Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

TP.HCM: Hóa đơn tiền điện trong tháng 3 sẽ có hai giá

Ngày 2/3, Công ty Điện lực TP HCM đã có thông báo về cách tính hoá đơn tiền điện theo giá mới.

Theo đó, tất cả các điện kế đang vận hành trên lưới (trừ khách hàng sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt), sẽ được tính theo phương pháp chốt chỉ số. Sản lượng điện tính giá cũ được căn cứ tại thời điểm chốt chỉ số (ngày 1/3) trở về trước, lượng điện được tính theo giá mới tại thời điểm chốt chỉ số trở về sau. Cùng ngày, Công ty đã cơ bản hoàn tất việc chốt chỉ số điện kế loại này trên toàn thành phố, với số lượng trên 127.000 điện kế.

Riêng khách hàng sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt (không thực hiện chốt chỉ số), sẽ dùng phương pháp nội suy. Cụ thể, sẽ lấy bình quân ngày sử dụng điện trong tháng, rồi căn cứ vào mốc 1/3 để xác định lượng điện theo giá cũ và giá mới.

Điện lực TP HCM cũng cho biết, do việc ghi chỉ số điện kế được chia thành nhiều phiên, mỗi phiên ghi 1 ngày, từ ngày 3 đến ngày 25 của tháng 3/2010. Vì thế, hóa đơn tiền điện của khách hàng trong tháng 3 đều có sản lượng điện tiêu thụ theo giá cũ và giá mới.

(Theo Đất Việt)

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

350.000 tỉ đồng xây hệ thống đường cao tốc Việt Nam

Số vốn đầu tư khổng lồ này để xây dựng hệ thống đường cao tốc Việt Nam theo quy hoạch đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 vừa được Thủ tướng phê duyệt. Trong đó hai tuyến cao tốc Bắc - Nam mở ra nhiều hứa hẹn phát triển.

Hiện nay, mỗi ngày có 40.000-50.000 ôtô lưu thông trên đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương, chiếm khoảng 70% số xe trước đây lưu thông trên quốc lộ 1A - Ảnh: MINH ĐỨC

Dưới cái nhìn của những người làm kinh tế, đường cao tốc rút ngắn thời gian lưu thông cũng chính là giúp quay nhanh đồng vốn làm tăng lợi nhuận.

Nhiều đường cao tốc mới

Đường cao tốc đầu tiên 100% “made in VN”: TP.HCM - Trung Lương (TP.HCM - Long An - Tiền Giang) thông xe tạm vào ngày 3-2-2010 được coi là một cột mốc lịch sử. Chỉ sau ba ngày đưa đường cao tốc này vào sử dụng, quốc lộ 1A đã thông thoáng vì có đến 80% lượng ôtô trước đây lưu thông trên quốc lộ 1A đã chuyển qua đi đường cao tốc.

Trong năm 2009 có rất nhiều dự án xây dựng đường cao tốc được khởi công. Cụ thể, ngày 3-10-2009 khởi công xây dựng đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây. Ngày 24-11-2009, khởi công xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên. Theo Tổng công ty Đường cao tốc VN, dự kiến năm 2010 sẽ khởi công đường cao tốc Bến Lức (Long An) - Long Thành (Đồng Nai). Trước đó, đường cao tốc Nội Bài (Hà Nội) - Lào Cai dài 264km được khởi công năm 2008 và dự kiến hoàn thành vào năm 2012.

Ngày 29-11-2009 khởi công đường cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận (Tiền Giang), nối đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương và đưa tuyến đường cao tốc TP.HCM về đến Mỹ Thuận dài gần 94km. Trong tương lai, tuyến đường cao tốc này sẽ được nối đến Cần Thơ, dài 129km. Tuyến đường cao tốc này là một phần của tuyến cao tốc Bắc - Nam từ Hà Nội đến Cần Thơ dài 1.941km.

Tương tự, việc khởi công tuyến đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây nhằm rút ngắn thời gian đi từ TP.HCM đến sân bay quốc tế mới sẽ được xây dựng ở Long Thành khi sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã quá tải. Trong tương lai không xa, tuyến đường cao tốc này sẽ được kết nối từ Dầu Giây đến TP Đà Lạt, dài 209km. Lúc đó, người dân từ TP.HCM đi xe lên Đà Lạt không quá ba giờ, trong khi hiện nay phải mất 7-8 giờ.

Trong năm 2010, các cơ quan chức năng dự kiến khởi công xây dựng đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu. Ngoài thu hút khách du lịch đến Vũng Tàu, tuyến đường này còn giúp vận chuyển nhanh hàng hóa xuất nhập khẩu từ các cảng biển nước sâu Cái Mép - Thị Vải và các khu công nghiệp ở Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, thúc đẩy phát triển mạnh cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Mạng lưới đường cao tốc cũng được kết nối với các nước lân cận như Campuchia và Trung Quốc. Trong đó có một tuyến đường cao tốc nối đến Campuchia sẽ được xây dựng từ TP.HCM đến Mộc Bài (Tây Ninh) dài 55km. Có ba tuyến đường cao tốc nối đến Trung Quốc gồm: tuyến từ Nội Bài (Hà Nội) - Hạ Long - Móng Cái dài 295km, Hà Nội - Việt Trì - Lào Cai dài 264km và Lạng Sơn - Bắc Giang - Bắc Ninh dài 130km. Việc mở các tuyến cao tốc đến các nước lân cận không những đẩy mạnh phát triển du lịch mà còn tạo giao thương hàng hóa giữa các nước được phát triển mạnh.

Cần chính sách về vốn và giải phóng mặt bằng

Theo ông Phan Hồng Quang - tổng giám đốc Công ty cổ phần phát triển đường cao tốc BIDV (gọi tắt là BEDC), để xây dựng đường cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận có vốn đầu tư 19.000 tỉ đồng, Chính phủ đã chấp thuận thành lập doanh nghiệp BEDC, trong đó gồm tám đơn vị là những tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn có năng lực và kinh nghiệm trong triển khai các công trình trọng điểm quốc gia, các công trình giao thông đường bộ, có khả năng thu xếp tài chính cho dự án.

