với bà Lê Thị Minh Thủy, Phó vụ trưởng Vụ Thống kê thương mại - dịch vụ và giá cả (Tổng cục Thống kê) về tình hình nhập siêu.

Tăng, giảm khó lường

Con số thống kê cho thấy, nhập khẩu tháng 12/2009 tăng vọt lên gần 7,4 tỷ USD, từ mức trên 6,6 tỷ USD tháng trước đó. Theo bà, có những nguyên nhân gì?

Hàng hóa nhập khẩu trong tháng 12/2009 tăng rất cao, vượt xa dự đoán của chúng tôi, đặc biệt trong những ngày cuối tháng. Một số hàng máy móc thiết bị và nguyên liệu chủ yếu tăng mạnh.

Trong các tháng cuối năm 2009, lượng hàng tiêu dùng phục vụ Tết cũng đã tăng khá cao, bình quân khoảng 400 - 500 triệu USD/tháng, bao gồm các hàng rau quả, thực phẩm, bánh kẹo, quần áo, giày dép, mỹ phẩm, đồ điện gia dụng...

Nhưng đến đầu năm 2010, nhập khẩu bỗng dưng giảm mạnh so với tháng trước đó?

Tháng 1 vừa rồi, chúng tôi ước tính con số nhập khẩu giảm nhiều, nhưng thực tế còn giảm hơn cả mức dự tính.

Tháng 12/2009, nhập khẩu đang suýt soát 7,4 tỷ USD, đến tháng 1/2010 chúng tôi dự kiến nhập khẩu 6,2 tỷ, nhưng thực hiện chỉ xấp xỉ 6 tỷ .

Nguyên nhân vì một phần nguyên liệu nhập khẩu đầu vào chững lại và nhóm hàng tiêu dùng cũng vậy, không nhập nhiều như tháng 12/2009, do tháng 2 là tháng nghỉ tết nhiều ngày. Ôtô, xe máy cũng giảm mạnh so với các tháng trước.

Ở đây cũng có tính quy luật, thường tháng cuối năm nhập khẩu tăng mạnh.

Ngược lại, xuất khẩu hai tháng đầu năm 2010 dự kiến sẽ không có sự thay đổi lớn so với cùng kỳ năm 2009. Có thể cho rằng tình hình xuất khẩu chưa mấy khả quan?

So với hai tháng năm ngoái, năm nay tình hình xuất khẩu nhiều mặt hàng tương đối tốt, đặc biệt là nhóm hàng công nghiệp nhẹ. Tuy nhiên lượng xuất khẩu nhóm hàng nông sản nhìn chung lại giảm.

Cần lưu ý là năm ngoái, hai tháng đầu năm tái xuất vàng đạt 1,4 tỷ USD. Vì vậy nếu chỉ tính kim ngạch các mặt hàng sản xuất trong nước thì ước tính xuất khẩu 2 tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ.

Một lý do nữa là hai tháng đầu năm ngoái rơi vào đỉnh điểm của suy thoái kinh tế thế giới, trong khi hai tháng đầu năm nay lại rơi vào giai đoạn kinh tế phục hồi. Đơn giá xuất khẩu nhiều mặt hàng cũng tăng nhiều so với năm ngoái.

Tác động từ điều chỉnh tỷ giá

Trong vài tháng gần đây, nhập siêu có dấu hiệu giảm nhiệt, từ mức trên 2 tỷ USD xuống dưới 1 tỷ USD. Theo bà nguyên nhân chính là gì?

Một nguyên nhân nhìn thấy tương đối rõ là tỷ giá VND/USD đã được điều chỉnh hai lần trong thời gian gần đây, lên mức giá trần 19.100 đồng/USD vào ngày 11/2.

Với mức tỷ giá cao hơn, các nhà nhập khẩu sẽ phải tính toán kỹ hiệu quả. Vì với mức tỷ giá cao như hiện nay, hàng nhập về bán cũng khó hơn.

Năm vừa rồi, thủ tục vay nhập khẩu cũng thắt chặt hơn, giá nguyên liệu nhập khẩu đầu vào đang tăng liên tục thời gian gần đây, đặc biệt là những hàng hóa liên quan đến gốc dầu mỏ và kim loại.

Thêm nữa, chính sách kiểm soát đối với nhập khẩu cũng được chú trọng để tránh nhập khẩu những mặt hàng trong nước đã sản xuất được với chất lượng tốt. Bởi vì, nếu cứ để nhập khẩu lớn và nhập siêu cao như thế thì cán cân thanh toán sẽ rất khó cân đối.

Vậy, phía xuất khẩu có hỗ trợ gì cho việc giảm nhập siêu trong thời gian này?

Về phía xuất khẩu, tỷ giá tăng và đồng USD có giá trị hơn như thế này sẽ khuyến khích cho xuất khẩu. Hơn nữa, hỗ trợ cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp xuất khẩu cũng tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu. Tăng mạnh xuất khẩu hơn nhập khẩu là biện pháp tối ưu để giảm nhập siêu

Nhưng một số hàng xuất khẩu chủ lực như dầu thô, than đá, gạo... cũng giảm về lượng so với cùng kỳ?

Việc giảm xuất khẩu dầu thô và than đá là do chủ trương lâu dài của Chính phủ. Với dầu thô, lượng khai thác lên thông thương hiện nay dành gần 50% cho hóa lọc dầu trong nước. Còn với than, hiện chúng ta còn đang phải tính phương án nhập cho nên xuất khẩu cũng cần hạn chế dần.

