Hiển thị các bài đăng có nhãn Doanhnghiep. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Doanhnghiep. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

Doanh nghiệp lo cơ chế lãi suất thỏa thuận

Với cơ chế thỏa thuận, doanh nghiệp và ngân hàng sẽ ngồi lại với nhau để tìm tiếng nói chung cho lãi suất các khoản vay trung, dài hạn - Ảnh: Quang Liên.

Bỏ trần, doanh nghiệp lo lãi suất tăng cao và nhiều biến động dẫn đến khó kiểm soát chi phí và khó chủ động trong kinh doanh
Bỏ trần, doanh nghiệp lo lãi suất tăng cao và nhiều biến động dẫn đến khó kiểm soát chi phí và khó chủ động trong sản xuất kinh doanh.

Ngày 26/2, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 07/2010/TT-NHNN, chính thức quy định về cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng đối với các khoản vay trung và dài hạn.

Cơ chế lãi suất cho vay mới đã được ban hành, không bất ngờ vì đã có những thông tin “tiền trạm” trước đó, nhưng vẫn còn những ý kiến khác nhau, có ủng hộ và những nghi ngại.

Trả lại cho thị trường

Ngày 16/5/2008, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN quy định, từ ngày 19/5/2008, các tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam không quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Cơ chế lãi suất trần theo đó được áp dụng thay cho thỏa thuận trước đó.

Ngày 23/1/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Thông tư số 01/2009/TT-NHNN hướng dẫn về lãi suất thoả thuận của tổ chức tín dụng đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Cơ chế lãi suất thỏa thuận được hé mở ở nhóm đối tượng nhất định.

Trong quá trình thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất trần, thị trường xuất hiện những hình thức “lách” trần thông qua thu phí cho vay, tập trung từ cuối năm 2009 đến đầu năm 2010. Một lần nữa, yêu cầu bỏ trần lãi suất lại được đặt ra.

Ngày 26/2 vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chính thức có văn bản mở lại cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn.

Về quyết định và cơ chế trên, trong bình luận gửi về VnEconomy, một chuyên gia tài chính cho rằng “tôi ủng hộ quan điểm giảm thiểu sử dụng các công cụ hành chính để điều hành thị trường, trừ những trường hợp thị trường bị thất bại, bộc lộ những khuyết tật của nó”.

Chuyên gia này phân tích: Về nguyên tắc kinh doanh, khi cho vay, ngân hàng không thể cho vay với mức lãi suất thấp hơn chi phí và người gửi tiền sẽ không gửi vào ngân hàng nếu các cơ hội đầu tư tương tự có mức sinh lời tốt hơn. Do vậy, khi phải chịu khống chế bởi trần lãi suất, ngân hàng phải tìm các cách thức khả dĩ để có một mức lãi suất huy động cũng như cho vay sao cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có được mức sinh lợi cao nhất.

“Và khi ngân hàng và khách hàng được tự do thỏa thuận lãi suất sẽ tránh được những bóp méo hay “lách luật” không đáng có. Trên thực tế hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy chi phí của việc sử dụng trần lãi suất thường cao hơn mà lợi ích mà nó mang lại”, chuyên gia này bình luận.

Tuy nhiên, điểm mà ông còn băn khoăn là Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự vẫn quy định “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng”. Nếu căn cứ vào phạm vi điều chỉnh của bộ luật này thì dù có hay không có các quy định hay hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước thì trần lãi suất vẫn tồn tại.

Theo đó, vấn đề đặt ra là “bất cứ khách hàng nào cũng có thể kiện nếu ngân hàng cho vay với lãi suất cao hơn 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Ngược lại, nếu những quy định của Ngân hàng Nhà nước có thể hiểu là nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự thì có điều gì đó không ổn trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật”.

Vì vậy, vấn đề về trần lãi suất theo chuyên gia này là sẽ chưa thể giải quyết tận gốc nếu những quy định liên quan ở những văn bản pháp luật khác nhau không tương thích và nhất quán. Điều này đặt Ngân hàng Nhà nước vào một tình thế khó khăn, nhất là việc sử dụng các công cụ linh hoạt nhằm uốn các dòng chảy thị trường sao cho có lợi cho toàn nền kinh tế thay vì buộc phải áp dụng các công cụ “chặn dòng” mà chúng có thể gây ra những cú sốc bất lợi không đáng có cho nền kinh tế.

Doanh nghiệp lo biến động

Chính sách mới đã có hiệu lực. Với các khoản vay cũ, các điều khoản trong hợp đồng được tôn trọng hoặc do hai bên thỏa thuận xem xét lại. Với các khoản vay mới, các ngân hàng bắt đầu thực hiện cơ chế mới; theo tính toán hiện có thể lên tới 18%/năm, tùy các kỳ hạn và mức độ rủi ro…

Trả lời VnEconomy về chính sách lãi suất cho vay, ông Huỳnh Bửu Quang, Giám đốc Khối Dịch vụ tài chính doanh nghiệp, Ngân hàng HSBC Việt Nam, giải thích: Các ngân hàng thương mại thường tính lãi suất cho vay dựa trên mức độ rủi ro của từng khách hàng, bản chất công việc kinh doanh của họ và một số yếu tố liên quan khác. Mỗi khoản vay thương mại đều có một mức độ rủi ro khác nhau dẫn đến mức lãi suất khác nhau hợp lý với từng mức độ rủi ro.

“Cơ chế trần lãi suất áp dụng chung cho các khoản vay thương mại với mức độ rủi ro khác nhau tạo ra những khó khăn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, hạn chế khả năng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với các khoản cho vay đối với doanh nghiệp lớn”, ông Quang nói.

Nay, có cơ chế mới, vẫn còn rào cản ở các khoản vay ngắn hạn, nhưng các nhà băng đã có con đường rộng hơn trong hoạt động cho vay. Đây cũng là điều mà một số doanh nghiệp lo ngại có những biến động mạnh trong tương lai, ảnh hưởng đến chi phí, yêu cầu ổn định và chủ động trong sản xuất kinh doanh của họ.

Ông Nguyễn Băng Tâm, Phó chủ tịch Câu lạc bộ Các doanh nghiệp niêm yết, cho rằng, về lý thuyết, việc bỏ trần lãi suất trong hoạt động cho vay là phù hợp với yêu cầu chung, xuất phát từ thực tế của thị trường. Nhưng điều đó chỉ hợp lý trong trường hợp hoạt động cho vay được tiến hành bình thường, bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

Lo ngại mà ông Tâm đưa ra là ở Việt Nam, hoạt động cho vay vẫn có những trường hợp không theo quy trình chung, mà chịu tác động bởi sự vận động, “lobby” của bên đi vay; hoặc như ngân hàng dễ chạy theo những đối tượng có độ sẵn sàng hơn với các mức lãi suất cao như đầu tư tài chính, đầu tư bất động sản dẫn tới rủi ro hay mất cân đối trong cơ cấu vốn đối với các ngành hàng khác.

Trong khi đó, cán bộ tài chính Công ty Đầu tư Xây dựng hạ tầng và giao thông đô thị cho rằng chính sách mới của Ngân hàng Nhà nước là điều chỉnh quan trọng, ảnh hưởng không chỉ tới các doanh nghiệp mà còn đối với cả nền kinh tế; thậm chí cần có một diễn đàn cụ thể để xây dựng cơ chế và có tiếng nói từ phía doanh nghiệp.

Đại diện này cho biết, đến 31/3 này các ngân hàng thương mại sẽ bắt đầu chốt lại các hạn mức tín dụng dự kiến trong năm đối với các khách hàng cụ thể. Bản thân các doanh nghiệp cũng đang trong quá trình xây dựng các hạn mức chi phí đầu tư cho năm 2010. “Với cơ chế mới này, chúng tôi sẽ không được bảo vệ bởi quy định trần lãi suất, việc hoạch định chi phí và vốn vay sẽ bị đảo lộn và phải tính toán lại. Hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ thiếu tính chủ động. Lo ngại hơn nếu lãi suất vay biến động, tăng cao, các doanh nghiệp đẩy những điều đó đến với giá thành sản phẩm dịch vụ thì ảnh hưởng không còn bó hẹp ở doanh nghiệp nữa”, đại diện này nói.

Tất nhiên, với những doanh nghiệp có quan hệ tín dụng tốt, có dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả thì ngân hàng vẫn duy trì chính sách tín dụng tương đối ổn định và có những ưu đãi nhất định.

Ông Nguyễn Băng Tâm cho rằng việc điều chỉnh chính sách nói trên cũng không có nhiều bất ngờ, đã có những thông tin “tín hiệu” trước đó nên doanh nghiệp cũng đã lường tính khi xét đến các kế hoạch vay vốn. Với các doanh nghiệp niêm yết, ông Tâm tự tin khi cho rằng có 90% là các doanh nghiệp tốt nên có thể tiếp cận được chính sách tín dụng hợp lý của các ngân hàng.

“Nhưng sẽ vẫn phải tính toán kỹ, bởi lãi suất thỏa thuận sẽ không như trước đó. Doanh nghiệp sẽ phải xem lại sức chịu đựng của mình để có vay hay không. Mặt khác, trường hợp lãi vay quá cao, doanh nghiệp niêm yết có thể sử dụng công cụ huy động trên thị trường chứng khoán chứ không chỉ lệ thuộc vào kênh ngân hàng”, ông Tâm nói.

Cùng quan điểm trên, ông Huỳnh Bửu Quang cũng cho rằng Việt Nam cần phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu, giúp các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp có khả năng huy động nguồn vốn trung, dài hạn phục vụ nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.


(Theo Vneconomy)

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

Tăng chất lượng chính sách

Nhìn từ góc độ vĩ mô, rất khó có thể xem là hiệu quả một khi chính sách tạo ra những tác động bất ổn. Doanh nghiệp thay vì tập trung vào chuyện kinh doanh thì cứ phải thủ thế, nghe ngóng, nơm nớp lo sợ, không biết điều gì sẽ xảy ra.

Nhìn từ góc độ vĩ mô, rất khó có thể xem là hiệu quả một khi chính sách tạo ra những tác động bất ổn
Đầu năm, gặp giám đốc một doanh nghiệp chuyên nhập khẩu thiết bị y tế. Chưa kịp chúc xuân, ông này đã níu áo phóng viên phân bua, khuôn mặt gần như mếu: “Tết rồi nuốt không trôi! Tưởng nghỉ ngơi cho thoải mái, ai dè 28 Tết, Đô la tăng ào ào. Hàng chưa về nhưng mấy hợp đồng nhập chuyến này coi như lỗ…”.

Ông bạn doanh nhân không phàn nàn gì về việc điều chỉnh tỷ giá vì theo ông giá Đô la Mỹ tăng là chuyện tất yếu. Ông chỉ hiềm một nỗi Ngân hàng Nhà nước “xuất chiêu” nhanh quá, lại ngay cận Tết, khiến ông không kịp trở tay.

Một trong những chính sách gây ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường nhà đất trong năm qua là thuế thu nhập cá nhân đối với hợp đồng chuyển nhượng góp vốn mua bất động sản. Thuế này trước đây không thu, kể cả sau khi Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực vào 1/1/2009.

Bất ngờ, đến ngày 26/9/2009, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 161 yêu cầu phải đóng thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng hợp đồng góp vốn. Thị trường nhà đất đang cố gắng hồi phục trở nên hoang mang; giao dịch trên các sàn địa ốc bỗng chốc sụt giảm mạnh.

Một thí dụ khác ở cấp độ chính sách của địa phương là câu chuyện dở khóc dở cười của hàng chục nhà đầu tư tại tỉnh Bình Thuận. Nhiều năm trước, nghe theo lời kêu gọi đầu tư của UBND tỉnh Bình Thuận, các doanh nghiệp này đã bỏ tiền và công sức đầu tư vào khu vực biển Tân Thành - Kê Gà, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận để biến nơi đây trở thành một khu du lịch hấp dẫn.

Việc đầu tư đang đến ngày gần hoàn tất thì bất ngờ chính quyền ra thông báo yêu cầu giải toả các dự án, giao đất cho một chủ đầu tư khác để xây dựng Cảng Kê Gà chồng lên khu du lịch hiện hữu. Hậu quả của sự thay đổi bất ngờ này là hàng chục khu nghỉ dưỡng được đầu tư nhiều tiền của, công sức bị bỏ hoang, không được đưa vào sử dụng; có nhà đầu tư rơi vào cảnh tán gia bại sản, hết sức thương tâm.