Toàn bộ kinh phí đầu tư xây dựng dự án theo hình thức BOT (đầu tư, kinh doanh và chuyển giao) là vốn tự có của BEDC và vốn vay thương mại do Ngân hàng Đầu tư và phát triển VN (BIDV) là đầu mối thu xếp nguồn vốn (không có ngân sách cấp phát) và dự kiến hoàn vốn sau 34 năm khai thác thu phí.

Ông Trần Xuân Sanh, tổng giám đốc Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc VN (VEC), cho biết hiện VEC đã đầu tư hơn 350km đường cao tốc thuộc ba dự án: Cầu Giẽ - Ninh Bình, TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, Nội Bài - Lào Cai với tổng vốn 50.000 tỉ đồng. Toàn bộ vốn là tiền đi vay chứ không có ngân sách cấp phát.

Theo ông Sanh, ở các nước, trong dự án đường bộ cao tốc vốn nhà nước chiếm từ 50% trở lên, còn lại doanh nghiệp huy động. Tiền của nhà nước đưa vào nhằm rút ngắn thời gian hoàn vốn, khuyến khích nhà đầu tư tham gia dự án.

Việc hoàn vốn cho đầu tư đường cao tốc ở VN chủ yếu từ thu phí. Theo tính toán, nếu lưu lượng xe hoạt động trên đường cao tốc đủ từ 100.000 xe/ngày đêm thì có thể hoàn vốn một tuyến đường trong 30 năm. Nhưng hiện nay tuyến có lưu lượng đông nhất của chúng ta chỉ khoảng 50.000 xe/ngày đêm trở lại. Vì vậy hoàn vốn qua thu phí hết sức khó khăn. Do đó, nhà đầu tư mong Chính phủ hỗ trợ tiền giải phóng mặt bằng (GPMB, chiếm 15-20% tổng vốn đầu tư).

Ngoài việc tự huy động nguồn vốn, hiện nay các dự án đường cao tốc đều gặp khó khăn về GPMB. Ở nước ngoài, khi phê duyệt dự án họ xúc tiến GPMB và bàn giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư. Toàn bộ chi phí GPMB do ngân sách nhà nước đảm nhận và chuyển giao cho các địa phương quản lý, thực hiện. Ở VN, do GPMB vướng mắc nên đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương gần chục năm mới làm được hơn 30km.

Ông Sanh cho biết hiện nay VEC đang đề nghị Chính phủ hỗ trợ GPMB bằng cách cấp ngân sách qua các địa phương để địa phương thực hiện GPMB trước khi khởi công dự án...

NGỌC ẨN - TUẤN PHÙNG

Hệ thống đường cao tốc đến năm 2020 và định hướng năm 2030

* Tuyến cao tốc Bắc - Nam: gồm hai tuyến với tổng chiều dài 3.262km:

- Tuyến cao tốc Bắc - Nam phía đông, bắt đầu từ Hà Nội đến Cần Thơ, dài 1.941km, quy mô 4-8 làn xe.

- Tuyến cao tốc Bắc - Nam phía tây đường Hồ Chí Minh, bắt đầu từ Phú Thọ đến Kiên Giang, dài khoảng 1.321km, quy mô 4-6 làn xe.

* Tuyến cao tốc khu vực phía Bắc: bảy tuyến đường cao tốc với tổng chiều dài khoảng 1.099km, gồm: Lạng Sơn - Bắc Giang - Bắc Ninh dài 130km, Hà Nội - Hải Phòng dài 105km, Hà Nội - Việt Trì - Lào Cai dài 264km, Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái dài 294km, Hà Nội - Thái Nguyên - Chợ Mới (Bắc Kạn) dài 90km, Láng - Hòa Lạc - Hòa Bình dài 56km, Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh dài 160km. Các tuyến đường cao tốc trên có quy mô 4-6 làn xe.

* Tuyến cao tốc khu vực miền Trung và Tây nguyên: ba tuyến với tổng chiều dài 264km, gồm: Hồng Lĩnh - Hương Sơn (Hà Tĩnh) dài 34km, Cam Lộ - Lao Bảo dài 70km, Quy Nhơn - Pleiku dài 160km. Các tuyến đường cao tốc trên có quy mô 4 làn xe.

* Tuyến cao tốc khu vực phía Nam: bảy tuyến với tổng chiều dài 984km, gồm: Biên Hòa - Vũng Tàu dài 76km, Dầu Giây - Đà Lạt dài 209km, TP.HCM - Thủ Dầu Một - Chơn Thành dài 69km, TP.HCM - Mộc Bài (Tây Ninh) dài 55km, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng dài 200km, Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc Liêu dài 225km, Cần Thơ - Cà Mau dài 150km. Tùy theo từng tuyến đường cao tốc được quy hoạch có quy mô 4-8 làn xe.

Vốn đầu tư xây dựng toàn bộ đường cao tốc trên khoảng 350.000 tỉ đồng (bình quân mỗi năm cần khoảng 29.160 tỉ đồng). Nhà nước huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước từ các thành phần kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau như đầu tư, khai thác, chuyển giao (BOT); đầu tư, chuyển giao, khai thác (BTO), phối hợp đầu tư nhà nước và tư nhân (PPP), phát hành trái phiếu công trình... Nhà nước tăng mức đầu tư từ ngân sách, phát hành trái phiếu chính phủ và ưu tiên vốn ODA để tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

NGỌC ẨN

Nguồn: Theo Tuổi trẻ

Doanh nghiệp lo cơ chế lãi suất thỏa thuận

Với cơ chế thỏa thuận, doanh nghiệp và ngân hàng sẽ ngồi lại với nhau để tìm tiếng nói chung cho lãi suất các khoản vay trung, dài hạn - Ảnh: Quang Liên.

Bỏ trần, doanh nghiệp lo lãi suất tăng cao và nhiều biến động dẫn đến khó kiểm soát chi phí và khó chủ động trong kinh doanh
Bỏ trần, doanh nghiệp lo lãi suất tăng cao và nhiều biến động dẫn đến khó kiểm soát chi phí và khó chủ động trong sản xuất kinh doanh.