Gạo cũng giảm đi do chưa ký được hợp đồng mới, nhưng tháng 3 hy vọng sẽ tăng hơn. Ngoài ra, dệt may, thủy sản... kim ngạch xuất khẩu tương đối được.

Xu hướng giảm nhập siêu khó tiếp diễn

Theo bà, xu hướng giảm nhập siêu còn “dư địa” tiếp tục trong thời gian tới?

Thời gian gần đây, tình hình thế giới rất khó lường. Hiện tại, châu Âu đang gặp một số khó khăn, đặc biệt với các nền kinh tế như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Đức... Có ý kiến còn đề cập khả năng khủng hoảng quay trở lại, các chính phủ bơm tiền ra nền kinh tế và tỷ lệ thu hồi thấp, nợ công tăng lên…

Nếu khủng hoảng bùng phát trở lại với các bạn hàng thương mại lớn của Việt Nam thì xuất khẩu của ta sẽ khó khăn hơn.

Với Hoa Kỳ, dù đồng USD có mạnh lên trong thời gian gần đây nhưng nền kinh tế này tình hình vẫn chưa sáng sủa nhiều, trong khi nhập khẩu của thị trường này sẽ ảnh hưởng mạnh đến xuất khẩu của Việt Nam.

Về phía Nhật Bản, nhóm hàng công nghiệp chúng ta gia công nhiều cho họ. Chẳng hạn như dây cáp điện xuất khẩu sang Nhật Bản hiện nay chưa có ảnh hưởng gì, nhưng nếu các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản gặp khó khăn thì nhập khẩu của họ sẽ đình trệ. Đó cũng là khó khăn cho xuất khẩu của Việt Nam.

Để kiềm chế nhập siêu, các chính sách như điều chỉnh tỷ giá, cho vay ngoại tệ doanh nghiệp xuất khẩu… chắc chắn có tác dụng. Nhưng, kiềm chế nhập siêu bằng tăng xuất khẩu thì phụ thuộc nhiều vào tình hình thế giới.

Tuy nhiên thực tế năm qua cho thấy rõ sự năng động, linh hoạt của các doanh nghiệp Việt Nam trong những thời điểm khó khăn

Giai đoạn vừa qua, nhập siêu thể hiện tính chu kỳ, liên quan đến Tết Nguyên đán. Có thể cho rằng khi nền kinh tế hoạt động bình thường trở lại, xu hướng giảm nhập siêu sẽ khó duy trì?

Giảm nhập siêu là mục tiêu phấn đấu của chúng ta, đặc biệt trong trung hạn và dài hạn. Tuy nhiên, sản xuất của ta vẫn đang phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu và hàng trong nước cũng chưa thể thay thế ngay được nguyên liệu nhập khẩu đầu vào.

Sản xuất tăng trở lại, xuất khẩu tăng thì cả hai đều sẽ dẫn tới nhập khẩu tăng.


Theo Vneconomy

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Chính thức cho vay trung, dài hạn theo lãi suất thỏa thuận

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (26/2/2010) - Ảnh: Reuters.

Ngân hàng Nhà nước đã chính thức mở cơ chế thỏa thuận lãi suất đối với các khoản vay trung, dài hạn
Ngân hàng Nhà nước đã chính thức mở cơ chế thỏa thuận lãi suất đối với các khoản vay trung, dài hạn.

Chiều nay (26/2), Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 07/2010/TT-NHNN, chính thức quy định về cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

Theo Ngân hàng Nhà nước, việc ban hành văn bản trên, cũng như đưa ra cơ chế lãi suất cho vay mới được căn cứ theo Nghị quyết số 23/2008/NQ-QH12 ngày 6/11/2008 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 627/VPCP-KTTH ngày 23/1/2009 của Văn phòng Chính phủ về việc áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận của các tổ chức tín dụng.

Theo thông tư vừa ban hành, các tổ chức tín dụng được cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng phù hợp với quy định của pháp luật về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường, mức độ tín nhiệm của khách hàng vay.

Việc cho vay nói trên bao gồm cho vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển; cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân, hộ gia đình của khách hàng vay, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Nhóm đối tượng cho vay cá nhân bao gồm: cho vay để sửa chữa nhà và mua nhà để ở mà nguồn trả nợ bằng tiền lương của khách hàng vay; cho vay để mua phương tiện đi lại; cho vay để chi phí học tập và chữa bệnh; cho vay để mua đồ dùng và thiết bị gia đình; cho vay để chi cho hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch; cho vay theo phương thức thấu chi tài khoản cá nhân; cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Theo Thông tư, các tổ chức tín dụng sẽ xác định và kiểm soát các giới hạn tín dụng đối với một khách hàng và lĩnh vực cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật và các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (26/2/2010).

Các quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành, gồm: Thông tư số 01/2009/TT-NHNN ngày 23/1/2009 hướng dẫn về lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và các văn bản hướng dẫn thực hiện thông tư này; quy định về lãi suất đối với các khoản vay trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển theo Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng VND.


Theo Vneconomy

Tháo vòng kiềm tỏa lãi suất

Với Thông tư số 07/2010 Ngân hàng Nhà nước ban hành chiều nay, ngân hàng và khách hàng được quyền thỏa thuận lãi suất cho vay tiền đồng theo cung cầu thị trường, thay vì bị khống chế bởi mức trần như trước đây.