Chúng ta không bình luận gì về các chính sách đó đúng hay sai, có chính sách đúng và có thể có chính sách sai. Vấn đề đáng nói là sự bất nhất và thất thường trong chính sách.

Nhìn từ góc độ vĩ mô, rất khó có thể xem là hiệu quả một khi chính sách tạo ra những tác động bất ổn. Doanh nghiệp thay vì tập trung vào chuyện kinh doanh thì cứ phải thủ thế, nghe ngóng, nơm nớp lo sợ, không biết điều gì sẽ xảy ra.

Hơn nữa, nền kinh tế đang phải gồng mình vượt qua suy thoái, mỗi một chính sách được ban hành nếu quá đột ngột có thể dẫn đến tổn thương.

Các chính sách được ban hành lúc này, vì vậy, nên hướng vào giúp cho nền kinh tế hồi phục hơn là những chính sách luôn gây nóng lạnh, khó dự báo. Nói cách khác, chất lượng chính sách cần phải được tăng lên vì nếu chất lượng tăng thì sẽ không còn những chính sách được ban hành theo kiểu “giật cục” và chính sách tự nó sẽ tồn tại lâu hơn, hiệu quả hơn.

Nguyên Tấn (TBKTSG)

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Doanh nghiệp tư nhân: Vì sao không lớn được?

Nhân viên của Vinamit - một doanh nghiệp tư nhân khá thành công trong lĩnh vực chế biến nông sản - tiếp thị sản phẩm trong một hội chợ - Ảnh: Lê Toàn.

Một điều tra gần đây cho biết, có đến 80% số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có quy mô nhỏ
Đã qua 10 năm tính từ năm 2000 khi Luật Doanh nghiệp chính thức có hiệu lực mà các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn không lớn được, vì sao vậy?

Đó là câu hỏi đầy trăn trở của ông Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, tại một cuộc hội thảo do VCCI tổ chức.

Quả thực là như vậy. Một điều tra gần đây cho biết, có đến 80% số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có quy mô nhỏ (80% có vốn kinh doanh dưới 5 tỉ đồng và 87% sử dụng dưới 50 lao động). Vấn đề không chỉ dừng lại ở việc đưa ra con số về quy mô doanh nghiệp tư nhân, quan trọng hơn như một chuyên gia kinh tế nhận định: “Khi khu vực doanh nghiệp tư nhân chưa thực sự đủ lớn, việc trở thành động lực thực sự cho sự phát triển kinh tế Việt Nam sẽ vẫn là kế hoạch”.

Những nguyên nhân chậm lớn

Đã có rất nhiều ý kiến bàn về nguyên nhân của tình trạng “không lớn được” của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam song những nguyên nhân sau đây là cơ bản.

Thứ nhất, từ năm 2000 - năm Luật Doanh nghiệp được bắt đầu áp dụng - đến nay, thời gian chưa phải là dài để chúng ta có được những tập đoàn kinh tế tư nhân hùng mạnh. Đó là điều tất yếu khách quan.

Thứ hai là những nguyên nhân từ đội ngũ doanh nhân. Một điều tra mới đây của VCCI cho biết, “tầng lớp doanh nhân mới được hình thành trong những năm gần đây, xuất thân từ nhiều tầng lớp lao động xã hội khác nhau, nhiều người chưa được đào tạo kinh doanh bài bản; các doanh nghiệp của doanh nhân Việt Nam chưa có tích lũy lớn về vốn nên sức vươn hạn chế; tinh thần học hỏi của một số doanh nhân chưa cao, dễ thỏa mãn, chưa chú trọng đầu tư thu thập thông tin, nâng cao kiến thức quản lý, kinh doanh; tâm lý ỷ lại của một số doanh nhân vào sự hỗ trợ của Nhà nước vẫn còn tồn tại; một số doanh nhân chưa tuân thủ đúng pháp luật và hưởng thụ quá sớm…”.


Những điểm yếu nêu trên của đội ngũ doanh nhân là sự thật. Đến lượt nó, những điểm yếu nêu trên lại dẫn đến tình trạng “gia đình trị” trong quản trị doanh nghiệp, chưa coi trọng chữ tín trong kinh doanh, tính liên kết rất kém… Vì vậy, chưa thể có những doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn và những doanh nhân xuất chúng.

Thứ ba, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế chưa hình thành.

Trong hệ thống các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay đang tồn tại ba khu vực là: doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn chi phối của Nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đáng tiếc là, hoạt động của các doanh nghiệp thuộc ba khu vực đang “độc lập” với nhau ở mức độ khá lớn. Mỗi khu vực gần như một “ốc đảo”, khép kín với toàn bộ hoạt động của mình. Điều đó không chỉ làm hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân mà còn làm suy yếu toàn bộ hệ thống doanh nghiệp của nền kinh tế quốc dân.


Thứ tư, về môi trường kinh doanh, điều tra của VCCI nhận định: “Những nguyên nhân khách quan chủ yếu là: trình độ phát triển kinh tế còn thấp và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện; nhận thức về vai trò của doanh nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội vẫn còn một số điểm chưa rõ ràng, chưa tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội về vai trò, vị thế của doanh nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; còn tâm lý e ngại, chưa thật sự tin tưởng vào tinh thần dân tộc, trách nhiệm xã hội, trí tuệ và năng lực của tầng lớp doanh nhân; kinh doanh chưa được coi là một nghề cao quý trong xã hội; sự thất bại của một số doanh nhân trong kinh doanh thường được coi là hiện tượng xấu; môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, chưa tạo điều kiện thật thuận lợi cho các doanh nhân khởi sự doanh nghiệp và yên tâm phát triển sản xuất, kinh doanh; nhiều chính sách được thiết kế thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, thiếu minh bạch; bộ máy hành chính và đội ngũ công chức còn nhiều yếu kém, cải cách hành chính chưa đạt được kết quả mong muốn; tính tùy tiện trong cách ứng xử cũng như trong ban hành chính sách của một bộ phận cán bộ chính quyền không những làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nhân mà còn gây ức chế, làm thui chột ý chí kinh doanh”.

Cần làm gì?

Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng “không lớn được” của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cho thấy, để có những doanh nghiệp quy mô lớn và có nhiều hơn những doanh nhân ngang tầm quốc tế, hãy còn rất nhiều việc phải làm cả trong phạm vi nền kinh tế và từng doanh nghiệp.

Tái cấu trúc hay cải cách cơ bản toàn bộ nền kinh tế quốc dân sau khủng hoảng là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay. Và tái cấu trúc hệ thống các doanh nghiệp phải đi trước một bước trong việc tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Tái cấu trúc doanh nghiệp ít nhất phải bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

Thay đổi cơ cấu sở hữu vốn. Do dấu ấn của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp vẫn còn rất nặng nề trong hệ thống các doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay, những doanh nghiệp do Nhà nước chiếm 100% vốn chủ sở hữu vẫn còn khá nhiều.

Hình thành những mối liên hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp của nền kinh tế. Cần nhanh chóng phá vỡ những “ốc đảo”, hình thành sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp theo hướng: những doanh nghiệp có quy mô lớn, có năng lực quản lý tốt sẽ hoạt động kinh doanh ở những ngành, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ là những vệ tinh cho những doanh nghiệp lớn tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Đó là nhân tố quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp và toàn bộ hệ thống.

Cải cách thể chế pháp lý và thủ tục hành chính, tôn trọng quan hệ thị trường. Thực hiện yêu cầu này đòi hỏi phải giải quyết triệt để những vấn đề: nhanh chóng xóa bỏ cơ chế chủ quản - một cơ chế lỗi thời, tàn dư của thời kỳ bao cấp - từ đó xóa bỏ việc sử dụng mệnh lệnh hành chính để can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của doanh nghiệp theo nguyên tắc “bình đẳng, minh bạch”; xây dựng đội ngũ công chức “liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” như quy định tại điều 8 Luật Cán bộ công chức.

Tái cấu trúc trong nội bộ từng doanh nghiệp. Quản lý doanh nghiệp theo phương thức “gia đình” là đặc điểm lớn nhất của các doanh nghiệp dân doanh Việt Nam, dẫn đến sự thiếu minh bạch. Hơn nữa, do xuất phát từ một nền sản xuất nhỏ, không ít doanh nghiệp đã và đang hoạt động theo phương thức chụp giật, thiếu tôn trọng các quy định của pháp luật. Do đó, từng doanh nghiệp phải tái cấu trúc cơ chế quản lý nội bộ của mình, kể cả việc chuyển đổi hình thức tổ chức, để bảo đảm sự minh bạch và tôn trọng các quy định của pháp luật.

Luật gia Vũ Xuân Tiền (TBKTSG)

Làm rõ trách nhiệm cá nhân để tổng công ty Nhà nước thua lỗ

picture

Tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội đã ra Nghị quyết về việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty Nhà nước.

Thủ tướng yêu cầu làm rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân trong việc để tổng công ty thua lỗ và xử lý theo quy định của pháp luật


"Kiên quyết sắp xếp các tổng công ty Nhà nước hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài nhiều năm, không có khả năng phục hồi; đồng thời, làm rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân trong việc để tổng công ty thua lỗ và xử lý theo quy định của pháp luật".

Đây là một trong những nội dung được nêu rõ tại chương trình hành động của Chính phủ, nhằm thực hiện nghị quyết của Quốc hội về việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, được thông qua tại kỳ họp thứ sáu. Kết quả thực hiện chương trình này sẽ được báo cáo tại kỳ họp Quốc hội thứ tám.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu rà soát, phân tích, đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả của mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước.

Tổng kết việc xử lý nợ trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước và tìm ra biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trang nợ dây dưa, nợ chiếm dụng không lành mạnh.

Xác định ngành, lĩnh vực cần thiết có tập đoàn kinh tế hoặc tổng công ty Nhà nước trong 5 năm, 10 năm tới; trong đó, ngành, lĩnh vực nào Nhà nước giữ 100% vốn hoặc giữ chi phối ở công ty mẹ.

Tổ chức, sắp xếp lại các tổng công ty Nhà nước, công ty Nhà nước để hình thành những tổng công ty Nhà nước đủ mạnh chi phối nền kinh tế, có vị trí, vai trò ngày càng lớn, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp trong khu vực và thế giới.

Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Có quy định và phương thức phù hợp để thực hiện cổ phần hóa tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước có hiệu quả.

Theo chương trình hành động này, sẽ rà soát lại ngành nghề kinh doanh, danh mục đầu tư, cơ cấu tổ chức của các tập đoàn, tổng công ty để điều chỉnh bảo đảm các tập đoàn, tổng công ty kinh doanh đa ngành nhưng phải tập trung vào ngành sản xuất kinh doanh chính, các ngành kinh doanh khác phải được lựa chọn kỹ lưỡng trên cơ sở phát huy tiềm năng, lợi thế của tập đoàn, tổng công ty với một tỷ lệ vốn đầu tư nhất định.

Quy định cụ thể chế độ báo cáo và công khai, minh bạch kết quả hoạt động bao gồm cả phân phối lợi nhuận của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước trên cơ sở các tiêu chí được xác định rõ ràng để làm cơ sở kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, giám sát.

Quy định rõ tiêu chuẩn để lựa chọn nhân sự quản lý các tập đoàn, tổng công ty; quyền hạn, trách nhiệm, lợi ích; chế tài xử lý vi phạm; cơ chế thưởng, phạt cụ thể.

Chính phủ cũng giao các cơ quan chức năng nghiên cứu, xây dựng cơ chế đổi mới quản lý tiền lương, tiền thưởng trong tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, tạo quyền chủ động cho doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; xây dựng quy chế tiền lương, tiền thưởng đối với người quản lý phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước.

Nghiên cứu để sớm tách chức năng thực hiện các quyền của chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính Nhà nước của các cơ quan hành chính Nhà nước; tách bạch rõ ràng việc thực hiện quyền chủ sở hữu với quyền chủ động kinh doanh của doanh nghiệp; tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh của doanh nghiệp.