Ngày 26/2, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 07/2010/TT-NHNN, chính thức quy định về cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng đối với các khoản vay trung và dài hạn.

Cơ chế lãi suất cho vay mới đã được ban hành, không bất ngờ vì đã có những thông tin “tiền trạm” trước đó, nhưng vẫn còn những ý kiến khác nhau, có ủng hộ và những nghi ngại.

Trả lại cho thị trường

Ngày 16/5/2008, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN quy định, từ ngày 19/5/2008, các tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam không quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Cơ chế lãi suất trần theo đó được áp dụng thay cho thỏa thuận trước đó.

Ngày 23/1/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Thông tư số 01/2009/TT-NHNN hướng dẫn về lãi suất thoả thuận của tổ chức tín dụng đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Cơ chế lãi suất thỏa thuận được hé mở ở nhóm đối tượng nhất định.

Trong quá trình thực hiện cho vay theo cơ chế lãi suất trần, thị trường xuất hiện những hình thức “lách” trần thông qua thu phí cho vay, tập trung từ cuối năm 2009 đến đầu năm 2010. Một lần nữa, yêu cầu bỏ trần lãi suất lại được đặt ra.

Ngày 26/2 vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chính thức có văn bản mở lại cơ chế cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn.

Về quyết định và cơ chế trên, trong bình luận gửi về VnEconomy, một chuyên gia tài chính cho rằng “tôi ủng hộ quan điểm giảm thiểu sử dụng các công cụ hành chính để điều hành thị trường, trừ những trường hợp thị trường bị thất bại, bộc lộ những khuyết tật của nó”.

Chuyên gia này phân tích: Về nguyên tắc kinh doanh, khi cho vay, ngân hàng không thể cho vay với mức lãi suất thấp hơn chi phí và người gửi tiền sẽ không gửi vào ngân hàng nếu các cơ hội đầu tư tương tự có mức sinh lời tốt hơn. Do vậy, khi phải chịu khống chế bởi trần lãi suất, ngân hàng phải tìm các cách thức khả dĩ để có một mức lãi suất huy động cũng như cho vay sao cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có được mức sinh lợi cao nhất.

“Và khi ngân hàng và khách hàng được tự do thỏa thuận lãi suất sẽ tránh được những bóp méo hay “lách luật” không đáng có. Trên thực tế hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy chi phí của việc sử dụng trần lãi suất thường cao hơn mà lợi ích mà nó mang lại”, chuyên gia này bình luận.

Tuy nhiên, điểm mà ông còn băn khoăn là Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự vẫn quy định “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại vay tương ứng”. Nếu căn cứ vào phạm vi điều chỉnh của bộ luật này thì dù có hay không có các quy định hay hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước thì trần lãi suất vẫn tồn tại.

Theo đó, vấn đề đặt ra là “bất cứ khách hàng nào cũng có thể kiện nếu ngân hàng cho vay với lãi suất cao hơn 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Ngược lại, nếu những quy định của Ngân hàng Nhà nước có thể hiểu là nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự thì có điều gì đó không ổn trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật”.

Vì vậy, vấn đề về trần lãi suất theo chuyên gia này là sẽ chưa thể giải quyết tận gốc nếu những quy định liên quan ở những văn bản pháp luật khác nhau không tương thích và nhất quán. Điều này đặt Ngân hàng Nhà nước vào một tình thế khó khăn, nhất là việc sử dụng các công cụ linh hoạt nhằm uốn các dòng chảy thị trường sao cho có lợi cho toàn nền kinh tế thay vì buộc phải áp dụng các công cụ “chặn dòng” mà chúng có thể gây ra những cú sốc bất lợi không đáng có cho nền kinh tế.

Doanh nghiệp lo biến động

Chính sách mới đã có hiệu lực. Với các khoản vay cũ, các điều khoản trong hợp đồng được tôn trọng hoặc do hai bên thỏa thuận xem xét lại. Với các khoản vay mới, các ngân hàng bắt đầu thực hiện cơ chế mới; theo tính toán hiện có thể lên tới 18%/năm, tùy các kỳ hạn và mức độ rủi ro…

Trả lời VnEconomy về chính sách lãi suất cho vay, ông Huỳnh Bửu Quang, Giám đốc Khối Dịch vụ tài chính doanh nghiệp, Ngân hàng HSBC Việt Nam, giải thích: Các ngân hàng thương mại thường tính lãi suất cho vay dựa trên mức độ rủi ro của từng khách hàng, bản chất công việc kinh doanh của họ và một số yếu tố liên quan khác. Mỗi khoản vay thương mại đều có một mức độ rủi ro khác nhau dẫn đến mức lãi suất khác nhau hợp lý với từng mức độ rủi ro.

“Cơ chế trần lãi suất áp dụng chung cho các khoản vay thương mại với mức độ rủi ro khác nhau tạo ra những khó khăn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, hạn chế khả năng cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với các khoản cho vay đối với doanh nghiệp lớn”, ông Quang nói.

Nay, có cơ chế mới, vẫn còn rào cản ở các khoản vay ngắn hạn, nhưng các nhà băng đã có con đường rộng hơn trong hoạt động cho vay. Đây cũng là điều mà một số doanh nghiệp lo ngại có những biến động mạnh trong tương lai, ảnh hưởng đến chi phí, yêu cầu ổn định và chủ động trong sản xuất kinh doanh của họ.

Ông Nguyễn Băng Tâm, Phó chủ tịch Câu lạc bộ Các doanh nghiệp niêm yết, cho rằng, về lý thuyết, việc bỏ trần lãi suất trong hoạt động cho vay là phù hợp với yêu cầu chung, xuất phát từ thực tế của thị trường. Nhưng điều đó chỉ hợp lý trong trường hợp hoạt động cho vay được tiến hành bình thường, bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

Lo ngại mà ông Tâm đưa ra là ở Việt Nam, hoạt động cho vay vẫn có những trường hợp không theo quy trình chung, mà chịu tác động bởi sự vận động, “lobby” của bên đi vay; hoặc như ngân hàng dễ chạy theo những đối tượng có độ sẵn sàng hơn với các mức lãi suất cao như đầu tư tài chính, đầu tư bất động sản dẫn tới rủi ro hay mất cân đối trong cơ cấu vốn đối với các ngành hàng khác.