Theo thông tư này, ngân hàng được phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận với các khách hàng vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển. Cơ chế này cũng áp dụng với các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để trực tiếp phục vụ đời sống của cá nhân và hộ gia đình của khách hàng vay; các hoạt động cho vay tiêu dùng thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Ngân hàng có trách nhiệm xác định và kiểm soát giới hạn tín dụng với khách hàng và lĩnh vực cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận phù hợp với quy định. Bên cạnh đó, định kỳ hằng tháng, ngân hàng báo cáo Ngân hàng Nhà nước về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận.

Thông tư 07 có hiệu lực từ ngày ký, đồng nghĩa với việc các quy định về lãi suất cho vay hiện hành của Ngân hàng Nhà nước hết hiệu lực. Đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày thông tư này có hiệu lực thi hành thì ngân hàng và khách hàng vay tiếp tục thực hiện theo các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hoặc hai bên thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng phù hợp với quy định.

Thông tư mới sẽ giúp ngân hàng chủ động hơn trong việc ấn định lãi suất kinh doanh, song cũng làm dấy lên mối lo cho vay nặng lãi nếu không kiểm soát tốt. Ảnh: Hoàng Hà
Thông tư mới sẽ giúp ngân hàng chủ động hơn trong việc ấn định lãi suất kinh doanh, song cũng làm dấy lên mối lo cho vay nặng lãi nếu không kiểm soát tốt. Ảnh: Hoàng Hà

Trước đây, ngân hàng chỉ được phép áp dụng lãi suất thỏa thuận với các khoản vay tiêu dùng. Trường hợp khách hàng vay trung, dài hạn để đầu tư sản xuất kinh doanh, ngân hàng phải áp lãi suất không quá 150% so với lãi suất cơ bản (hiện là 8% một năm). Tuy nhiên, trên thực tế do thiếu vốn và phải huy động với chi phí cao, các ngân hàng đều tìm cách lách luật, cộng thêm phí, đẩy lãi suất doanh nghiệp thực trả cao hơn nhiều so với trần 12% một năm.

Ông Cao Sĩ Kiêm, nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho rằng quyết định cho phép áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận là điều được lường trước và là giải pháp hợp lý để giải quyết tình trạng "tù mù" về lãi suất hiện nay. "Khi chưa cho họ thỏa thuận, họ tự áp lãi suất cao mà mình cũng không kiểm soát được. Quyết định này sẽ giúp hình thành mặt bằng lãi suất sát với cung cầu về vốn", ông nói thêm.

Với tư cách Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, ông Kiêm thừa nhận quyết định mới bước đầu sẽ gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp bởi chi phí vốn sẽ tăng lên và cũng ít nhiều kích thích lạm phát. Tuy nhiên, theo ông doanh nghiệp cũng cần vì lợi ích chung, thỏa thuận lãi suất sẽ giúp khai thông tình trạng trì trệ trên thị trường vốn hiện nay. Hơn nữa, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải có những giải pháp điều chỉnh hợp lý để chống tình trạng cho vay nặng lãi.

"Cho áp dụng cơ chế thỏa thuận mới là định hướng, Ngân hàng Nhà nước có lẽ sẽ có van khống chế. Nhưng cứ để các ngân hàng triển khai đã và để hình thành mặt bằng lãi suất cho đúng với cung cầu thị trường, khi đó cơ quan quản lý sẽ biết cần khống chế cái gì, điều chỉnh cái gì. Chứ không nên áp ngay barrier", ông Kiêm nói thêm.


Theo Vnexpress

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Hạ lãi suất, không huy động bằng mọi giá

Dù chưa thể hiện ở xu hướng chung rõ rệt nhưng lãi suất huy động giảm một phần phản ánh khó khăn thanh khoản ngân hàng đang dần được tháo gỡ.
Một số ngân hàng bắt đầu hạ lãi suất huy động, chỉ áp khá “mềm” trong khi nhiều thành viên khác vẫn duy trì đồng loạt ở mức tối đa. Họ không huy động bằng mọi giá?

Ngày 25/2, Ngân hàng Nhà nước chính thức quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 8%/năm. Khi cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn đang chờ đợi quyết định cuối cùng, trước mắt, lãi suất huy động và cho vay VND sẽ không có nhiều biến động. Nhưng hiện đã có những chuyển động đáng chú ý.

Khác biệt lãi suất

Từ ngày 22 - 25/2, một số ngân hàng thương mại áp dụng biểu lãi suất mới. Một điểm đã quen thuộc kể từ tháng 12/2009 đến nay (thời điểm lãi suất cơ bản tăng từ 7% lên 8%), nhiều ngân hàng bất kể lớn nhỏ đều đồng loạt nâng lãi suất huy động VND lên sát mức tối đa 10,5%/năm theo “giới hạn” định hướng của Ngân hàng Nhà nước.

Theo biểu áp dụng từ ngày 22/2 của Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), lãi suất huy động các kỳ hạn từ 1 – 60 tháng đều thống nhất ở mức 10,49%/năm. Theo biểu áp dụng từ ngày 25/2 của Sài Gòn Công thương Ngân hàng (Saigonbank), mức 10,49%/năm cũng được rải đều từ 1 – 24 tháng. Sự “thẳng tuột” của “đường cong lãi suất” cũng có ở nhiều ngân hàng khác, tập trung ở khối cổ phần.

Nhưng trong hệ thống, ngay trong khối ngân hàng thương mại cổ phần, chính sách lãi suất huy động cũng có những khác biệt.