Đồng thời, hoàn thiện cơ chế phân cấp việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước theo nguyên tắc có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, thực hiện nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước và phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước.

Ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của các tập đoàn kinh tế mới được thành lập; sửa đổi, bổ sung các điều lệ tập đoàn cho phù hợp với Nghị định số 101/2009/NĐ-CP ngày 5/11/2009 của Chính phủ thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế Nhà nước.

Sơ kết, đánh giá mô hình tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC); hoàn thiện cơ chế người đại diện phần vốn Nhà nước trên cơ sở làm rõ địa vị pháp lý, mối quan hệ với cơ quan quản lý vốn, cơ quan quản lý Nhà nước, xác định cơ quan đầu mối quản lý về nhân sự đối với đội ngũ cán bộ này. Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật để điều chỉnh phù hợp đối với hoạt động đặc thù của SCIC.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý doanh nghiệp; việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước và đất đai tại các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước; về đổi mới, sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước.

Xây dựng Luật Sử dụng vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào kinh doanh và sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan để trình Quốc hội ban hành. Trong khi chưa ban hành luật, Chính phủ ban hành nghị quyết về quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu.


Theo Vneconomy

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2010

Đại gia cũng khóc

picture

Chính sách thay đổi bất thình lình, nhà đầu tư khó mà lường trước để trở tay.

Họ cũng là con người bình thường như bao người khác. Vậy nên, khi họ “khóc” thì cũng cần có ai đó lắng nghe họ


Nền kinh tế nước ta đã vượt qua tâm bão và đang hồi phục. Đó là tin vui giúp các nhà đầu tư lạc quan hơn về tương lai của Việt Nam và về công việc làm ăn của mình.

Tuy nhiên, qua cơn bão kinh tế vừa rồi, trong họ vẫn còn đọng lại không ít nỗi niềm.

Những ngày khó khăn…

1. Ông Kim, chủ một doanh nghiệp, có nhiều xưởng ở Hàn Quốc. Ở Việt Nam, xưởng may của ông rộng gần 2ha, với hàng ngàn công nhân chuyên gia công hàng xuất khẩu. Ngày đầu tiên gặp nhau, ông gây ấn tượng mạnh bởi tài lái xe hơi rành rẽ mọi nẻo đường như người Việt. Ông hút thuốc bằng tẩu mạ vàng, nhả khói thường hay nheo mắt, vẻ hài lòng và mãn nguyện với thành quả kinh doanh của mình. Hai năm tư vấn cho công ty ông, chưa bao giờ tôi thấy một khách hàng nào đó phàn nàn về ông, dù chỉ một lần.

Vậy mà, một tối muộn, ông đến, không thấy xe, không tẩu. Ông trình bày, do khủng hoảng kinh tế, đơn hàng cũ bị huỷ, đơn hàng mới không có, đối tác nước ngoài quỵt tiền. Xưởng may tạm đóng cửa; lương công nhân: nợ; tiền điện: nợ; tiền thuê nhà ở cũng nợ. Ông xoay xở bán xe để trả tạm lương cho công nhân. Cả chiếc lắc tay, kỷ niệm của người vợ quá cố, ông cũng bán nốt. Đau nhất là cơ quan nhà nước đề xuất tạm giữ hộ chiếu, niêm phong tài sản trong xưởng may, vì sợ ông tẩu tán tài sản hoặc bỏ trốn về nước. Ông cúi đầu khóc. Đôi vai run run…

2. Ông Nguyễn, Việt kiều, về nước làm ăn hơn mười năm nay, đầu tư vào bất động sản. Thời sốt đất, những dự án công ty ông làm bán chạy như tôm tươi. Tiền thu được, lại dùng để tái đầu tư. Hàng chục dự án tập trung vào cao ốc văn phòng cho thuê, căn hộ cao cấp.

Làm bất động sản mấy ai không vay ngân hàng. Đùng một cái, để hạ sốt, đề phòng tình trạng “bong bóng”, ngân hàng siết chặt cho vay đầu tư bất động sản, tăng lãi suất. Thêm vào đó, chứng khoán lao dốc, nhà đầu tư trúng chứng khoán trước đây gom tiền mua căn hộ rơi vào cảnh cạn tiền, không trả nổi tiền mua căn hộ khi đến hạn, buộc lòng phải xả hàng tới tấp. Thị trường bất động sản “đóng băng”, heo hút như cảnh chợ chiều. Việc kinh doanh của ông từ chỗ đang nóng, chuyển sang lạnh toát.

Áp lực phải có tiền để trả nợ ngân hàng buộc ông Nguyễn phải chào bán nhiều mảnh đất mà ngày xưa nhiều người mơ ước. Giá chào tụt dần, lỗ đến 30% giá gốc, chưa tính lãi vay ngân hàng, thế mà người mua cứ chê ỏng chê eo. Những cuộc họp trả lời khách về tính pháp lý của các dự án cứ lặp đi lặp lại, ròng rã sáu tháng trời vẫn không ai chịu “rước”. Lắm lúc thấy ông ngồi thẫn thờ, mắt có nhìn mà không thấy, hay ngủ ngồi giữa hai cuộc họp, mới thấy thương cho nhà đầu tư thời khủng hoảng.

3. Có thể gọi John là “chúa đảo” với trên chục cái đảo ở một vịnh miền Trung mà anh đang thuê để nuôi cá xuất khẩu. Tại đại bản doanh đặt trên hòn đảo trung tâm, anh làm văn phòng bằng gỗ, khu nhà nghỉ công nhân lợp lá cọ, đồ nội thất bằng mây, cùng cát trắng, biển xanh đẹp như một khu nghỉ dưỡng cao cấp.

Cha anh, có thể xem là “công thần” của tỉnh, bởi ông là một trong những nhà đầu tư đầu tiên khai phá lĩnh vực nuôi cá xuất khẩu từ những năm 90 của thế kỷ trước. Từ ông, bao nhiêu ngư dân trong vùng học được kỹ thuật nuôi cá lồng, biết cách chọn lọc con giống tốt nhất. Đầu ra đã có ông lo.

Kế thừa sản nghiệp của cha, bằng sức trẻ của mình, John đã liên tục mở rộng sản xuất bằng cách thuê thêm nhiều diện tích mặt biển để nuôi cá. Một trong các đảo anh thuê có địa thế rất đẹp, sau lưng là núi, bãi cát chạy dài ngút mắt. Vị trí đắc địa ấy đã khiến không ít công ty làm du lịch phải thèm muốn.

Một ngày, John điếng người khi nhận được quyết định thu hồi đất của tỉnh, với lý do quá 12 tháng mà không triển khai dự án. John nói như khóc trong cuộc họp giải quyết khiếu nại: “Tôi thuê đơn vị tư vấn, mang chuyên gia từ nước ngoài sang khảo sát mặt biển, độ mặn, mới dám thả con giống thử nghiệm. Dàn lưới quây thi công ngầm dưới biển tốn cả triệu đô, có ai chịu lặn xuống đó coi giúp cho tôi nhờ không. Cha con tôi đầu tư 20 năm nay trên cái vùng biển này sao nỡ đối xử tôi như vậy…”.

Những lá đơn khiếu nại của John gửi đi, họp tới họp lui hơn hai năm chưa được giải quyết. Dàn lưới bao đặc chế mục nát theo thời gian. Đùng một cái khủng hoảng tới, ngành du lịch chững lại. Nghe đâu công ty du lịch dự kiến được giao đất kia cũng “đuối”, xin thôi không làm tiếp dự án đó nữa.

Khi nghe thông tin hành lang từ tỉnh, nếu muốn thuê nuôi cá tiếp thì gửi thư xin, sẽ được giải quyết. John lắc đầu cười mà như mếu, việc giải quyết khiếu nại chậm chạp đã gây thiệt hại cho tôi biết bao nhiêu, cộng thêm tình người như thế làm tôi nản lắm rồi.

Vì đâu nên nỗi…

Tiếp xúc, những ông chủ trên đều tỏ thái độ rất rõ ràng, trong làm ăn thắng - thua, được - mất là chuyện thường tình, mỗi doanh nghiệp đều phải chấp nhận. Xu thế chung, đã khủng hoảng, các doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng. Nhưng điều họ lo lắng nhất là sự thay đổi đột ngột chính sách - kiểu như ra “toa thuốc” hạ sốt quá liều như trong thị trường bất động sản. Hay những quy định pháp luật không rõ ràng - không buộc được người giải quyết khiếu kiện phải giải quyết đúng thời hạn, như trong giải quyết khiếu nại đất đai…

Chính sách thay đổi bất thình lình, nhà đầu tư khó mà lường trước để trở tay. Quy định mập mờ tạo cơ hội cho những kẻ trục lợi ép người đầu tư. Họ cũng hy vọng cách hành xử của cơ quan quản lý cần có lý có tình hơn.

Ông Kim, sau những ngày điêu đứng tìm nguồn tiền cứu viện, đã tâm sự: “Tôi sốc vì nguy cơ phá sản đã đành, mà sốc hơn cả là người ta coi tôi như tội phạm, sợ tôi bỏ trốn, sợ tôi không trở lại nữa… Chẳng lẽ nào cơ nghiệp cả đời của tôi lại chấm dứt vì số nợ tiền lương của công nhân hay sao”. Xưởng may của ông giờ đã hoạt động trở lại, dần hồi phục, dù chưa được như xưa. Tuy vậy, không biết vết thương trong lòng ông liệu có lành?

Vậy đó, “đại gia” cũng “khóc”. Họ cũng là con người bình thường như bao người khác. Ở một góc độ nào đó, có thể xem họ là những người có công, khi góp phần làm giàu cho đất nước, tạo công ăn việc làm cho người khác. Vậy nên, khi họ “khóc” thì cũng cần có ai đó lắng nghe họ. Có thể là để xây dựng môi trường đầu tư lành mạnh và an toàn hơn bằng các biện pháp cải cách hành chính, các định chế pháp luật, và một cơ chế giám sát hiệu quả, tránh sự lạm quyền của cán bộ thực thi. Hoặc chỉ đơn giản là một cử chỉ chia sẻ, cách giải quyết thấu tình đạt lý, giúp họ vượt khó.

Được như vậy, sang năm mới, các đại gia nếu có khóc, là khóc vì quá hạnh phúc.

Luật sư Trịnh Thanh (SGTT)

SCIC sẽ bán vốn tại 170 doanh nghiệp trong năm 2010

Ảnh minh hoạ.
Theo báo cáo của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), tính đến hết năm 2009, vốn Nhà nước (theo sổ sách) do SCIC quản lý là 14.200 tỉ đồng, tăng 30% so với 10.955 tỉ đồng năm 2008. Doanh thu đạt 2.839 tỉ đồng (năm 2008 là 2.268 tỉ đồng). Tổng công ty nộp Ngân sách Nhà nước 97 tỉ đồng.

Như vậy, lũy kế đến 31/12/2009, SCIC đã bán vốn Nhà nước tại 315 doanh nghiệp (trong đó bán toàn bộ vốn nhà nước tại 289 doanh nghiệp) với giá trị sổ sách là 680 tỉ đồng, thực tế thu về là 1.536 tỉ đồng. Cũng theo báo cáo, năm 2009, tổng số doanh nghiệp được các bộ, ngành, địa phương chuyển giao vốn về SCIC là 19; giá trị sổ sách là 99,7 tỉ đồng.

Năm 2009 cũng là năm SCIC bán được nhiều nhất vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước với tổng số 211 công ty. Trong đó, đã bán toàn bộ vốn nhà nước tại 203 công ty, chưa tính thoái vốn nhà nước tại 6 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán.

Theo kế hoạch năm 2010, SCIC sẽ bán vốn tại 170 doanh nghiệp, đạt tổng doanh thu 1.800 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế khoảng 1.700 tỉ đồng, đưa tổng số vốn Nhà nước tại SCIC lên trên 20.000 tỉ đồng.
(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2010

Doanh nghiệp phần mềm “ăn” Tết mất vui vì cơ quan thuế

Ảnh minh hoạ.
Sau nhiều năm ung dung hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, bỗng dưng năm nay, Công ty TNHH Phát triển điện toán Y khoa Hoàng Trung (MEDSOFT) nhận được thông báo của Chi cục Thuế Quận 4, TP.HCM cho biết không đủ điều kiện để hưởng sự ưu đãi này.