Trong khi đó, cán bộ tài chính Công ty Đầu tư Xây dựng hạ tầng và giao thông đô thị cho rằng chính sách mới của Ngân hàng Nhà nước là điều chỉnh quan trọng, ảnh hưởng không chỉ tới các doanh nghiệp mà còn đối với cả nền kinh tế; thậm chí cần có một diễn đàn cụ thể để xây dựng cơ chế và có tiếng nói từ phía doanh nghiệp.

Đại diện này cho biết, đến 31/3 này các ngân hàng thương mại sẽ bắt đầu chốt lại các hạn mức tín dụng dự kiến trong năm đối với các khách hàng cụ thể. Bản thân các doanh nghiệp cũng đang trong quá trình xây dựng các hạn mức chi phí đầu tư cho năm 2010. “Với cơ chế mới này, chúng tôi sẽ không được bảo vệ bởi quy định trần lãi suất, việc hoạch định chi phí và vốn vay sẽ bị đảo lộn và phải tính toán lại. Hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ thiếu tính chủ động. Lo ngại hơn nếu lãi suất vay biến động, tăng cao, các doanh nghiệp đẩy những điều đó đến với giá thành sản phẩm dịch vụ thì ảnh hưởng không còn bó hẹp ở doanh nghiệp nữa”, đại diện này nói.

Tất nhiên, với những doanh nghiệp có quan hệ tín dụng tốt, có dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả thì ngân hàng vẫn duy trì chính sách tín dụng tương đối ổn định và có những ưu đãi nhất định.

Ông Nguyễn Băng Tâm cho rằng việc điều chỉnh chính sách nói trên cũng không có nhiều bất ngờ, đã có những thông tin “tín hiệu” trước đó nên doanh nghiệp cũng đã lường tính khi xét đến các kế hoạch vay vốn. Với các doanh nghiệp niêm yết, ông Tâm tự tin khi cho rằng có 90% là các doanh nghiệp tốt nên có thể tiếp cận được chính sách tín dụng hợp lý của các ngân hàng.

“Nhưng sẽ vẫn phải tính toán kỹ, bởi lãi suất thỏa thuận sẽ không như trước đó. Doanh nghiệp sẽ phải xem lại sức chịu đựng của mình để có vay hay không. Mặt khác, trường hợp lãi vay quá cao, doanh nghiệp niêm yết có thể sử dụng công cụ huy động trên thị trường chứng khoán chứ không chỉ lệ thuộc vào kênh ngân hàng”, ông Tâm nói.

Cùng quan điểm trên, ông Huỳnh Bửu Quang cũng cho rằng Việt Nam cần phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu, giúp các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp có khả năng huy động nguồn vốn trung, dài hạn phục vụ nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.


(Theo Vneconomy)

Nhật Bản nâng vốn ODA cho Việt Nam lên mức kỷ lục

Lễ ký công hàm trao đổi về việc Chính phủ Nhật Bản cung cấp vốn ODA cho Việt Nam.

Cam kết ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam trong tài khóa 2009 đạt 145,613 tỷ Yên, cao nhất từ trước đến nay
Chiều ngày 2/3, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc và Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Sakaba Mitsuo đã ký công hàm trao đổi về việc Chính phủ Nhật Bản cung cấp cho Chính phủ Việt Nam 25,822 tỷ Yên ODA, thuộc đợt 2 tài khóa 2009 của Nhật Bản (kết thúc vào 31/3/2010).

Khoản vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) nói trên được cung cấp để giúp Chính phủ Việt Nam triển khai 5 dự án cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội lớn, bao gồm: dự án xây dựng nhà ga hành khách - cảng hàng không quốc tế Nội Bài (12,607 tỷ Yên); dự án đường nối cầu Nhật Tân đi sân bay Nội Bài (6,546 tỷ Yên); dự án xây dựng cầu Cần Thơ (4,626 tỷ Yên); dự án khôi phục cầu quốc lộ 1 giai đoạn 3 đoạn Cần Thơ - Cà Mau và dự án phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghệ cao Hòa Lạc (đều trên 1 tỷ Yên).

Theo dự kiến, trong tháng 3 tới, tại Hà Nội, đại diện Bộ Tài chính Việt Nam và đại diện Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) sẽ ký 5 hiệp định tín dụng cụ thể cho các dự án này, dựa trên các điều kiện khung quy định tại công hàm trao đổi đã ký.

Với khoản vay này, cam kết ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam trong tài khóa 2009 đạt 145,613 tỷ Yên (tương đương 1,63 tỷ USD), cao nhất từ trước đến nay. Theo Bộ trưởng Võ Hồng Phúc, điều này chứng tỏ sự đánh giá cao của Chính phủ Nhật Bản đối với quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

Kể từ khi nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam vào năm 1992 đến nay, Nhật Bản luôn là nhà tài trợ lớn nhất, đạt tổng cộng 1.557 tỷ Yên, bao gồm cả khoản vay mới ký.


(Theo Vneconomy)

Thứ Hai, 1 tháng 3, 2010

Bình ổn giá đường trong nước: Doanh nghiệp xin quota nhập khẩu rồi để đó (?)

Đường không thiếu trong các siêu thị và bên ngoài, song người mua không nhiều vì giá quá cao. Ảnh: Tiền Phong.
Chỉ trong một thời gian ngắn, 200.000 tấn đường đã được Bộ Công Thương cấp quota để nhập về. Tuy nhiên, qua tìm hiểu của chúng tôi, chỉ một lượng đường nhỏ được nhập về, đồng nghĩa giá đường trong nước vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Có xin nhưng không nhập

Ông Đoàn Xuân Hòa, Phó Cục trưởng Cục Chế biến, Thương mại Nông lâm thủy sản và Nghề muối (Bộ NN&PTNT) cho rằng, với 50 nghìn tấn đường thương mại được cấp mới đây thì tổng số đường được cấp quota nhập năm 2010 lên đến 200 nghìn tấn, gấp đôi lượng nhập năm 2009.