Điểm chú ý trong ngày 25/2 có từ biểu lãi suất huy động VND của Ngân hàng Á châu (ACB). Lãi suất tiết kiệm thông thường có kỳ hạn của ngân hàng này đồng loạt ở dưới mốc 10,49%/năm; cao nhất chỉ ở 10,379%/năm ở kỳ hạn 1, 3 và 6 tháng, còn lại chỉ từ 10,22% - 10,37%/năm.

Tại Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), biểu lãi suất huy động áp dụng từ hôm nay cũng có những điều chỉnh đáng chú ý. Mức tối đa 10,49%/năm ở một số kỳ hạn ngắn trước đó cũng được giảm nhẹ xuống còn 10,44%; các kỳ hạn từ 6 – 36 tháng chỉ còn từ 10,2% - 10,32%/năm.

Tại Ngân hàng Xuất nhập khẩu (Eximbank), ngoài các kỳ hạn ngắn, lãi suất ở hầu hết các kỳ hạn cũng chỉ áp ở mức “mềm” so với mốc 10,49%. Tại những thành viên khác như Ngân hàng Đông Á (DongA Bank), hay một số thành viên quốc doanh, lãi suất cũng chỉ giao động quanh 10%, thiếu vắng những con số 10,4%, 10,49% hay 10,499%...

Cá biệt, tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại Tín (TRUSTBank), lãi suất tất cả các kỳ hạn từ 1 tuần đến 36 tháng đều nằm dưới mốc 10%/năm; cao nhất chỉ 9,89%/năm.

“Không huy động vốn bằng mọi giá”

Giải thích với VnEconomy về biểu lãi suất huy động hiện hành, ông Trần Sơn Nam, Tổng giám đốc TRUSTBank, cho biết việc xác định các mức cụ thể được căn cứ trên tình hình huy động vốn, cung – cầu vốn của ngân hàng hiện nay và định hướng trong thời gian tới.

Tuy nhiên, TRUSTBank hiện cũng đang xem xét có thể điều chỉnh biểu lãi suất trong những ngày tới để tiếp cận với mặt bằng chung của thị trường. “Chúng tôi sẽ đánh giá lại thực tế huy động của các chi nhánh, căn cứ vào tình hình thị trường và mặt bằng chung để điều chỉnh. Có thể sẽ tăng lãi suất lên nhưng là để thêm cạnh tranh, thêm quyền lợi cho người gửi tiền chứ không phải là huy động bằng mọi giá”, ông Nam cho biết.

Trao đổi với VnEconomy, tổng giám đốc một ngân hàng thương mại cổ phần lớn giải thích rằng việc chỉ áp lãi suất cao ở một số kỳ hạn ngắn là nhằm tập trung nhu cầu vốn ngắn hạn trước mắt, cũng như thực tế nguồn tiền gửi hiện nay phần lớn chỉ gửi ngắn hạn. Còn ở các kỳ hạn dài, ngân hàng áp mức vừa phải cũng là để dè chừng với rủi ro gánh nặng trả nợ trong tương lai, cũng như chờ đợi động thái của thị trường.

Trong năm 2008, hầu hết các ngân hàng thương mại đều phải trả lãi suất huy động VND trên 18%/năm ở hầu hết các kỳ hạn. Nhiều thành phiên đã phải mất gần cả năm 2009 để giảm bớt gánh nặng chi phí lãi suất cao này.

Lãnh đạo ngân hàng trên cũng cho rằng, lãi suất là một công cụ cạnh tranh huy động vốn, nhưng bên cạnh đó còn có các yếu tố tác động đến nguồn tiền gửi như uy tín và thương hiệu ngân hàng, chất lượng dịch vụ, mạng lưới chi nhánh… Và bản thân các nhà băng khi dựng biểu lãi suất cũng căn cứ thực tế tình hình năng lực huy động, cung – cầu vốn của mình chứ không hẳn đồng loạt đẩy cao để gọi vốn bằng mọi giá.

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng, về hình thức, lãi suất huy động có thể chỉ trên dưới 10%/năm, nhưng thực tế trên thị trường hiện nay, không chỉ ở hoạt động cho vay, ngay ở huy động cũng có những biến tướng trong thỏa thuận lãi suất với người gửi tiền. Điều đó không phản ánh ở các bảng niêm yết.

Nhưng, với những chuyển động mới nói trên, có thể lạc quan khi lãi suất huy động giảm (dù chưa định hình xu hướng chung rõ ràng) phản ánh cầu vốn tại nhiều ngân hàng không còn quá căng thẳng như thời điểm trước Tết Nguyên đán. Điều này phù hợp với dự báo trước đó, rằng sau kỳ tập trung đáo hạn cuối năm, nguồn vốn sẽ dần trở lại ngân hàng.

(Theo VnEconomy)

FED tiếp tục duy trì mức lãi suất thấp kỷ lục

Ngày 24/2, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cam kết sẽ giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục từ 0% đến 0,25% ít nhất trong vòng vài tháng nữa, vì theo FED, sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ chưa thật sự bền vững.
Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Ben Bernanke

Theo Chủ tịch FED Ben Bernanke, lạm phát của Mỹ vẫn cần phải được kiểm soát thêm một thời gian nữa khi giá dầu tương đối ổn định và giá nhà ở tăng nhẹ. Ông Bernanke kêu gọi Quốc hội Mỹ cho phép FED tiếp tục có quyền giám sát các ngân hàng lớn nhất của liên bang vì ngân hàng dự trữ liên bang vẫn cam kết làm tất cả những gì có thể để đảm bảo rằng nền kinh tế quốc gia không bị phá hủy một lần nữa bởi một cuộc suy sụp về tài chính.