Theo biên bản mới đây của Đội Kiểm tra thuế số 1 Chi cục Thuế Quận 4 thì Công ty TNHH Hoàng Trung kinh doanh sản phẩm dịch vụ phần mềm được hưởng ưu đãi về thuế TNDN với mức thuế suất và thời gian được hưởng theo điểm a, khoản 1, điều 3, quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2007, Công ty tự xác định tiếp tục được hưởng ưu đãi đầu tư theo Thông tư 123/2004/TT-BTC ngày 22/12/2004 của Bộ Tài chính, trong đó có hướng dẫn thực hiện ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp phần mềm, theo khoản 1, 2, mục I phần B, với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi là 10% và giảm 50%. Căn cứ theo Thông tư 123 hướng dẫn thực hiện ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp phần mềm, đối chiếu với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Hoàng Trung được cấp lần đầu ngày 10/6/2002, trước thời điểm Thông tư 123 có hiệu lực, giấy phép không ghi cụ thể mức ưu đãi, nên Đoàn Kiểm tra xác định Công ty Hoàng Trung không đủ điều kiện để tiếp tục được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo Thông tư 123 mà chỉ được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo điểm 2, khoản 1 điều 3, điều 4 Quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ, với thuế suất 25%, miễn thuế 4 năm bắt đầu từ năm 2003 đến hết năm 2006, nghĩa là kể từ năm 2007 không còn ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Phản ứng với quyết định trên, ông Phan Xuân Trung, Giám đốc Công ty Hoàng Trung cho rằng phân tích của Chi cục Thuế Quận 4 là không đúng.

Ông Trung viện dẫn Công văn số 1620/TCT-PCCS gửi Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam ngày 8/5/2006 ghi rõ: “Các doanh nghiệp phần mềm thành lập và hoạt động trong giai đoạn từ năm 2000 – 2005 thì được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn tại điểm 1, 2, 3 mục I, phần B Thông tư số 123/2004/TT-BTC ngày 22/12/2004 của Bộ Tài chính”. Theo đó, Công ty Hoàng Trung thành lập từ năm 2002 nên thuộc diện được hưởng ưu đãi thuế quy định trong Thông tư 123.

Cũng theo phản ánh của ông Trung, hàng năm, Công ty Hoàng Trung đều khai báo quyết toán thuế đến Chi cục Thuế Quận 4 và đều không có phản hồi nào về việc tính thuế ưu đãi từ cơ quan thuế này.

Ông Trung chia sẻ: “Chúng tôi rất bất ngờ khi Chi cục Thuế Quận 4 xác định Công ty Hoàng Trung không được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp”.

“Hầu hết các doanh nghiệp phần mềm tại TP.HCM đang đều gặp phải tình huống tương tự như của Hoàng Trung”, ông Trung cho biết thêm.

Vụ việc này đã được Công ty TNHH Hoàng Trung khiếu nại lên Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính.

(Bình Minh)-Efinance

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

Thêm một công ty đầu tư tài chính Nhà nước

Ảnh minh hoạ.
Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh với vốn điều lệ 5.000 tỷ vừa được Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Lê Hoàng Quân ký Quyết định thành lập trên cơ sở tổ chức lại Quỹ Đầu tư phát triển đô thị thành phố (HIFU).

Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (tên giao dịch tiếng Anh là Ho Chi Minh City Finance and Investment State owned Company – HFIC) là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu 100% vốn, được tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con.

Công ty này có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là: Huy động nguồn vốn từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài với các hình thức: phát hành trái phiếu, vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng, tiếp nhận các nguồn tài trợ, nhận uỷ thác các nguồn vốn; đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào các lĩnh vực, ngành nghề mà thành phố cần ưu tiên.

Vốn điều lệ của Công ty là 5.000 tỷ đồng, bao gồm: vốn và tài sản của HIFU, vốn tiếp nhận từ các tổng công ty và công ty nhà nước, các công ty TNHH một thành viên nhà nước; công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên, các công ty cổ phần được chuyển đổi từ các công ty nhà nước độc lập trực thuộc UBNDTP; vốn ngân sách thành phố cấp bổ sung và vốn hoạt động từ các nguồn khác.

(Theo TTXVN)

Thời kỳ hậu WTO: Cần một cơ chế chống “sốc”

Tròn 3 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các doanh nghiệp Việt Nam ít nhiều đã học được cách chống đỡ với các cú sốc, nhưng có thể nhận thấy, vẫn còn những lĩnh vực chưa phát triển đúng với tiềm năng.

Ngân hàng liên doanh Lào Việt và Viettel, nhà phát triển Unitel, hiện đang đẩy mạnh hoạt động tại thị trường Lào. (Ảnh: Doanh nhân)

Nhìn lại 3 năm gia nhập WTO, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đánh giá nền kinh tế có nhiều tín hiệu lạc quan, bởi chính trong khủng hoảng, những mặt mạnh, mặt yếu của nền kinh tế càng bộc lộ rõ.

Bằng sự ứng phó linh hoạt của Chính phủ, về cơ bản Việt Nam đã vượt qua khủng hoảng. Nếu nhìn vào tỉ trọng đầu tư toàn xã hội trong 2-3 năm trở lại đây, tỉ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng lên trên 20%, thậm chí có năm lên tới 30%, trong khi trước đó chỉ dừng lại ở mức 15-16%. Điều đó cho thấy tính hấp dẫn và tăng trưởng dài hạn của Việt Nam.

75% doanh nghiệp Việt Nam, qua khảo sát mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhìn nhận môi trường kinh doanh Việt Nam năm nay sẽ tốt hơn năm trước.

Thương mại dịch vụ cần được quan tâm

Tuy nhiên, vấn đề khiến cho các chuyên gia và doanh nghiệp đều tỏ ra băn khoăn là cần phải làm gì để tăng sức cạnh tranh của hàng Việt Nam khi hội nhập, đặc biệt khi các sản phẩm trong nước đang bị hàng ngoại giá rẻ ồ ạt kéo vào “đánh bạt” ngay trên sân nhà.

Theo tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế trung ương, các doanh nghiệp cần biết phát huy lợi thế của mình để tăng sức cạnh tranh, trong đó thương mại dịch vụ là một ưu thế lớn. Việt Nam vẫn thường hô hào là "Người Việt dùng hàng Việt" nhưng tại sao không đưa ra khẩu hiệu "Người Việt sử dụng dịch vụ Việt"?

Điều đáng nói ở đây là nhận thức, từ các cấp lãnh đạo đến các nhà hoạch định chính sách và các cấp thực hiện, cần phải hiểu rõ vai trò của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho ngành này phát triển về nhân lực, mức độ mở cửa, lộ trình mở cửa.

Phát triển thương mại dịch vụ chủ yếu liên quan đến chính sách “sau đường biên giới” chứ không phải chính sách trên đường biên giới. Đó là toàn bộ cải cách trong nước, ví như vấn đề tiêu chuẩn hóa, cấp phép, thủ tục hành chính, quy hoạch…, ông Thành phân tích.

Bà Nguyễn Thị Hồng Tín, Trợ lý Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, cho rằng Nhà nước cũng nên có các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ hàng trong nước. Tuy nhiên bà Tín cũng lưu ý các doanh nghiệp cần phải nỗ lực rất nhiều để đưa ra những dòng sản phẩm có chất lượng và dịch vụ tốt phù hợp với người Việt Nam.

Theo giáo sư-tiến sĩ Nguyễn Mại, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoàn toàn có thể sử dụng các yếu tố kỹ thuật trong quá trình thực hiện cam kết WTO.

Dường như vấn đề này chưa được các cơ quan quản lý nhà nước thực sự lưu ý. Đơn cử là dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định về thuế xuất nhập khẩu với nội dung giảm ưu đãi về nhập khẩu thiết bị, mới đây được điều chỉnh theo hướng đặt ra thêm điều kiện “các trang thiết bị ấy Việt Nam chưa sản xuất được”.

“Tôi rất lo ngại không biết ai sẽ kiểm tra xác định thiết bị đó sản xuất được, sản xuất đủ ở Việt Nam, quy định như thế sẽ dẫn đến thủ tục hành chính rất lôi thôi. Theo tôi không nên thêm điều kiện này. Chính phủ cần yêu cầu các nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, chủ động đối phó với các doanh nghiệp vi phạm bán phá giá tại Việt Nam và tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam phát triển”, ông Nguyễn Mại bình luận.

Cần khuyến khích đầu tư ra nước ngoài

Trong khi các doanh nghiệp tại thị trường trong nước đang tìm cách phát huy tối đa lợi thế về thương mại dịch vụ thì các doanh nghiệp có dự định đầu tư ra nước ngoài tỏ ra khá băn khoăn khi vẫn thiếu nhiều chính sách cho lĩnh vực này.

Hiện con số đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam tương đối khiêm tốn. Cho đến năm 2009 chỉ có chưa đến 1 tỷ USD vốn thực hiện. Năm nay cam kết có nhiều hơn, nhưng đó cũng chỉ mới là khả năng, để trở thành hiện thực còn một quãng đường dài.

Bên cạnh việc khắc phục những hạn chế của các ngân hàng trong khâu chuyển tiền ra nước ngoài, doanh nghiệp cũng mong muốn Chính phủ có những ưu đãi về thuế để họ khẳng định được chỗ đứng ở thị trường tiềm năng.

Chính sách thuế và những kiến thức bổ trợ là rất cần thiết. Doanh nghiệp mong muốn Nhà nước thường xuyên cung cấp thông tin về tình hình chính trị-kinh tế-xã hội của thị trường bạn để có thể lựa chọn phân khúc đầu tư.

Đã đến lúc Bộ Kế hoạch&Đầu tư cần phải có một chiến lược thực sự đầy đủ để giúp đỡ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư Việt Nam xuất hiện ở các thị trường lân cận như Lào, Campuchia, sau đó là các thị trường khác. Hệ thống các doanh nghiệp cũng cần phải đào tạo kỹ lưỡng những bộ phận làm về pháp chế để tránh những sai lầm do không hiểu biết khi hội nhập kinh tế quốc tế, bà Nguyễn Thị Hồng Tín chia sẻ.

Về phía các doanh nghiệp, giáo sư Nguyễn Mại lưu ý nên chú trọng hơn đến chiến lược dài hạn. Doanh nghiệp cần phải lựa chọn những thị trường mà Việt Nam có thế mạnh nhất, trước hết là Campuchia và Lào. Ở đó có những doanh nghiệp rất thành đạt như Viettel ở Campuchia, Hoàng Anh Gia Lai ở Lào và các doanh nghiệp khác có thể học hỏi thành công từ đó.

Khi đầu tư ra nước ngoài các doanh nghiệp Việt Nam nên tìm cách liên kết lại với nhau để có những dự án tầm cỡ, chiếm lĩnh thị trường giống như bà con Việt kiều ở Canada đã “bao trọn” cả thị trường mỳ ăn liền ở đây.

Theo giáo sư Nguyễn Mại, năm nay sẽ là năm diễn biến không thuận chiều đối với doanh nghiệp vì thắt chặt tín dụng là một xu hướng hầu như chắc chắn.

Thống đốc Ngân hàng đã công bố tín dụng năm nay sẽ giảm xuống còn khoảng 25%. Do đó, doanh nghiệp phải sử dụng đồng vốn hiệu quả hơn, chắt chiu hơn, tính toán kỹ lưỡng nên sản xuất cái gì, bán cho ai.
Nguồn: Theo Doanh nhân/Vietnam+

HSBC: Doanh nghiệp Việt Nam lạc quan nhất châu Á

Bên ngoài trụ sở HSBC tại Tp.HCM - Ảnh: Duy Cường.

Chỉ số tin tưởng của các doanh nghiệp Việt Nam tăng 10 điểm từ 150 lên 160, là chỉ số lạc quan cao nhất trong khu vực châu Á
Chỉ số tin tưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam tăng 10 điểm lên 160, cho thấy mức lạc quan cao nhất trong khu vực châu Á.