Tuy nhiên, với những biến động của thị trường hiện này thì không dễ để các doanh nghiệp nhập ngay được đường.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Diệp Kỉnh Tần: Tôi không đồng ý với Hiệp hội mía đường. Họ không muốn cho nhập khẩu đường để “làm giá” đường trong nước.

Tôi đồng ý cho các nhà máy đường trong nước bán theo giá thị trường thế giới nhưng họ còn bán cao hơn cả mức này.

Thực tế, giá đường thế giới vẫn không cao như Hiệp hội Mía đường nói, nếu nhập về Việt Nam, cộng cả chi phí thuế, vận chuyển, lãi suất ngân hàng thì vẫn chỉ ở mức giá 16.000đồng/kg. Trong khi đó giá đường trong nước vẫn bán ở mức cao hơn: 18.000đồng.

Theo ông Hòa, đáng ra các doanh nghiệp được cấp quota để bình ổn giá là phải nhập ngay đường. Nhưng thực tế các doanh nghiệp này cứ hô như vậy cho oai, và đến khi có quota cũng không nhập đường.

Tâm lý của doanh nghiệp là chờ giá thế giới xuống thấp mới nhập nhưng giá đường liên tục thay đổi, không biết lúc nào là thấp cả.

“Nhiều doanh nghiệp đòi quota mà không nhập thì chúng tôi cũng đã yêu cầu Bộ Công thương tăng cường quản lý, giám sát việc này. Không thể cấp quota bừa bãi được” - Ông Hòa kiến nghị.

Chủ tịch Hiệp hội Mía đường Việt Nam Võ Thành Đàng khẳng định: Với tình hình giá đường trên thế giới như hiện nay, doanh nghiệp không dại gì nhập đường về.

Ông Đàng cho biết, niên vụ mía 2009 - 2010 không riêng Việt Nam mà nhiều nước trồng mía trên thế giới đều bị mất mùa khiến cung không đủ cầu. Giá đường thế giới vẫn đang ở mức rất cao, 680 - 730 USD/tấn, chưa có dấu hiệu giảm.

Nếu doanh nghiệp nhập đường về Việt Nam lúc này, cộng tất cả các chi phí vận chuyển, thuế thì giá bán lẻ phải 18 - 19 nghìn đồng/kg mới có lãi. Trong khi giá đường trong nước đang chững lại ở mức 16 - 18 nghìn đồng/kg.

“Doanh nghiệp dại gì nhập đường khi giá trong nước thấp hơn giá nhập khẩu” - Ông Đàng nói. Bằng chứng cụ thể là từ đầu năm 2010 đến nay, mới chỉ có một vài doanh nghiệp nhập đường.

Sử dụng quota làm “con tin”

Có một thực tế là, doanh nghiệp được cấp quota có nhập đường hay không là quyền của họ.

Khi giá đường thế giới thấp, giá trong nước cao thì họ nhập, khi không còn lợi nhuận thì họ thôi, mà cũng chẳng hề hấn gì. Quota nhập khẩu là thể hiện chức năng độc quyền điều hành thị trường của nhà nước, nhưng phương thức cấp quota hiện nay giúp các doanh nghiệp nhập khẩu biến độc quyền đó thành “con tin”.

Ông Võ Thành Đàng cho rằng, chỉ có doanh nghiệp thương mại nhập khẩu là có lợi.

“Về lâu dài, tôi nghĩ không thể cấp quota nhập khẩu đường mãi. Chúng ta có đủ điều kiện sản xuất không thể mỗi năm phải bỏ ra 200 triệu đô la để nhập khẩu đường, gây lãng phí hơn 350 tỷ đồng trong khi nông dân thiếu việc làm. Giá đường cao, lạm phát cao chính vì điều này chứ do đâu?” - Ông Đàng nói.

Ông Đàng cho rằng, phải thay đổi cách cấp quota, cấp có thời hạn. Cơ chế để doanh nghiệp được cấp quota nên theo kiểu “bỏ thầu”. Hết hạn mà anh không chịu nhập thì cũng phải chịu trách nhiệm, chẳng hạn như bồi thường chứ không thể “phủi tay” như hiện nay.

Vụ trưởng Thị trường trong nước (Bộ Công thương) Hoàng Thọ Xuân khẳng định: Bộ sẽ xử lý nghiêm những trường hợp xin quota mà không nhập hoặc nhập về nhưng bán không đúng với giá đã cam kết.

“Cần thiết, chúng tôi sẽ bàn với Bộ Tài chính truy thu phần chênh lệch thuế, được ưu đãi thuế quan nhưng không bán theo yêu cầu nhà nước. Lúc có quota, lúc thị trường cần mà anh không nhập là không được, chúng tôi sẽ xử lý” - ông Xuân nói.

(Theo Tiền Phong)

Tăng chất lượng chính sách

Nhìn từ góc độ vĩ mô, rất khó có thể xem là hiệu quả một khi chính sách tạo ra những tác động bất ổn. Doanh nghiệp thay vì tập trung vào chuyện kinh doanh thì cứ phải thủ thế, nghe ngóng, nơm nớp lo sợ, không biết điều gì sẽ xảy ra.

Nhìn từ góc độ vĩ mô, rất khó có thể xem là hiệu quả một khi chính sách tạo ra những tác động bất ổn
Đầu năm, gặp giám đốc một doanh nghiệp chuyên nhập khẩu thiết bị y tế. Chưa kịp chúc xuân, ông này đã níu áo phóng viên phân bua, khuôn mặt gần như mếu: “Tết rồi nuốt không trôi! Tưởng nghỉ ngơi cho thoải mái, ai dè 28 Tết, Đô la tăng ào ào. Hàng chưa về nhưng mấy hợp đồng nhập chuyến này coi như lỗ…”.