Cam kết của chủ tịch FED là sẽgiữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục từ 0% đến 0,25% ít nhất trong vòng vài tháng nữa. Và FED sẽ thoát ra khỏi chính sách tiền tệ cực thấp của mình khi thấy rõ sự hồi phục kinh tế bền vững dù các ngân hàng nắm giữ những khoản tiền dự trữ khổng lồ.


Theo DDDN

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010

Lãi suất VND tiếp tục được duy trì ở mức 8%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ký Quyết định số 353/QĐ-NHNN ngày 25/2/2010 tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam so với tháng trước.

Lãi suất ngân hàng tiếp tục được giữ ổn định ở mức 8%/năm

Theo đó, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam vẫn duy trì là 8%/năm và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2010. Quyết định này thay thế Quyết định số 134/QĐ-NHNN ngày 25/1/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam.

Như vậy, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam được duy trì ổn định ở mức 8%/năm trong 4 tháng liên tiếp (bắt đầu từ tháng 12/2009).

Theo DDDN

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2010

Công bố top 10 thương hiệu ngân hàng dẫn đầu thế giới năm 2009

Tạp chí nghiên cứu, phân tích về giá trị tài chính của các thương hiệu ngân hàng Brand Finance Global Banking 500 vừa công bố Top 10 thương hiệu ngân hàng dẫn đầu thế giới có giá trị 171 tỷ USD năm 2009. Trong đó Ngân hàng HSBC (Anh) năm thứ ba liên tiếp đứng ở vị trí trí đầu tiên.
Ngân hàng HSBC (Anh) liên tiếp trong 3 năm giành vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng top 10 thương hiệu ngân hàng dẫn đầu thế giới

Kết quả bình chọn dựa trên kết quả phân tích những số liệu chính thống từ các công ty được niêm yết; mỗi một nhãn hiệu có một tỷ lệ bầu chọn; được nghiên cứu về sự lớn mạnh, rủi ro và tiềm năng trong tương lai của một thương hiệu liên quan tới đối thủ của ngân hàng đó…

Lần lượt thứ tự các ngân hàng trong Top 10 gồm: ngân hàng HSBC (Anh) năm thứ ba liên tiếp dẫn đầu khi giá trị thương hiệu tăng từ 25,4 tỷ USD lên 28,5 tỷ USD. Santander (Nhật Bản) từ vị trí thứ 4 năm 2009 lên thứ 2, từ 10,8 tỷ USD lên 25,6 tỷ USD. Wells Fargo (Mỹ) giữ nguyên vị trí thứ 3, từ 14,5 tỷ USD lên 21,9 tỷ USD. Citi (Mỹ) từ vị trí thứ 7 năm 2009 vọt lên đứng thứ 4, từ 9,8 tỷ USD lên 14,4 tỷ USD. BNP Paribas (Pháp) cũng nhảy từ thứ 8 lên thứ 5, từ 9,4 tỷ USD lên 14,1 tỷ USD. Đặc biệt, Goldman Sachs (Mỹ) có bước tiến dài từ thứ 16 lên thứ 6, giá trị thương hiệu tăng từ 6,8 tỷ USD lên 13,9 tỷ USD. Các vị trí còn lại trong Top 10 lần lượt là Chase (Mỹ), Bradesco (Brazil), Barclays (Anh Quốc) và American Express (Mỹ); riêng American Express là thành viên bị rớt hạng, từ vị trí thứ 6 trong năm 2009 xuống thứ 10.


Theo DDDN

Ngân hàng tăng mạnh giá USD mua vào

picture

Qua một đêm các ngân hàng tăng giá USD mua vào tới hơn 400 VND - một diễn biến hiếm thấy từ trước tới nay.

Các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng mạnh giá USD mua vào, sát với mức trần theo biên độ cho phép


Các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng mạnh giá USD mua vào, sát với mức trần theo biên độ cho phép.

Ngày 23/2, một ngày sau kỳ nghỉ Tết và cũng là diễn biến mạnh nhất kể từ ngày Ngân hàng Nhà nước có những điều chỉnh về tỷ giá, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng mạnh giá USD mua vào so với trước đó.

Cụ thể, mức giá USD mua vào của các ngân hàng theo tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước sáng nay niêm yết ở mức 1 USD = 18.800 VND, tăng mạnh so với mức 18.550 VND của ngày hôm qua (22/2) và so với mức 18.550 VND của ngày đầu tiên chính sách điều chỉnh tỷ giá có hiệu lực (11/2). Giá USD bán ra cũng đã ở mức kịch trần biên độ cho phép (+/-3%) theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, ở mức 19.100 VND thay vì mức 18.800 VND trong ngày 11/2.

Tuy nhiên, mức giá USD mua vào tại một số ngân hàng thương mại lại khác nhau, một số ngân hàng cổ phần lớn đã nâng giá mua vào sát với giá bán ra.

Tại Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), giá USD mua vào ở mức 18.800 VND, nhưng tại nhiều thành viên khác như Ngân hàng Á châu (ACB), Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng Xuất nhập khẩu (Eximbank)…, mức giá mua chuyển khoản đã được đẩy lên tới 19.000 VND.

Trong khi đó, tỷ giá bình quân liên ngân hàng tiếp tục được giữ nguyên ở mức 18.544 VND. Ngoại trừ sự điều chỉnh cá biệt ngày 11/2, tỷ giá này được cố định qua mỗi ngày kể từ ngày 10/12/2009 trở lại đây.