Ngân hàng HSBC vừa công bố kết quả khảo sát mức độ tin tưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ với quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Các cuộc khảo sát này được thực hiện định kỳ hai lần một năm, nhằm tìm hiểu nhận định của các doanh nghiệp vừa và nhỏ về tình hình tăng trưởng kinh tế địa phương, kế hoạch đầu tư vốn và tuyển dụng trong 6 tháng tới.

Ở cuộc khảo sát lần thứ 5 vừa công bố, được tiến hành vào tháng 10 và 11/2009, có ý kiến của hơn 6.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ tại 20 thị trường châu Á, Trung Đông, châu Âu, Bắc Mỹ và Mỹ La tinh. Kết quả trả lời được sử dụng để tính mức độ lạc quan theo thang bậc từ 0 đến 200; trong đó 200 thể hiện mức độ lạc quan cao nhất, 0 đại diện cho mức độ thấp nhất và 100 là mức độ lạc quan trung bình.

Kết quả khảo sát cho thấy, mức độ lạc quan của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam tăng 10 điểm trong quý 4/2009, đạt mức cao nhất kể từ khi bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu vào quý 4/2008.

Cụ thể, chỉ số đánh giá mức độ tin tưởng ở châu Á tăng từ 107 ở quý 2/2009 lên 122 vào quý 4/2009. Chỉ số này của các doanh nghiệp Việt Nam tăng từ 150 lên 160 điểm, là chỉ số lạc quan cao nhất trong khu vực châu Á. Hồng Kông có sự gia tăng cao nhất về chỉ số tin tưởng từ 83 lên 108 điểm, đưa thị trường này từ ngưỡng tiêu cực ở quý 2/2009 trở lại ngưỡng tích cực ở quý 4/2009. Việt Nam vẫn đứng đầu bảng khảo sát với chỉ số tin tưởng (160 điểm), theo sau là Ấn Độ (132 điểm), Trung Quốc (124 điểm) và Singapore (117 điểm).

Chỉ số tin tưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của các nước và vùng lãnh thổ trên toàn cầu cho thấy một cái nhìn lạc quan: Trung Đông (125 điểm), Mỹ La Tinh (118 điểm), Mỹ và Canada (107 điểm), Anh Quốc (101 điểm), Pháp (94 điểm). Các thị trường mới nổi tại châu Á, Trung Đông, Mỹ La tinh và Đông Âu có mức độ lạc quan cao hơn hẳn các thị trường đã phát triển như Mỹ, Canada, Anh - với chỉ số tin tưởng trung bình là 121 điểm so với mức 106 điểm của các thị trường phát triển.

Về triển vọng tăng trưởng kinh tế, 71% doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam tin rằng tốc độ tăng GDP sẽ cao hơn, 23% tin rằng mức tăng trưởng sẽ không đổi trong khi chỉ 6% nghĩ rằng mức tăng trưởng sẽ chậm lại trong 6 tháng tới.

Tại Trung Đông, 47% doanh nghiệp vừa và nhỏ tin tốc độ tăng trưởng sẽ cao hơn; con số này tại Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ là 41%. Tại Pháp, chỉ có 11% doanh nghiệp vừa và nhỏ kỳ vọng vào tốc độ tăng trưởng sẽ cao hơn.

Về triển vọng đầu tư vốn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cũng lạc quan hơn khi nói về kế hoạch đầu tư kinh doanh của mình trong nửa đầu năm 2010. Hơn một nửa trong số họ (66%) cho biết đang lên kế hoạch tăng đầu tư vào các hoạt động kinh doanh, 32% cho biết sẽ duy trì ở mức cũ và chỉ có 1% có kế hoạch cắt giảm đầu tư.

Về kế hoạch tuyển dụng, 54% doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam được hỏi cho biết sẽ bắt đầu tuyển dụng lại. 30% cho biết họ sẽ tăng số nhân viên lên đến 20%. 18% sẽ tăng nhân sự lên trên 20%. 44% doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ giữ nguyên số nhân viên. Con số các doanh nghiệp vừa và nhỏ lên kế hoạch cắt bớt nhân sự giảm xuống còn 1% (quý 2/2009 là 3%).

Theo Vneconomy

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2010

Top 10 nhân vật CNTT và truyền thông của thập kỷ

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cùng với 9 cá nhân tiêu biểu trong lĩnh vực công nghệ thông tin truyền thông vừa được các nhà báo bình chọn là nhân vật xuất sắc nhất ngành trong giai đoạn 2000-2009.

Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông - Nguyễn Minh Hồng trao kỷ niệm chương cho các cá nhân tiêu biểu có mặt trong sáng nay. Ảnh: Báo Bưu Điện.

1. Tiến sĩ Mai Liêm Trực - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, nguyên thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông và được coi là người mở đường cho bùng nổ Internet tại Việt Nam. Ông sinh năm 1944, tốt nghiệp Đại học Kỹ thuật Dresden (Đức) và thông thạo 5 ngoại ngữ. Năm 1979, ông bảo vệ luận án tiến sỹ ngành kỹ thuật thông tin liên lạc Đại học Kỹ thuật Dresden (Đức).

Từng là giám đốc của VNPT, song Tiến sĩ Mai Liêm Trực cũng là người ủng hộ việc phá bỏ độc quyền doanh nghiệp trong lĩnh vực viễn thông. Ông là người rất tạo điều kiện cho những doanh nghiệp mới phát triển như Viettel hay S-Fone, phá bỏ thế độc quyền của VNPT trong lĩnh vực này, mang lại sức phát triển mạnh mẽ cho viễn thông Việt Nam trong những năm qua.

Tiến sĩ Mai Liêm Trực. Ảnh: Ictnews.

Nổi tiếng là người cương trực, thẳng thắn, chính ông - khi còn làm Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) - đã có lời phát biểu còn được nhớ đến ngày hôm nay: “Bóng đá Việt Nam ở dưới mặt bằng phát triển chung của xã hội”.

Tiến sĩ Mai Liêm Trực sinh ra tại đất võ Bình Định trong một gia đình có 8 anh em. Trong đó, ông có người anh là Mai Kỷ - nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm UB Dân số và người em là Mai Ái Trực - nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

2. Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân - Người được đánh giá là nhân vật có tầm ảnh hưởng khá rõ rệt trên lĩnh vực phần mềm, nhân lực và ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách hành chính. Khi còn đảm nhận vị trí Phó chủ tịch Thường trực UBND TP HCM ông dành nhiều thời gian cho công tác chỉ đạo phát triển công nghệ thông tin của thành phố. Dấu ấn của ông còn tại Dự án xây dựng Công viên phần mềm Quang Trung (QTSC). Nơi đây đã quy tụ 104 doanh nghiệp phần mềm, đào tạo trên 3.500 kỹ sư, chuyên viên.

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Ảnh: GDTD.

Ông cũng lưu tâm vấn đề đào tạo nhân lực, phục vụ xuất khẩu lao động; tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, mở rộng quy mô, hình thành các cơ sở nghiên cứu khoa học. Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đang đảm nhận vai trò Trưởng ban Chỉ đạo Quốc gia về Công nghệ thông tin và Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo.

3. Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Người đứng sau chỉ thị 58 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bản chỉ thị này đã tạo nền tảng cho sự phát triển của CNTT-TT Việt Nam trong thập kỷ qua.

Viện sĩ Đặng Hữu sinh ngày 2/1/1930 tại tỉnh Bình Định. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ giao thông vận tại tại trường MADI (Liên Xô cũ) năm 1966, được Viện Hàn lâm giao thông LB Nga bầu làm Viện sĩ chính thức năm 1994. Ông từng kinh qua các vị trí Hiệu trưởng Đại học Bách khoa, TP HCM (năm 1975-1976); Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp; Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và KTNN, Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường.

Từ năm 1997 - 2002, GS. Viện sĩ Đặng Hữu là Trưởng ban chỉ đạo chương trình quốc gia về CNTT. Năm 2003, ông giành Giải thưởng ASOCIO của Tổ chức công nghiệp Tin học châu Á và Thái Bình Dương tặng cho người có đóng góp nhiều nhất cho phát triển CNTT.

4. Nguyên thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ - Chu Hảo. Ông được mệnh danh là "bộ óc" mở về phát triển công nghệ phần mềm và thu hút công nghệ cao. Ông Chu Hảo bắt đầu gắn bó với CNTT với vai trò là chánh văn phòng Chương trình quốc gia về phát triển CNTT từ năm 1995. Sau đó một năm (1996), ông được bộ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (khi đó là Bộ quản lý nhà nước về CNTT), đồng thời giữ chức trưởng ban quản lý khu công nghệ cao Hòa Lạc.

Trong 10 năm 2000-2009, khi còn là Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ, ông Hảo có vai trò lớn trong việc thuyết phục Chính phủ ban hành Nghị quyết 07/CP năm 2000 đặt ra mục tiêu đưa phần mềm trở thành ngành công nghiệp đạt doanh thu 500 triệu USD vào năm 2005. Đây là văn bản đặt nền móng cho sự phát triển ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam và cũng là cơ sở cho sự ra đời những chính sách ưu cho công nghiệp phần mềm sau đó. Tuy nhiên, mục tiêu 500 triệu USD của ngành phần mềm đã không thành công, phải đến 2 năm sau (2007) mục tiêu này mới đạt được.

Ông Hảo cũng là người có đóng góp tích cực trong việc thu hút các tập đoàn công nghệ lớn đầu tư vào Việt Nam. Ông cũng là người đầu tiên gặp gỡ Intel để mời họ đầu tư nhà máy sản xuất tại Việt Nam. Tuy nhiên, ông đã thất bại trong việc lôi kéo Intel đầu tư xây dựng nhà máy kiểm định và lắp rắp chip tại khu công nghệ cao Hòa Lạc, một dự án ông hy vọng nếu thành công sẽ thúc đẩy tiến độ xây dựng khu công nghệ cao này.

Hiện nay, ông Hảo là giám đốc NXB Tri Thức và cũng đang ấp ủ dự án 1.000 cuốn sách mang tinh hoa tri thức của nhân loại đến cho người Việt Nam.

5. Nguyên Bộ trưởng Bưu chính Viễn thông - Đỗ Trung Tá - người tâm huyết "phủ sóng" viễn thông, Internet vùng nông thôn. Ông đang đảm nhận vị trí đặc phái viên của Thủ tướng về công nghệ thông tin.

Ông Đỗ Trung Tá được nhắc đến với vai trò là người "chèo lái" con thuyền Tập đoàn Bưu chính Viễn thông VNPT ở thời điểm bắt đầu mở cửa thị trường viễn thông và Internet, đưa viễn thông Việt Nam và VNPT là chủ đạo phát triển mạnh mẽ, là một trong những quốc gia dẫn đầu về tốc độ phát triển bưu chính, viễn thông.

Nguyên Bộ trưởng Bưu chính Viễn thông - Đỗ Trung Tá. Ảnh: BĐ.

Khi là lãnh đạo VNPT hay sau này là Bộ trưởng Bưu chính Viễn thông, ông mong muốn làm sao quan tâm hơn nữa đến khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, chiếm khoảng 70% dân số Việt Nam bởi theo ông sự khi thành phố đang dần ở mức bão hòa về nhu cầu dịch vụ viễn thông, CNTT, mỗi người cần hiểu rằng càng tới mức bão hòa bao nhiêu thì khoảng cách nông thôn - thành thị càng xa bấy nhiêu. Vì vậy, một mục tiêu khi còn là Bộ trưởng, ông Tá luôn đặt ra là phải quyết đẩy nhanh hơn để thu hẹp khoảng cách số. Khoảng cách số không chỉ nói về kỹ thuật mà là thông tin, sự gần gũi của chính quyền với người dân. Khi chính phủ điện tử ra đời, Chính phủ phục vụ các dịch vụ công tốt cho người dân, người dân gần gũi với Chính phủ hơn.

Ông Trương Gia Bình. Ảnh: H.H.

6. Ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn FPT. Người được coi là "tượng đài" của ngành phần mềm Việt Nam. Ông Trương Gia Bình sinh năm 1956, là một trong những thành viên chủ chốt sáng lập ra Công ty Cổ phần FPT (công ty được thành lập ngày 13/9/1988 với 13 thành viên sáng lập). Từ năm 1988 đến năm 2008, ông Trương Gia Bình là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc của FPT, đưa công ty FPT trở thành công ty CNTT hàng đầu Việt Nam sau 20 năm thành lập và hoạt động.