Ông bạn doanh nhân không phàn nàn gì về việc điều chỉnh tỷ giá vì theo ông giá Đô la Mỹ tăng là chuyện tất yếu. Ông chỉ hiềm một nỗi Ngân hàng Nhà nước “xuất chiêu” nhanh quá, lại ngay cận Tết, khiến ông không kịp trở tay.

Một trong những chính sách gây ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường nhà đất trong năm qua là thuế thu nhập cá nhân đối với hợp đồng chuyển nhượng góp vốn mua bất động sản. Thuế này trước đây không thu, kể cả sau khi Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực vào 1/1/2009.

Bất ngờ, đến ngày 26/9/2009, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 161 yêu cầu phải đóng thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng hợp đồng góp vốn. Thị trường nhà đất đang cố gắng hồi phục trở nên hoang mang; giao dịch trên các sàn địa ốc bỗng chốc sụt giảm mạnh.

Một thí dụ khác ở cấp độ chính sách của địa phương là câu chuyện dở khóc dở cười của hàng chục nhà đầu tư tại tỉnh Bình Thuận. Nhiều năm trước, nghe theo lời kêu gọi đầu tư của UBND tỉnh Bình Thuận, các doanh nghiệp này đã bỏ tiền và công sức đầu tư vào khu vực biển Tân Thành - Kê Gà, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận để biến nơi đây trở thành một khu du lịch hấp dẫn.

Việc đầu tư đang đến ngày gần hoàn tất thì bất ngờ chính quyền ra thông báo yêu cầu giải toả các dự án, giao đất cho một chủ đầu tư khác để xây dựng Cảng Kê Gà chồng lên khu du lịch hiện hữu. Hậu quả của sự thay đổi bất ngờ này là hàng chục khu nghỉ dưỡng được đầu tư nhiều tiền của, công sức bị bỏ hoang, không được đưa vào sử dụng; có nhà đầu tư rơi vào cảnh tán gia bại sản, hết sức thương tâm.

Chúng ta không bình luận gì về các chính sách đó đúng hay sai, có chính sách đúng và có thể có chính sách sai. Vấn đề đáng nói là sự bất nhất và thất thường trong chính sách.

Nhìn từ góc độ vĩ mô, rất khó có thể xem là hiệu quả một khi chính sách tạo ra những tác động bất ổn. Doanh nghiệp thay vì tập trung vào chuyện kinh doanh thì cứ phải thủ thế, nghe ngóng, nơm nớp lo sợ, không biết điều gì sẽ xảy ra.

Hơn nữa, nền kinh tế đang phải gồng mình vượt qua suy thoái, mỗi một chính sách được ban hành nếu quá đột ngột có thể dẫn đến tổn thương.

Các chính sách được ban hành lúc này, vì vậy, nên hướng vào giúp cho nền kinh tế hồi phục hơn là những chính sách luôn gây nóng lạnh, khó dự báo. Nói cách khác, chất lượng chính sách cần phải được tăng lên vì nếu chất lượng tăng thì sẽ không còn những chính sách được ban hành theo kiểu “giật cục” và chính sách tự nó sẽ tồn tại lâu hơn, hiệu quả hơn.

Nguyên Tấn (TBKTSG)

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

Lao động nữ mất việc được hỗ trợ 3 triệu đồng học nghề

picture

Theo mục tiêu của Đề án, mỗi năm sẽ có khoảng 100.000 phụ nữ được giới thiệu việc làm - Ảnh: Việt Tuấn.

Chính phủ đã phê duyệt Đề án "Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015"

Theo Đề án "Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015" vừa được Chính phủ phê duyệt, lao động nữ khi học nghề sẽ được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ.

Cụ thể, lao động nữ thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, bị mất việc làm trong các doanh nghiệp được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3 triệu đồng/người/khoá học.

Ngoài ra đối tượng này còn được hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000đồng/ngày thực học/người; tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000đồng/người/khoá học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên.

Lao động nữ thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khoá học. Mức hỗ trợ với lao động nữ khác tối đa 2 triệu đồng.

Cũng theo đề án này, lao động nữ học nghề được vay tiền để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Với người làm việc ổn định tại chỗ (nơi cư trú) sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay học nghề.

Lao động nữ là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo học các khoá học trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú;

Sau khi học nghề, lao động nữ sẽ được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.

Đề án cũng nêu rõ, lao động nữ sau khi học nghề tham gia sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm được ưu tiên hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm từ các hoạt động hỗ trợ việc làm của Đề án này và các chương trình xúc tiến thương mại hiện hành. Mỗi lao động nữ chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của Đề án này.

Mục tiêu của Đề án là tỷ lệ lao động nữ trong tổng số chỉ tiêu tuyển sinh học nghề đạt 40%, tỷ lệ lao động nữ có việc làm sau khi học nghề tối thiểu đạt 70%.

Các cơ sở dạy nghề, giới thiệu việc làm thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cấp Hội phụ nữ thực hiện tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm và tạo việc làm cho khoảng 100.000 phụ nữ hàng năm, trong đó khoảng 50.000 lao động nữ được đào tạo nghề, Đề án nêu rõ.


Theo Vneconomy

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Đầu tư vào Việt Nam cho lợi nhuận cao nhất thế giới

Thống kê mới nhất của Grant Thornton International cho thấy 92% số công ty nước ngoài đang đầu tư tại Việt Nam hy vọng sẽ có được lợi nhuận trong năm 2010. Đây là kết quả khả quan nhất mà tổ chức này ghi nhận được.

1. Việt Nam
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 91 điểm (*)
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 92%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 95%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 64%

Cùng với động thái hạ giá đồng tiền trong năm 2009, Chính phủ Việt Nam mang lại nhiều lợi thế cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Lợi thế này tiếp tục được khẳng định khi đầu năm nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam một lần nữa điều chỉnh tỷ giá đồng bản tệ so với đôla Mỹ. Giá trị đồng Việt Nam giảm cũng đồng nghĩa với việc Intel, hãng sản xuất chip máy tính lớn nhất thế giới, kiếm được nhiều tiền hơn từ dự án trị giá hơn 1 tỷ USD của mình tại Việt Nam. Và Intel không phải là trường hợp duy nhất.