Như vậy, sau khoảng cách khá lớn ít thấy (hơn 300 VND) giữa giá mua và giá bán trong những ngày đầu việc điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực, các nhà băng đã đồng loạt thu hẹp khoảng cách này.

Khoảng cách giữa giá mua và giá bán một phần phản ánh năng lực và nhu ngoại tệ của các ngân hàng thương mại. Ở thời điểm này, còn có thể xem đó là phản ứng của họ trước một điều chỉnh quan trọng khác của Ngân hàng Nhà nước: khống chế mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng) tại tổ chức tín dụng là 1%/năm.

Quyết định trên được bình luận là một hình thức “tự xử” đối với các tổ chức có tiền gửi USD. Quyết định này cũng được phân tích là tạo cú hích để các tổ chức đẩy mạnh việc bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng, thay vì găm giữ với lãi suất thấp theo sự khống chế đó. Việc các ngân hàng tăng mạnh giá USD mua vào cũng nhằm thu hút sự chuyển động này.

Theo Vneconomy

Nhấp nhổm chờ mua bán ngoại tệ

Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được lợi khi giá Đô la Mỹ tăng - Ảnh: Lê Quang Nhật.

Quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá có hiệu lực từ 11/2/2010, nhưng đến 23/2 thị trường ngoại tệ vẫn trong trạng thái chờ
Quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá có hiệu lực từ 11/2/2010, nhưng đến 23/2 thị trường ngoại tệ vẫn trong trạng thái chờ.

Ngay sau khi quyết định của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực, tỷ giá mua vào và bán ra của các ngân hàng thương mại đã có khoảng cách. Đến 23/2, hầu hết các ngân hàng thương mại đều niêm yết giá bán bằng nhau ở mức kịch trần 19.100 đồng/USD. Còn giá mua vào có khác nhau, tại VCB là 18.800 đồng/USD. Eximbank: 18.990 đồng/USD (tiền mặt) và 19.000 đồng/USD (chuyển khoản). ACB: 19.050 đồng/USD. EAB: 19.000 đồng/USD.

Tại thị trường tự do, tỉ giá trong ngày 23/2 trong khoảng 19.350 - 19.380 đồng/USD, giảm nhẹ khoảng 40 - 50 đồng/USD so với hai ngày trước đó. Đây có phải những dấu hiệu cho thấy cung cầu USD đã bớt căng thẳng?

Doanh nghiệp đã bán USD

Ông Phạm Văn Bảy, Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu nông sản thực phẩm An Giang (Afiex) cho biết: “Chính sách thay đổi tỷ giá mà ngân hàng Nhà nước vừa áp dụng giúp công ty bán được ngoại tệ ở mức cao nhất là 19.100 đồng/USD. Theo tôi, với mức điều chỉnh như vậy tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Từ nay sẽ không còn tâm lý găm giữ như trước, vì nếu nhốt ngoại tệ trên tài khoản thì với lãi suất USD như hiện nay (1% - PV) sẽ không có lời. Còn chờ tỷ giá tăng thêm nữa, thì khó xảy ra”.

Còn ông Trần Thiện Lĩnh, Giám đốc Công ty Thuỷ sản Thuận Phước, Đà Nẵng cũng nói rằng, thu ngoại tệ về là bán ngay. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng mua ngoại tệ ở mức giá cao nhất. “Doanh nghiệp chúng tôi phải dựa vào mối quan hệ mới bán được mức 19.100 đồng/USD”, ông Lĩnh nói như vậy.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân, Phó tổng giám đốc Ngân hàng Đông Á cũng cho biết: “Một số doanh nghiệp đã chấp nhận bán ra ngoại tệ. Nhưng mới ra Tết, giao dịch còn ít, nên chưa thể nói được gì nhiều”.

Nín thở chờ

Một doanh nghiệp vận tải biển có nguồn thu ngoại tệ khá lớn chiều 23/2 nói: “Vẫn nghỉ tết nên chưa nắm rõ tình hình”. Anh Hùng, một người dân có khoảng 10.000 USD gửi ngân hàng cười: “Mình đầu tư nhỏ lẻ. Vẫn biết bán đô lấy tiền đồng gửi ngân hàng sẽ có lãi suất cao hơn, nhưng phải chờ xem thị trường diễn biến thế nào đã”.

Ở các tiệm vàng, quầy thu đổi ngoại tệ, giới kinh doanh cho biết hai ngày qua hoạt động mua bán khá vắng lặng. Chủ tiệm vàng ở khu vực Bến Thành kể: “Chỉ có khách nước ngoài, Việt kiều đi mua sắm đổi một vài trăm Đô la lấy tiền chi tiêu. Còn lại bạn hàng trong chợ chỉ hỏi giá tham khảo liên tục chứ không mua không bán”.

Những điểm có dịch vụ thu đổi ngoại tệ tận nhà cho biết, lượng khách đầu năm chỉ bằng 30% so với trước tết. Một chủ tiệm vàng ở khu vực quận 3 cũng cho biết: “Đã có khách mối ở các công ty dọ giá, nhưng họ chưa quyết định mua hay bán. Trong giới làm ăn thì dự báo giá Đô la sẽ còn tăng nữa. Nhưng vẫn có thông tin cho rằng các ngân hàng sẽ mở rộng cửa bán đô với tỷ giá chính thức, nên các công ty, khách buôn bán có nhu cầu giao dịch tiền đô vẫn chưa đặt hàng”.