Ông Trương Gia Bình còn được biết đến với vai trò đầu tàu trong việc phát triển một trong những doanh nghiệp phần mềm đầu tiên tại Việt Nam là Công ty cổ phần phần mềm FPT, cùng chiến lược toàn cầu hóa vào năm 1999. Ông cũng là người tham gia tích cực vào việc xây dựng Nghị quyết 07/CP của Chính phủ ngày 5/6/2000 về phát triển công nghiệp phần mềm Việt Nam giai đoạn 2000-2005, cùng việc tham gia tích cực thành lập và xây dựng nên Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam (VINASA). Trên con đường phát triển của ngành phần mềm Việt Nam trong những năm qua, cho dù có những lúc thuận lợi hay khi gặp những chông gai, trắc trở thì dấu ấn của Trương Gia Bình - con người có năng lực lãnh đạo, tài thuyết khách và khả năng quy tụ tài năng xung quanh mình - và vẫn luôn nổi bật.

Hình ảnh cá nhân của Trương Gia Bình trong con mắt cộng đồng CNTT thế giới cũng rất đậm nét. Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp CNTT nổi tiếng như Bill Gates của Microsoft, Paul Otellini của Intel… khi đến thăm Việt Nam đều có những cuộc tiếp xúc riêng với Trương Gia Bình. Ông Trương Gia Bình cũng được bình chọn là một trong 10 nhân vật có ảnh hưởng nhất đến sự phát triển của Internet Việt Nam giai đoạn 1997-2007.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Phó tổng giám đốc Viettel. Ảnh: ictnews.

7. Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Phó tổng giám đốc Tập đoàn Viettel - linh hồn của cỗ máy khiến dịch vụ di động, Internet nhanh chóng trở thành dịch vụ bình dân. Năm 2000, Viettel bắt đầu bước chân vào thị trường Viễn thông với dịch vụ điện thoại giá rẻ đường dài trong nước (VoIP). Đây là dịch vụ viễn thông đầu tiên được mở ra để cạnh tranh trên thị trường viễn thông lúc bấy giờ. Thời điểm đó, dịch vụ VoIP được mệnh danh là 'thu hồi vốn trong 1 ngày". Từ dịch vụ này Viettel đã tiến đến cuộc cách mạng thứ hai là mở mạng di động vào tháng 9/2004. Trước đó năm 2003, liên doanh SPT và SK Telecom đã khai trương mạng di động S-Fone. Nhưng thị trường di động chỉ bị phá vỡ thế độc quyền khi Viettel chính thức cung cấp dịch vụ và góp phần lớn định nghĩa lại dịch vụ từ xa xỉ trở thành bình dân.

Năm 2006, Viettel bắt đầu tiến ra thị trường nước ngoài với việc cung cấp dịch vụ viễn thông và Internet tại thị trường Campuchia và sau đó là cung cấp dịch vụ di động tại Lào và Campuchia trong năm 2009. Chỉ sau 9 năm bước vào thị trường viễn thông Việt Nam, Viettel đã bước đi từ con số không đến trở thành doanh nghiệp có mạng di động lớn nhất Việt Nam và có tiếng vang ra quốc tế. Liên tục trong 5 năm liền Viettel đạt mức tăng trưởng doanh thu năm sau gấp đôi năm trước.

Xuyên suốt quá trình phát triển thần tốc của Viettel đó có vai trò to lớn của ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó tổng giám đốc của Viettel. Ông Hùng được các đối thủ nhìn nhận là người có tầm nhìn xa, có chiến lược tốt và có tài lãnh đạo và được mệnh danh là "bộ não" của Viettel.

Ông Vũ Hoàng Liên - Giám đốc VDC. Ảnh: Ictnews.

8. Ông Vũ Hoàng Liên - thuyền trưởng VDC - doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet và có công lớn trong việc đưa công nghệ ADSL vào Việt Nam từ ngày 1/7/2003 với thương hiệu MegaVNN. Từ khi Việt Nam có Internet băng rộng, số lượng người được sử dụng dịch vụ này tăng lên với cấp số nhân. Internet từ chỗ là thứ xa xỉ phẩm, chỉ là băng hẹp, giá cao, các dịch vụ hạn chế nay đã trở nên phổ biến với nhiều dịch vụ gia tăng, với khoảng 30% dân số Việt Nam sử dụng. ADSL đã thúc đẩy sự phát triển bùng nổ của các dịch vụ nội dung số, đặc biệt là game online, mạng xã hội và những dịch vụ giải trí như nhạc số…. và trở thành phần không thể thiếu của xã hội ngày nay.

9. Ông Thân Trọng Phúc - người Intel về Việt Nam. Ông Thân Trọng Phúc sinh ra ở Sài Gòn, Việt Nam, di cư đến Mỹ năm 1975 và hiện mang quốc tịch Mỹ. Ông tốt nghiệp ĐH California năm 1985 với tấm bằng cử nhân chuyên ngành kỹ nghệ điện tử và khoa học máy tính (Electrical Engineering and Computer Sciences). Ông khởi nghiệp ở Tập đoàn Intel tại Santa Clara (Mỹ) năm 1986 ở vị trí kỹ sư phát triển thị trường (Market Development Engineer), chịu trách nhiệm phát triển kinh doanh của Intel trong thị trường CAD/CAM.

Tháng 1/2000, Thân Trọng Phúc được bổ nhiệm làm Giám đốc Intel tai Việt Nam, chịu trách nhiệm phát triển các hoạt động kinh doanh của Intel ở Việt Nam. Năm 2002, ông gánh thêm trách nhiệm kinh doanh của Intel ở thị trường Lào và Campuchia. Tháng 10/2009, ông Phúc quyết định rời Intel Việt Nam - một quyết định được cho là “mang tính cá nhân”- và đến trung tuần tháng 12/2009, Quỹ DFJ VinaCapital (DFJV) công bố ông Phúc là Giám đốc điều hành của Quỹ này.

Trong 9 năm làm việc tại Intel Việt Nam, ông Thân Trọng Phúc đã góp phần quan trọng vào sự thành công của hãng sản xuất chip hàng đầu thế giới này tại thị trường Việt Nam, Lào và Campuchia. Thị phần chip của Intel tại Việt Nam hiện đạt hơn 90% (thị phần của Intel trên toàn cầu hiện là khoảng 80%), đưa Intel Việt Nam trở thành một trong số ít các công ty của Intel trên toàn cầu hoạt động hiệu quả và sáng tạo trong lĩnh vực bán hàng. Sự thành công của Intel tại thị trường Việt Nam cũng góp phần không nhỏ vào sự phát triển và phổ cập của máy tính và CNTT tại Việt Nam trong thập kỷ qua.

Ông Thân Trọng Phúc cũng được biết đến với vai trò là cầu nối thành công giữa Intel với Chính phủ Việt Nam, mà nổi bật trong đó là việc góp phần đưa dự án đầu tư xây dựng nhà máy kiểm định và đóng gói chip Intel - nhà máy lớn nhất của Intel trong hệ thống 7 nhà máy của hãng trên toàn thế giới - trị giá 1 tỷ USD về Khu Công nghệ cao TP HCM năm 2006. Nhà máy của Intel tại Việt Nam sẽ đi vào hoạt động trong năm 2010 này...

Ông Nguyễn Tử Quảng. Ảnh: Saigontimes.

10. Ông Nguyễn Tử Quảng - người tiên phong trong lĩnh vực bảo mật Việt Nam. Khi còn là sinh viên năm thứ 3 năm 1995, ông đã viết phiên bản đầu tiên của phần mềm diệt virus BKAV (Bách khoa Antivirus) và cung cấp miễn phí trên phạm vi cả nước. Đến năm 1997, phần mềm này được cung cấp miễn phí trên mạng ngay sau khi Việt Nam kết nối với mạng Internet toàn cầu.

Cùng thời với BKAV, Việt Nam còn có một số phần mềm diệt virus khác như FAV, TAV, ATV, D2. Nhưng trong số các phần mềm ra đời sớm này, chỉ còn BKAV và gần đây có thêm sản phẩm nữa của CMC Infosec tồn tại để cạnh tranh với các thương hiệu phần mềm diệt virus của nước ngoài. Theo số liệu Bkis cung cấp, phần mềm BKAV có 10,5 triệu người sử dụng sản phẩm với 110.000 lượt người truy cập mỗi ngày, sản phẩm đã có mặt ở 103 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tính đến cuối quý III/2009, BKAV chiếm khoảng 85% thị phần phần mềm diệt virus có bản quyền ở Việt Nam.

Cuộc bình chọn cá nhân xuất sắc nhất thập kỷ 2000-2009 do Báo Bưu điện - Cơ quan ngôn luận của Bộ Thông tin và Truyền thông cùng với phóng viên chuyên trách của trên 30 tờ báo lớn, trong đó có VnExpress.net tham gia. Tiêu chí đánh giá được căn cứ trên các thành tựu đóng góp của các cá nhân đối với ngành viễn thông, công nghệ thông tin và truyền thông. Nhân vật tiêu biểu sẽ do các đơn vị, tổ chức, các nhà báo đề xuất kèm bản lược trích về cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp của họ cho ngành.

10 nhân vật tiêu biểu được lựa chọn từ danh sách trên 20 cá nhân được đề cử... đều là những nhân vật có thành tích xuất sắc, có góp quan trọng, thiết thực và hiệu quả cho sự phát triển ngành công nghệ thông tin, truyền thông của VN trong suốt 10 năm qua.

Theo Hồng Anh tổng hợp-Vnexpress

Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2010

Tăng “tiếng nói” doanh nghiệp trong đàm phán thương mại quốc tế

Uỷ ban Tư vấn chính sách thương mại quốc tế sẽ "vận động" hình thành quy trình chính thức để doanh nghiệp góp "tiếng nói" trong đàm phán quốc tế của Việt Nam. Ảnh: B.M
(eFinance Online) - Uỷ ban Tư vấn về chính sách thương mại quốc tế vừa chính thức ra mắt sáng nay, 29/1/2010 sẽ đóng vai trò cầu nối, diễn đàn giữa Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình hoạch định chính sách, đàm phán và thực thi các cam kết thương mại quốc tế.

Thiếu nguyên liệu đầu vào

TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thẳng thắn nhận định: ở góc độ quốc tế, sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào các chính sách, cam kết thương mại quốc tế của Việt Nam vẫn còn hạn chế. Trên thực tế, đến nay vẫn chưa có cơ chế chính thức nào về việc doanh nghiệp có tiếng nói, trình bày trước các cơ quan đàm phán về nhu cầu, lợi ích và những vấn đề cần quan tâm. Một số trường hợp doanh nghiệp được hỏi ý kiến thì cũng chỉ mang tính hình thức và thiếu tính đại diện.

Điều này khiến các cơ quan đàm phán thiếu đi một nguồn “nguyên liệu đầu vào” thực tiễn để có các tính toán thích hợp hơn, đồng thời cộng đồng doanh nghiệp cũng thiếu thông tin để tận dụng tốt các lợi thế mà các cam kết quốc tế mang lại, cũng như sẵn sàng chuẩn bị để đối mặt được với các thách thức.

“Trong hoàn cảnh hội nhập quốc tế đang ngày càng sâu rộng với việc Chính phủ gia tăng các hình thức đàm phán quốc tế, thì việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào quá trình đàm phán, thực thi các cam kết quốc tế của Chính phủ càng đặc biệt cần thiết”, ông Lộc nhận xét.

Sáng kiến của VCCI

Với mục tiêu bước đầu tạo ra một kênh hiệu quả để tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp được lắng nghe, và lợi ích của các bên liên quan được tính đến một cách hài hoà trong quá trình hoạch định chính sách, đàm phán và thực thi các cam kết thương mại quốc tế, tiến tới thuyết phục Chính phủ thiết lập một cơ chế tham vấn chính thức giữa cơ quan Nhà nước với cộng đồng doanh nghiệp, VCCI đã quyết định triển khai chương trình dài hạn có tên “Doanh nghiệp và chính sách thương mại quốc tế”.

Và sáng kiến thành lập Uỷ ban Tư vấn về chính sách thương mại quốc tế là một trong những hoạt động tích cực trong khuôn khổ chương trình dài hạn vừa nêu.