(*) Điểm số do tạp chí BusinessWeek đưa ra dựa trên số lượng công ty dự báo khả quan về lợi nhuận.

2. Ấn Độ
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 65 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 72%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 79%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 56%

Tăng trưởng thần kỳ trong những năm qua, Ấn Độ là thị trường không thể bỏ qua đối với cả Ford Motor và Volkswagen. Hai gã khổng lồ trong ngành công nghiệp ôtô này dự kiến sẽ đầu tư vào quốc gia đông dân thứ 2 thế giới này khoảng 6 tỷ USD trong vòng 2 năm tới. Ấn Độ cũng được đánh giá là một trong những địa chỉ lý tưởng cho các dự án đầu tư phục vụ xuất khẩu.

3. Philippines
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 59 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 69%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 80%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 49%

Là trạm trung chuyển hàng hóa lý tưởng trên biển Thái Bình Dương, trong những năm gần đây, Philippines còn là nơi HSBC, Deutsche Bank, JPMorgan Chase, Dell, và rất nhiều đại gia trong ngành công nghiệp và viễn thông của thế giới lựa chọn để đặt nhà máy và các văn phòng đại diện khu vực. Không chỉ thúc đẩy hoạt động tài chính, lựa chọn này của các tập đoàn còn kích thích lĩnh vực xây dựng tại Manila và nhiều thành phố khác.

4. Brazil
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 57 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 64%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 76%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 63%

Sau 6 tháng suy thoái gây ra giảm phát trong năm 2009, nền kinh tế lớn nhất châu Mỹ Latin hy vọng sẽ đạt được mức tăng trưởng 5,2% năm nay. Theo khảo sát của Grant Thornton, Brazil là sự lựa chọn hàng đầu của các công ty trong lĩnh vực khai mỏ và cơ khí. Đồng bản tệ tăng giá 34% trong năm 2009 so với đôla Mỹ đã kích thích tiêu dùng trong nước nhưng lại là trở lực lớn đối với xuất khẩu. Brazil hiện là nền kinh tế xuất khẩu nhiều cà phê và khí thiên nhiên nhiều nhất thế giới.

5. Chile
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 56 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 62%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 80%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 47%

Lớn thứ 5 và cũng là nền kinh tế ổn định nhất châu Mỹ Latin, thế mạnh của kinh tế Chile là lĩnh vực khai mỏ. Hãng khai khoáng lớn nhất thế giới BHP Billiton đã và đang đầu tư nhiều tỷ USD để mở rộng dự án mỏ đồng Escondida tại nước này. Vào tháng 1/2010, Chile trở thành quốc gia đầu tiên tại khu vực Mỹ Latin gia nhập tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD.

6. Australia
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 54 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 63%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 68%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 50%

So với nhiều nền kinh tế lớn khác, Australia ít chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới do thị trường xuất khẩu chính của nước này là Trung Quốc tiếp tục có nhu cầu lớn đối với quặng sắt và than đá. Trong khi BHP Billiton và Rio Tinto tiếp tục khẳng định thế mạnh trong lĩnh vực khai mỏ thì Chevron, ExxonMobil và Royal Dutch Shell đã biến Australia trở thành một gã khổng lồ về năng lượng với dự án khí thiên nhiên trị giá 43 tỷ đôla Australia tại bờ biển tây bắc nước này

7. Đan Mạch
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 50 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 64%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 57%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 27%

Những tín hiệu lạc quan đã trở lại với kinh tế Hy Lạp sau một năm 2009 đầy những khó khăn, khi mà nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu này suy thoái 4,3%, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao nhất trong vòng 4 năm. Gói kích thích kinh tế trị giá 10,6 tỷ USD và chính sách lãi suất thấp đã có tác dụng thúc đẩy chi tiêu tại quốc gia 5,5 triệu dân này. Ngân hàng trung ương Đan Mạch có công lớn trong việc giữ thị trường nhà đất ổn định. Giá nhà chỉ tăng 1,5% trong năm 2009 trong khi lương trung bình dự kiến sẽ tăng 2,2% vào đầu năm nay.

8. Thụy Điển
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 50 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 61%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 65%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 41%

Thụy Điển là quê hương của rất nhiều hãng công nghiệp nặng nổi tiếng thế giới như Volvo AB, hãng sản xuất xe tải lớn thứ 2 thế giới, SKF AB, hãng chế tạo vòng - ổ bi lớn nhất thế giới… Những gã khổng lồ này là động lực chính giúp kinh tế Thụy Điển thoát khỏi suy thoái và Chính phủ nước này dự báo mức tăng GDP 3% trong năm nay.

9. Armenia
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 45 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 55%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 68%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 39%

Nền kinh tế 3,2 triệu dân của Armenia chịu ảnh hưởng nặng nề (GDP giảm 14,4%) từ suy thoái kinh tế thế giới cũng như những bất ổn trong khu vực nhưng Chính phủ nước này hy vọng kinh tế có thể tăng trưởng khoảng 1% trong năm 2010. Cùng với sự hợp tác với Thổ Nhĩ Kỳ và nỗ lực gia nhập đời sống kinh tế châu Ấu, vốn đầu tư nước ngoài vào Armenia dự kiến tăng 50% trong năm nay.

10. Nam Phi
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 44 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 60%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 71%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 38%

Nam Phi là nước xuất khẩu bạch kim, mangan lớn nhất thế giới, và cũng là nước có sản lượng vàng đứng thứ 3 toàn cầu. Việc giá kim loại tăng trong năm 2009 đã mang lại nguồn lợi lớn cho các công ty khai mỏ có mặt tại nước này như Anglo American, BHP Billiton và Xstrata. Ngành tài chính ngân hàng cũng được xem là rất có tiềm năng tại Nam Phi khi những đại gia như Barclays hay Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc đều đã có mặt tại quốc gia này. Với kim ngạch chiếm khoảng 7% giá trị xuất khẩu, ngành công nghiệp ôtô Nam Phi đang thu hút sự quan tâm của General Motors, Toyota và Volkswagen.