Theo phó tổng giám đốc một công ty kinh doanh vàng bạc đá quý, thị trường đầu năm đang chờ các động thái từ ngân hàng.

Bản thân các ngân hàng thương mại cũng chờ. Ông Nguyễn Đức Thái Hân, phó tổng giám đốc ACB nói: “Lượng khách thanh toán chưa quay lại quy mô bình thường sau tết. Chúng tôi cũng mới làm việc trở lại 1 - 2 ngày nên chưa thể đánh giá được cung cầu USD hiện tại.” Ông Hân cũng nhận xét rằng: “Không thể căn cứ trên giá niêm yết đã có khoảng cách giữa mua vào bán ra thay vì bằng nhau và ở mức kịch trần như trước đây để cho rằng nguồn cung USD đã dồi dào hơn”.

Một nhà nhập khẩu máy tính (đề nghị không nêu tên) cho biết, dù Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá gần sát với giá thị trường để chống hiện tượng làm giá, nhưng đầu năm, khi nhu cầu mua đồng USD chưa nhiều thì kiếm được lượng USD theo như mong muốn không phải dễ.

Kế toán trưởng của một doanh nghiệp nhập khẩu hàng kỹ thuật số cho biết, hiện nay, một số ngân hàng vẫn gợi ý doanh nghiệp mua ngoại tệ theo thoả thuận. Và giá niêm yết vẫn chỉ để niêm yết. “Họ (ngân hàng) yêu cầu chúng tôi nộp hồ sơ. Sau đó họ sẽ thoả thuận tỷ giá. Nếu doanh nghiệp chấp nhận, hai bên sẽ tiến hành mua bán. Trước khi nộp hồ sơ, chúng tôi có đề nghị cho biết tỷ giá cần thoả thuận nhưng họ từ chối công bố. Họ cũng không cho biết có đáp ứng đủ nhu cầu doanh nghiệp hay không”.

Nhóm PV (SGTT)

Vốn tối thiểu 30 tỷ đồng mới được hoạt động thông tin tín dụng

picture

Riêng hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 10/2010/NĐ-CP.

▪ THU THỦY
16:58 (GMT+7) - Thứ Ba, 23/2/2010

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 10/2010/NĐ-CP, quy định hóa mục tiêu chia sẻ thông tin giữa các tổ chức cấp tín dụng

Theo Cổng thông tin Chính phủ, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 10/2010/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/4/2010, quy định hóa mục tiêu chia sẻ thông tin giữa các tổ chức cấp tín dụng, đặc biệt là hỗ trợ khách vay tiếp cận được nguồn vốn tín dụng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

Theo đó, giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thông tin tín dụng được cấp cho tổ chức có đủ cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin; có vốn điều lệ tối thiểu 30 tỷ đồng; có tối thiểu 20 ngân hàng thương mại cam kết cung cấp thông tin tín dụng và các ngân hàng này không cam kết với công ty thông tin tín dụng khác.

Bên cạnh đó, tổ chức còn phải có văn bản thỏa thuận về quy trình thu thập, xử lý, lưu giữ và cung cấp thông tin tín dụng giữa công ty thông tin tín dụng với các tổ chức cấp tín dụng đã cam kết.

Ngân hàng Nhà nước là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động thông tin tín dụng nói trên trong vòng 30 ngày làm việc. Trường hợp không cấp giấy chứng nhận, Ngân hàng Nhà nước phải trả lời bằng văn bản cho công ty thông tin tín dụng và phải nêu rõ lý do.

Kể từ ngày 15/4/2010, trong hoạt động thông tin tín dụng, tổ chức cấp tín dụng chỉ được phép cung cấp cho công ty thông tin tín dụng những thông tin cơ bản nhất, gồm: thông tin định danh của khách hàng vay và những người có quan hệ với khách hàng vay; lịch sử cấp tín dụng, thuê tài sản, mua hàng trả góp...; lịch sử trả nợ, số tiền đến hạn hoặc chưa đến hạn và thông tin về đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay...

Thông tin tín dụng của khách hàng vay trong 5 năm gần nhất được công ty thông tin tín dụng sử dụng để tạo lập sản phẩm thông tin tín dụng. Những thông tin này được lưu giữ tối thiểu trong vòng 5 năm kể từ ngày công ty tiếp nhận được.

Được biết, các công ty thông tin tín dụng, tổ chức cấp tín dụng, khách hàng vay... sẽ là những đối tượng chủ yếu trong hoạt động thông tin tín dụng. Riêng hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định này.


Theo Vneconomy

Cho vay trung và dài hạn sắp theo lãi suất thỏa thuận

Nhiều ngân hàng đã tìm cách “lách” trần lãi suất bằng cách thu thêm phí.

Thông tư về việc áp dụng lãi suất thỏa thuận cho các khoản vay tín dụng trung và dài hạn sắp được Ngân hàng Nhà nước ban hành
Thông tư về việc áp dụng lãi suất thỏa thuận cho các khoản vay tín dụng trung và dài hạn sắp được Ngân hàng Nhà nước ban hành.

Thông tin này vừa được ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) xác nhận với VnEconomy, tại cuộc giao lưu trực tuyến “Tuổi Dần nhận định vận hội năm Dần”, diễn ra chiều nay (23/2).

“Theo nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành thông tư quy định về cho vay bằng đồng VND theo lãi suất thỏa thuận trong vài ngày tới đây”, ông Bảo nói.