Ông Trần Hữu Huỳnh, Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng Ban Pháp chế, VCCI cho biết. Uỷ ban Tư vấn về chính sách thương mại quốc tế có 30 thành viên, gồm các chuyên gia đến từ các cơ quan có thẩm quyền trong việc đàm phán, thực thi các cam kết quốc tế, đại diện các doanh nghiệp và hiệu hội.

Ban Thư ký của Ủy ban Tư vấn về chính sách thương mại quốc tế đặt tại Trung tâm WTO của VCCI là đơn vị trợ giúp và đảm nhiệm các hoạt động thường xuyên của Ủy ban này.

Uỷ ban Tư vấn về chính sách thương mại quốc tế vừa chính thức ra mắt sáng nay, 29/1/2010, đồng thời với Lễ khai trương Cổng thông tin WTO - Hội nhập.

(BM)-Efinance

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2010

Sẽ có cơ chế riêng cho việc CPH các tập đoàn

sÏ cã c¬ chÕ riªng

cho viÖc cph c¸c tËp ®oµn

Ông Đặng Quyết Tiến

“Trong quá trình sửa đổi, bổ sung Nghị định 109/2007/NĐ-CP về việc chuyển DN 100% vốn nhà nước thành CTCP, Bộ Tài chính đã đưa ra một số đề xuất mới về bán cổ phần cho cổ đông chiến lược, nhằm tháo gỡ đang làm cản trở quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp (DN) 100% vốn nhà nước”, ông Đặng Quyết Tiến, Phó cục trưởng Cục Tài chính DN (Bộ Tài chính) tiết lộ.

Hữu Hòe thực hiện

Thưa ông, cụ thể các đề xuất đó là gì?

Trong lần sửa đổi Nghị định 109 này, để tháo gỡ vướng mắc về bán cổ phần cho cổ đông chiến lược, Bộ Tài chính đề xuất 3 phương án. Theo đó, có trường hợp bán cổ phần cho cổ đông chiến lược xong mới bán đấu giá cổ phần DN. Trường hợp khác là tiến hành hai việc này song song với nhau và phương án cuối cùng là sau khi kết thúc việc bán đấu giá cổ phần DN mới bán cổ phần cho cổ đông chiến lược.

Nếu đề xuất này được thông qua, thì các DN sẽ được lựa chọn 1 trong 3 phương án trên, hay họ bị ấn định phải áp dụng một phương án cụ thể?

Căn cứ để lựa chọn áp dụng các phương án này là tuỳ vào mục tiêu cụ thể của phương án cổ phần hoá (CPH) DN đặt ra. Nếu CPH DN muốn đạt mục tiêu là nâng cao năng lực quản trị DN, thì câu chuyện về giá sẽ bị xếp xuống hàng thứ yếu sau năng lực quản trị của cổ đông chiến lược. Trong trường hợp này có thể chấp nhận bán cổ phần cho cổ đông chiến lược theo giá thoả thuận thấp hơn giá thị trường. Đến đây, một câu chuyện khác đặt ra là cách xử lý này có làm thất thoát tài sản của Nhà nước? Câu trả lời sẽ được làm rõ trong quá trình sửa đổi Nghị định 109, để tạo bước đột phá trong CPH doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sắp tới. Nếu trong phương án CPH một DN cụ thể đặt ra mục tiêu phải huy động được nguồn vốn từ các cổ đông chiến lược, thì lúc bấy giờ câu chuyện bán cổ phần với giá cao có thể được đặt lên hàng đầu. Việc đưa ra 3 phương án trên nhằm đảm bảo tính linh hoạt trong việc gỡ nút thắt về tìm kiếm cổ đông chiến lược mà tiến trình CPH thời gian qua gặp phải.

Một điểm nghẽn lớn khác đang làm cản trở quá trình CPH DNNN là việc tính giá trị, lợi thế về vị trí địa lý đất đai khi xác định giá trị DN. Bộ Tài chính có đề xuất gì để tháo gỡ, thưa ông?

Theo chỉ đạo của Chính phủ, sẽ đưa quy định giá trị, lợi thế về vị trí địa lý đất đai khi xác định giá trị DN vào Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 109. Hiện Bộ Tài chính đang phối hợp với các bộ, ngành hữu quan, các chuyên gia quốc tế tính toán phương án cụ thể. Ở đây chủ yếu giải quyết vấn đề kỹ thuật đưa vào như thế nào, để giúp DN không gặp phải những khó khăn như thời gian qua.

Việc CPH các DN lớn, đặc biệt là tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang lúng túng, chậm trễ, mà một trong những nguyên nhân là Nhà nước vẫn muốn nắm giữ phần lớn cổ phần sau CPH. Tình trạng này sẽ được tháo gỡ ra sao trong cơ chế CPH mới?

Chính phủ vừa có chủ trương thành lập các tập đoàn đa sở hữu, mà trước tiên là sẽ thành lập Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam theo mô hình này. Đây là một bước tiến lớn trong quá trình sắp xếp lại DNNN. Đối với những tập đoàn, tổng công ty còn lại mà Nhà nước đang nắm 100% vốn, nếu điều kiện cho phép cũng sẽ sắp xếp lại theo mô hình đa sở hữu, để có thể huy động vốn, trí tuệ của các đối tác bên ngoài tham gia phát triển DN. Tuy nhiên, đây là những DN đặc thù, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, bởi vậy trong quá trình sửa đổi chính sách CPH DN 100% vốn nhà nước, các cơ quan quản lý đang tính toán để đưa ra những cơ chế đặc thù, phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam. Giải quyết ổn thoả vấn đề này sẽ đẩy nhanh tiến độ CPH DNNN trong thời gian tới.

Bao giờ thì việc sửa đổi Nghị định 109 kết thúc để cơ chế CPH mới chính thức có hiệu lực, thưa ông?

Bộ Tài chính sẽ phải kết thúc việc sửa đổi, bổ sung văn bản này trong 6 tháng đầu năm 2010 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành.

Tại hội thảo "DN CPH và chính sách CPH DN" do Bộ Tài chính phối hợp với Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức ngày 19/1, bà Lê Thị Ngọc Liên, chuyên gia của UNDP cho rằng, Việt Nam nên tính đến thay đổi mô hình công ty. Theo đó, các DN nên là hoặc 100% vốn nhà nước hoặc 100% vốn tư nhân, hình thức chung vốn sở hữu hiện tại nên là trường hợp đặc biệt, chứ không nên phổ biến như hiện nay. Trong chính sách CPH DNNN sắp tới, nên tính đến CPH triệt để (bán 100% vốn nhà nước) một số DN thuộc các lĩnh vực mà Nhà nước không cần nắm cổ phần (như thuỷ sản, dệt may, rượu bia…). Nếu tiếp tục CPH theo mô hình hiện nay, Nhà nước rất vất vả trong quản lý DN sau CPH, trong khi hiệu quả mang lại chưa được bao nhiêu. Cách làm hiện nay chưa tạo động lực cho DN sau CPH phát triển nhanh hơn, vì ít nhiều họ vẫn ỷ lại Nhà nước qua hình thức tiếp cận cơ quan ra chính sách, đất đai, vốn…


Theo ĐTCK

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

Doanh nghiệp tăng lãi ròng năm 2009 nhờ chính sách thuế

Ảnh minh hoạ.
(eFinance Online) - Năm 2009 được nhìn nhận là năm Chính phủ Việt Nam có nhiều chính sách hỗ trợ kinh tế cho doanh nghiệp nhất, với hàng loạt chính sách được ban hành như giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) năm 2009, cho vay bù lãi suất thông qua 2 gói kích cầu của Nhà nước, giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) một số mặt hàng…, cộng hưởng với hiệu lực của Luật Thuế TNDN mới cũng như quy định linh hoạt về cách xử lý lỗ chênh lệch tỷ giá… Các chính sách này đã giúp cải thiện lãi ròng của doanh nghiệp năm 2009 so với trước.

Giảm 30% thuế TNDN phải nộp trong năm 2009

Theo Thông tư 03/2009/TT-BTC ngày 22/1/2009, những doanh nghiệp vừa và nhỏ được giảm 30% thuế TNDN với điều kiện phải đáp ứng một trong hai tiêu chí: Có vốn điều lệ ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư có hiệu lực trước 1/1/2009 không quá 1 tỷ đồng, với DN thành lập mới từ 1/1/2009 thì vốn điều lệ ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu không quá 10 tỷ đồng; Hoặc có số lao động sử dụng bình quân trong Quý IV/2008 không quá 300 người, không kể lao động hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng, nếu DN thành lập mới từ 1/1/2008 thì số lao động được trả lương tháng đầu tiên có doanh thu không quá 300 người. Trường hợp doanh nghiệp thành lập mới kể từ ngày 1/10/2008 thì số lao động được trả lương, trả công của tháng đầu tiên (đủ 30 ngày) có doanh thu không quá 300 người. Số lao động bình quân do tăng, giảm trong quý IV/2008 được xác định theo phương pháp bình quân gia quyền theo số tháng, tháng bắt đầu hoặc kết thúc làm việc cho doanh nghiệp được tính theo tháng.

Theo Tổng cục Thuế, ước tính sẽ có khoảng hơn 100.000 doanh nghiệp được hưởng lợi từ những chính sách ưu đãi thuế của Chính phủ và số tiền hỗ trợ doanh nghiệp thông qua việc giảm 30% thuế TNDN sẽ lên tới hơn 10.000 tỷ đồng. Như vậy, một doanh nghiệp được hưởng chính sách giảm 30% thuế TNDN sẽ có lãi ròng trên báo cáo kết quả kinh doanh năm 2009 lớn hơn số lãi ròng thực sự mà doanh nghiệp có được nếu không có chính sách hỗ trợ giảm thuế của Chính phủ.

Bảng 1 dưới đây cho thấy sự khác biệt ở công ty A được hưởng chính sách giảm 30% thuế TNDN năm 2009 và công ty B có cùng qui mô nhưng không hưởng được chính sách giảm 30% thuế TNDN:

Bảng 1: Các tỷ số tài chính cơ bản của hai công ty

Công ty A

Công ty B

Chỉ tiêu

Giá trị

Chỉ tiêu

Giá trị

Tổng tài sản (triệu đồng)

50.000

Tổng tài sản (triệu đồng)

50.000

Vốn chủ sở hữu (triệu đồng)

40.000

Vốn chủ sở hữu (triệu đồng)

40.000

Doanh thu thuần (triệu đồng)

25.000

Doanh thu thuần (triệu đồng)

25.000

Lợi nhuận trước thuế EBT

13.333

EBT

13.333

Thuế TNDN T (25%)

3.333

T (25%)

2.333

Lãi ròng (triệu đồng)

10.000

Lãi ròng (triệu đồng)

11.000

Số lượng cổ phần thường

4 triệu cp

Số lượng cổ phần thường

4 triệu cp

Thị giá

30.000

Thị giá

30.000

Các chỉ tiêu tài chính:

Các chỉ tiêu tài chính:

ROA

20%

ROA

22%

ROE

25%

ROE

27,5%

ROS

40%

ROS

44%

EPS (đ/cp)

2.500

EPS (đ/cp)

2.750

P/E

12

P/E

10,91

Với ví dụ trên, có thể thấy rõ ảnh hưởng của chính sách giảm 30% thuế TNDN đến các chỉ tiêu tài chính có nguồn gốc từ lãi ròng như thế nào. Công ty A và công ty B tuy giống nhau về tài sản, vốn chủ sỡ hữu, doanh thu, lãi trước thuế thu nhập doanh nghiệp (EBT), song các tỷ số ROA, ROE, ROS, EPS, P/E của công ty A đã trở nên hấp dẫn hơn công ty B.

Chính sách giảm thuế suất thuế GTGT

Thông tư số 18/2009/TT-BTC ngày 30/1/2009 và Thông tư số 91/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định một số mặt hàng được giảm 50% mức thuế suất thuế GTGT theo Quyết định số 16/2009/QĐ-TTg ngày 21/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Các Thông tư này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/12/2009. Thuế suất thuế GTGT hàng nghìn mặt hàng giảm từ 10% xuống còn 5% đã giúp giảm gánh nặng về vốn cho doanh nghiệp, vì số vốn cho thuế GTGT đầu vào của nguyên liệu, hàng hóa mua vào được giảm đi một nửa.

Bộ Tài chính tính toán cho biết gần 5.000 tỷ đồng tiền giảm GTGT được bổ sung vào nguồn vốn của doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm. Cụ thể, qua thống kê từ các địa phương, đến hết 30/6/2009 đã có 2.010 doanh nghiệp được hưởng chính sách miễn giảm 50% thuế GTGT với tổng số tiền thuế miễn giảm lên đến 4.890 tỷ đồng.

Nguồn vốn do chính sách giảm thuế suất thuế GTGT đã giúp các doanh nghiệp tăng vốn để đầu tư sản xuất, giảm vốn vay, từ đó giảm chi phí lãi vay.

Ngoài ra, thuế suất thuế GTGT giảm làm giá cả hàng hóa đến tay người tiêu dùng giảm, giá giảm là yếu tố quan trọng để tăng doanh thu bán hàng. Tăng doanh thu, giảm chi phí là các nhân tố sẽ làm tăng lãi ròng trong năm.

Tính thu nhập từ hoạt động kinh doanh bất động sản theo Luật Thuế TNDN mới

Thuế TNDN được xác định theo công thức = (Doanh thu – chi phí + thu nhập khác) x thuế suất thuế TNDN.

Theo Luật Thuế TNDN cũ, thu nhập hoạt động kinh doanh bất động sản được tính vào thu nhập khác và trên bảng báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, mục thu nhập khác sắp sau mục “Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh”. Một doanh nghiệp có “Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh” nhỏ hay âm, nhưng lãi ròng lớn, chúng ta có thể dễ dàng suy ra rằng lãi đó là do hoạt động phụ của doanh nghiệp mang lại (chẳng hạn: lãi do kinh doanh bất động sản, đầu tư chứng khoán ngắn hạn, chuyển nhượng tài sản …).

Nhưng theo Luật Thuế TNDN mới (Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12, Thông tư hướng dẫn thi hành là Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008) thì hoạt động kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp (dù đó là hoạt động thường xuyên hay không thường xuyên) được xem như là doanh thu của doanh nghiệp, giống như doanh thu bán hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp, không đưa vào thu nhập khác như Luật Thuế TNDN cũ. Vì thế, mục “Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh” bao gồm cả lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bất động sản. Từ đó, lãi ròng của doanh nghiệp không thể phân biệt được bao nhiêu là do hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp, bao nhiêu là từ hoạt động kinh doanh bất động sản đem lại. Khi xem lãi ròng dưới quy định của thuế TNDN mới, lãi ròng sẽ trở nên đẹp hơn.

Số liệu bảng 2 cho chúng ta thấy rõ điều này. Giả sử một doanh nghiệp có doanh thu hoạt động chính 20 tỷ đồng, tổng chí phí là 10 tỷ đồng, thu nhập từ kinh doanh bất động sản (hoạt động phụ) của doanh nghiệp trong năm là 10 tỷ đồng. Khi đó, bảng báo cáo kết quả kinh doanh theo luật thuế TNDN mới sẽ như sau:

Bảng 2: Báo cáo kết quả kinh doanh (đơn giản) theo luật thuế TNDN cũ và mới

ĐVT: triệu đồng

Chỉ tiêu

Theo luật thuế TNDN cũ

Theo luật thuế TNDN mới

Doanh thu thuần

20.000

30.000

Lợi nhuận từ hoạt động SXKD

10.000

20.000

Thu nhập khác

10.000

0

Thu nhập trước thuế TNDN

20.000

20.000

Thuế TNDN 25%

5.000

5.000

Thu nhập sau thuế TNDN (Lãi ròng)

15.000

15.000

Phương pháp phân bổ lãi lỗ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ

Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất nhập khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực từ ngày 21/12/2009 đến 31/12/2009, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo cho thấy ngoại trừ đồng RUB giảm giá so với Việt Nam đồng, còn lại hầu hết các đồng tiền khác đều tăng giá trong năm 2009. Cá biệt, đồng AUD (đô la Úc) tăng 39,54% so với thời điểm cuối năm 2008; tiếp theo là đồng đô la New Zealand tăng 32,54%; các ngoại tệ tăng trên 20% trong năm 2009 là NOK của Nauy, đồng IDR của Indonesia, CAD của Canada... (Bảng 3)

Bảng 3: VND mất giá so với hầu hết các loại ngoại tệ khác

Stt

Ngoại tệ

Tên ngoại tệ

Tỷ giá kể từ ngày 21/12/2009 đến 31/12/2009

Tỷ giá kể từ ngày 21/12/2008 đến 31/12/2008

Chênh lệch

1

EUR

Đồng EUR

25,723.81

23,569.71

2,154.10

9.14%

2

JPY

Yên Nhật

200.70

184.96

15.74

8.51%

3

GBP

Bảng Anh

28,998.04

25,004.77

3,993.27

15.97%

4

CHF

Fance Thụy Sỹ

17,206.29

15,318.54

1,887.75

12.32%

5

AUD

Đô la Úc

15,886.76

11,384.85

4,501.91

39.54%

6

CAD

Đô la Canada

16,773.56

13,705.86

3,067.70

22.38%

7

SEK

Curon Thụy điển

2,463.10

2,142.37

320.73

14.97%

8

NOK

Curon Na uy

3,056.96

2,406.69

650.27

27.02%

9

DKK

Curon Đan Mạch

3,457.17

3,164.75

292.42

9.24%

10

RUB

Rúp Nga

582.31

599.01

-16.70

-2.79%

11

NZD

Đô la New Zealand

12,721.96

9,598.44

3,123.52

32.54%

12

HKD

Đô la Hồng Kông

2,313.27

2,128.41

184.86

8.69%

13

SGD

Đô la Singgapore

12,799.46

11,421.55

1,377.91

12.06%

14

MYR

Ringit Malaysia

5,223.00

4,760.46

462.54

9.72%

15

THB

Bath Thái

539.90

478.12

61.78

12.92%

16

IDR

Rupiath Indonesia

1.89

1.51

0.38

25.17%

17

TWD

Đô la Đài Loan

554.33

507.26

47.07

9.28%

18

CYN

Nhân dân tệ Trung Quốc

2,627.45

2,413.46

213.99

8.87%

19

KHR

Riel Campuchia

4.33

4.06

0.27

6.65%

20

MOP

Pataca Macao

2,247.96

2,066.01

181.95

8.81%

21

INR

Rupee Ấn Độ

383.85

355.42

28.43

8.00%

22

LAK

Kip Lào

2.12

1.95

0.17

8.72%

23

KRW

Won Hàn Quốc

15.20

12.81

2.39

18.66%

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước)

Riêng với đô la Mỹ (USD), tỷ giá liên ngân hàng ngày 31/12/2009 là 17.941 đồng/USD, so với ngày 31/12/2008 là 16.977 đồng/USD thì đã tăng 5,68%.

Các ngoại tệ tăng giá so với đồng Việt Nam khiến các công ty vay bằng ngoại tệ sẽ phải chịu khoản chi phí tài chính lớn, trong khi một số công ty khác có nguồn thu bằng ngoại tệ sẽ được hưởng lợi vì lợi nhuận được hạch toán bằng Việt Nam đồng.

Theo Thông tư số 201/2009/TT-BTC vừa được Bộ Tài chính ban hành nhằm hướng dẫn xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá cho tất cả các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, đối với các công ty kinh doanh ngoại tệ, toàn bộ chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ và chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính được ghi nhận ngay vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu hoạt động tài chính trong kỳ. Doanh nghiệp không được chia lợi nhuận hoặc trả cổ tức trên lãi chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá lại cuối năm tài chính của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ.

Bảng 4: Một số công ty có lỗ tỷ giá lớn

Công ty

Ước tính dư nợ (triệu)

Tỷ giá tại thời điểm tính dư nợ

Tỷ giá 31/12/2009

Lỗ tỷ giá chưa thực ước tính (triệu đồng)

CTCP Hà Tiên 1 (HT1)

91,42 EUR

24.701 VND/EUR

26.537 VND/EUR

-167,85

CTCP Xi măng Bỉm Sơn (BCC)

111 EUR

24.701 VND/EUR

26.537 VND/EUR

-203,80

CTCP Xi măng Bút Sơn

70 EUR

24.701 VND/EUR

26.537 VND/EUR

-128,52

CTCP khoan và d.vụ khoan dầu khí (PVT)

230 USD

16.997 VND/USD

17.941 VND/USD

-217,12

CTCP Nhiệt điện Phả Lại (PPC)

34.349 JPY

184,96 VND/JPY

200,70 VND/JPY

-540,65

Tổng CTCP vận tải Petro Việt Nam

150 USD

16.997 VND/USD

17.941 VND/USD

-141,60

(Nguồn: Tổng hợp web của SSI và Ngân hàng Nhà nước)

Trường hợp hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái vào chi phí làm cho kết quả kinh doanh của công ty bị lỗ thì có thể phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau để công ty không bị lỗ nhưng mức hạch toán vào chi phí trong năm ít nhất cũng phải bằng chênh lệch tỷ giá của số dư ngoại tệ dài hạn phải trả trong năm đó. Số chênh lệch tỷ giá còn lại sẽ được theo dõi và tiếp tục phân bổ vào chi phí cho các năm sau nhưng tối đa không quá 5 năm. Vì vậy, không phải tất cả các công ty có lỗ tỷ giá sẽ ghi nhận lỗ ngay trong năm 2009. Đây là điểm khác trong xử lý chênh lệch tỷ giá năm 2009 so với những năm trước đây (lỗ chênh lệch tỷ giá không được phân bổ dần). Với qui định xử lý chênh lệch tỷ giá, các doanh nghiệp có lỗ chênh lệch tỷ giá có thể phân bổ số lỗ này để đạt mức lãi ròng năm 2009 tốt nhất cho doanh nghiệp.

Năm 2010 có còn lãi ròng?

Nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong giai đoạn khủng hoảng, thực hiện chính sách kích cầu nền kinh tế, trong năm 2009, Chính phủ đã có nhiều chính sách ban hành, các chính sách miễn giảm thuế TNDN, thuế GTGT, cách tính thu nhập tính thuế TNDN theo luật thuế TNDN mới, phương pháp xử lý lỗ chênh lệch tỷ giá… đã làm lãi ròng của doanh nghiệp năm 2009 khả quan hơn. Vì thế các nhà đầu tư, khi đánh giá tình hình tài chính năm 2009 của doanh nghiệp, để có cái nhìn đúng về lãi ròng, cần đọc kỹ bảng thuyết minh báo cáo tài chính, để loại bỏ đi yếu tố hỗ trợ từ các chính sách vĩ mô trong thời kỳ này. Thông thường, bảng thuyết minh sẽ cho ta biết rõ các chính sách thuế mà doanh nghiệp được hưởng trong năm, chi tiết của từng loại thu nhập, cách xử lý lỗ chênh lệch tỷ giá …

Còn bản thân những nhà quản lý doanh nghiệp cũng cần phải nhìn nhận đúng lãi ròng thực sự của doanh nghiệp mình trong năm, để có thể định hướng tốt cho năm sau.

Sang năm 2010, do áp lực thâm hụt ngân sách, các chính sách ưu đãi thuế của Chính phủ không thể tiếp tục nữa, lãi ròng sẽ tăng trưởng chậm hơn mức tăng của doanh thu. Không như trong năm 2009, tăng trưởng doanh thu năm 2009 chỉ là 13%, nhưng tăng trưởng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là 38%. Dự đoán năm 2010, mức tăng doanh thu năm 2010 là 24%, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng 16,6% và lãi ròng tăng 13,8% (theo đánh giá của SSI).

Như vậy cả nhà đầu tư và doanh nghiệp đều phải nhận thấy sự cải thiện lãi ròng năm 2009 một phần là do những chính sách hỗ trợ kinh tế của Chính phủ và vì thế lãi ròng của doanh nghiệp sẽ tăng trưởng chậm hơn mức tăng của doanh thu trong năm 2010 là điều hiển nhiên khi Chính phủ dỡ bỏ các chính sách hỗ trợ này.

(Ths. Lê Hà Diễm Chi – Trưởng Bộ môn Tài chính, Đại học Công lập Tôn Đức Thắng, TP.HCM)-Efinance