Cụ thể, theo thông tư sắp được ban hành, ngoài các khoản cho vay thỏa thuận bằng ngoại tệ, cho vay thỏa thuận bằng VND đối với các nhu cầu vốn, đáp ứng nhu cầu của đời sống và phát hành thẻ tín dụng đã được thực hiện trong thời gian qua, các tổ chức tín dụng sẽ cho vay thỏa thuận bằng VND đối với các khoản vay trung và dài hạn theo thông tư được ban hành.

Cho tới thời điểm này, các tổ chức tín dụng vẫn phải tuân thủ trần lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Trên thực tế, nhiều ngân hàng đã tìm cách “lách” trần lãi suất bằng cách thu thêm phí.

Cũng trong cuộc trao đổi với VnEconomy, ông Bảo từ chối đưa ra bình luận về mục đích của Ngân hàng Nhà nước về mục đích của việc ban hành chính sách trên. Tuy nhiên, nhiều người đang kỳ vọng việc cho vay trung và dài hạn theo lãi suất thỏa thuận sẽ khắc phục tình trạng các ngân hàng “né” trần lãi suất, đồng thời khơi thông dòng vốn tín dụng.


Theo Vneconomy

Top 10 thương hiệu ngân hàng trị giá 171 tỷ USD

picture

HSBC (Anh quốc) năm thứ ba liên tiếp dẫn đầu khi giá trị thương hiệu tăng từ 25,4 tỷ USD lên 28,5 tỷ USD.

10 thương hiệu ngân hàng dẫn đầu thế giới có giá trị 171 tỷ USD, theo báo cáo của Tạp chí Brand Finance Global Banking 500


10 thương hiệu ngân hàng dẫn đầu thế giới có giá trị 171 tỷ USD, theo báo cáo mới nhất của Tạp chí Brand Finance Global Banking 500.

Brand Finance Global Banking 500 được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2006, là tạp chí đầu tiên nghiên cứu, phân tích về giá trị tài chính của các thương hiệu ngân hàng. Cuộc bình chọn được tạp chí này tổ chức hàng năm để bầu ra 500 thương hiệu ngân hàng đứng đầu thế giới.

Kết quả mà Brand Finance Global Banking 500 đưa ra dựa trên phân tích những số liệu chính thống từ các công ty được niêm yết; mỗi một nhãn hiệu có một tỷ lệ bầu chọn; được nghiên cứu về sự lớn mạnh, rủi ro và tiềm năng trong tương lai của một thương hiệu liên quan tới đối thủ của ngân hàng đó…

Bản báo cáo tạp chí này vừa công bố được xem là một góc nhìn về sự phục hồi của các ngân hàng trên thế giới sau cuộc khủng hoảng vừa qua. Đáng chú ý là Top 10 thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới đều có sự tăng trưởng mạnh.

Tính đến ngày 31/12/2009, Top 10 thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới có giá trị 171 tỷ USD.

HSBC (Anh quốc) năm thứ ba liên tiếp dẫn đầu khi giá trị thương hiệu tăng từ 25,4 tỷ USD lên 28,5 tỷ USD. Santander (Nhật Bản) từ vị trí thứ 4 năm 2009 lên thứ 2, từ 10,8 tỷ USD lên 25,6 tỷ USD. Wells Fargo (Mỹ) giữ nguyên vị trí thứ 3, từ 14,5 tỷ USD lên 21,9 tỷ USD. Citi (Mỹ) từ vị trí thứ 7 năm 2009 vọt lên đứng thứ 4, từ 9,8 tỷ USD lên 14,4 tỷ USD. BNP Paribas (Pháp) cũng nhảy từ thứ 8 lên thứ 5, từ 9,4 tỷ USD lên 14,1 tỷ USD. Đặc biệt, Goldman Sachs (Mỹ) có bước tiến dài từ thứ 16 lên thứ 6, giá trị thương hiệu tăng từ 6,8 tỷ USD lên 13,9 tỷ USD.

Các vị trí còn lại trong Top 10 lần lượt là Chase (Mỹ), Bradesco (Brazil), Barclays (Anh Quốc) và American Express (Mỹ); riêng American Express là thành viên bị rớt hạng, từ vị trí thứ 6 trong năm 2009 xuống thứ 10.

Về vị trí dẫn đầu của mình, HSBC cho biết một yếu tố thúc đẩy quan trọng trong năm 2009 là đợt phát hành cổ phiếu thành công với sự hỗ trợ mạnh mẽ của các cổ đông; thành công này giúp hoạt động của ngân hàng được đẩy mạnh hơn sau đó. Ngoài ra, HSBC đã có sự chuyển hướng phát triển thương hiệu theo một chiến lược marketing toàn cầu và đang tiếp tục thống nhất hình ảnh của mình tại tất cả các thị trường.

Về kết quả chung của cuộc bình chọn năm nay, ông David Haigh, Tổng giám đốc của Brand Finance plc., nói: “Năm nay Brand Finance Global Banking 500 cho thấy sự phục hồi đáng kể của những nhãn hiệu ngân hàng trên toàn cầu. Giá trị của 500 thương hiệu hàng đầu thế giới tăng trưởng hơn 4% so với năm 2008, thời điểm trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng. Trong năm 2009, tổng giá trị của 500 thương hiệu này là 716 tỷ USD, tăng 49%”.

Ông David Haigh cũng lưu ý rằng kết quả trên cho thấy có một sự chuyển dịch cán cân quyền lực đáng kể từ các ngân hàng của Mỹ sang các ngân hàng tại các thị trường mới nổi.

Theo Vneconomy