Theo Vnexpress

Coca-Cola và Pepsi bắt đầu vào cuộc đua mới

Ngày 25/2, Tập đoàn nước giải khát Coca-Cola đã tiết lộ kế hoạch mua lại Coca-Cola Enterprises - công ty chuyên đóng chai lớn nhất cho tập đoàn này tại thị trường Bắc Mỹ với thỏa thuận tổng giá trị có thể đến 13 tỷ USD, nhằm sản xuất các loại đồ uống mới phù hợp với thị trường.

Động thái này xuất hiện chỉ vài ngày trước khi đối thủ chính của họ, tập đoàn Pepsi, dự kiến sẽ hoàn tất một thỏa thuận tương tự nhằm hợp nhất hoàn toàn hệ thống phân phối.

Hiện Coca-Cola đang nắm giữ 34% cổ phần trong Coca-Cola Enterprises (CCE), trị giá 3,4 tỷ USD. Trong thương vụ hoán đổi tài sản này, hãng đồng thời sẽ phải gánh luôn khoản nợ 8,88 tỷ USD của CCE.

Cùng với đó, Coca-Cola sẽ bán lại các dây chuyền đóng chai tại Na Uy và Thụy Điển cho CCE với giá 822 triệu USD. CCE cũng có quyền mua lại 83% cổ phần dây chuyền đóng chai của Coca-Cola tại Đức. Nếu kế hoạch này thành công, Coca-Cola sẽ kiểm soát hơn 90% tổng khối lượng sản phẩm tại thị trường Bắc Mỹ.

Hồi tháng 8 năm 2009, Pepsi cũng đã thông báo thỏa thuận trị giá 7,8 tỷ USD mua lại hai công ty đóng chai lớn nhất của họ tại khu vực này.

Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Coca-Cola, ông Muhtar Kent nói: "Cấu trúc hệ thống mới của tập đoàn tại Bắc Mỹ sẽ tạo ra hệ thống kết hợp kinh doanh tuyệt vời, đem lại lợi nhuận khổng lồ trong hoạt động kinh doanh đồ uống không cồn."

Trong khi đó, Chủ tịch CCE John Brock khẳng định thỏa thuận sáp nhập sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh cho hãng, duy trì phát triển ổn định tại thị trường châu Âu và đem lại lợi ích cho hoạt động kinh doanh của CCE và các cổ đông.

Tại thị trường Mỹ, giới tiêu dùng đang có xu hướng chuộng các sản phẩm như nước hoa quả và trà. Bởi vậy Coca-Cola và Pepsi đều muốn giành quyền kiểm soát thị trường phân phối sản phẩm để sản xuất loại đồ uống của mình và ấn định giá mà họ muốn.

(Theo TTXVN)

Điện, xăng tăng sẽ 'đe doạ' chỉ số lạm phát

Năm nay, Chính phủ đặt chỉ tiêu lạm phát dừng ở mức 7%. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận định, chỉ số này khó dừng lại ở một con số, thậm chí có thể cao gấp đôi so với mức 7%, trong bối cảnh giá xăng, điện, nước đồng loạt tăng và tổng mức CPI hai tháng đầu năm đã chiếm nửa kế hoạch đề ra.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Quản lý kinh tế Trung ương, nói: “Tôi không tin giá cả trong năm nay sẽ trở về mức cũ, nói gì đến việc giảm giá. Thực tế thì giá cả đang dần hình thành một mặt bằng mới, rất nhiều yếu tố chỉ ra điều đó. Cụ thể, giá xăng liên tục tăng thời gian qua; giá điện sắp đội lên 6,8%; tỷ giá USD được các ngân hàng điều chỉnh lên mức kịch trần khiến giá hàng nhập khẩu tăng mạnh; nhiều loại thuế bị “đánh” trở lại như thuế môn bài, thuế khai thác tài nguyên... Trong khi đó, Chính phủ đã giảm ưu đãi cho doanh nghiệp, như cắt gói hỗ trợ lãi suất, ngân hàng siết chặt cho vay... Điều này khiến doanh nghiệp phải chịu nhiều sức ép và để đảm bảo lợi nhuận, họ buộc phải tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ".

Cũng vì thế, theo ông Doanh, chỉ số lạm phát năm nay sẽ vượt xa mức 7% mà Chính phủ nêu ra, có thể ở mức hai con số.

Nhiều ý kiến cho rằng, chỉ số lạm phát khó dừng lại ở một con số.

Còn tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Viện phó Viện Giá cả và thị trường (Bộ Tài chính) thì phân tích, mức lạm phát cả năm được tính bằng tổng CPI 12 tháng. Thực tế tháng 1 và 2, mức CPI đã lên tới 3,32% (tháng 1 là 1,36% và tháng 2 là 1,96%), trong khi tháng 3, mức CPI dự đoán còn cao hơn đầu năm do đây là thời điểm giá điện chính thức tăng. "Như vậy, để đảm bảo tổng mức CPI 12 tháng năm nay chỉ dừng lại ở 7% là vô cùng khó", ông Ánh nhận định.

Cùng chung quan điểm trên, bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế cao cấp, nói: “Tôi e ngại Việt Nam khó có thể đảm bảo mức lạm phát năm 2010 là 7% như kế hoạch đề ra. Những diễn biến hai tháng đầu năm cho thấy hoàn toàn không thể đạt được mức trên. Hiện tại, ngoài giá xăng, điện, giá một số mặt hàng thiết yếu khác cũng đã tăng như giá nước, máy bay, tàu xe...”.

“Một nguyên nhân nữa khiến tôi cho rằng lạm phát năm nay sẽ cao hơn dự đoán bởi chịu ảnh hưởng từ những biện pháp đầu tư không hiệu quả. Nhiều dự án được bơm vốn khá lớn nhưng rồi lại bị bỏ, trong khi năm nay, số lượng dự án đăng ký mới đổ về khá nhiều”, bà Lan giải thích thêm.

Một trong những biện pháp để kiềm chế lạm phát năm 2010 là Chính phủ yêu cầu tăng trưởng tín dụng trong năm nay không được vượt mức 25%, thấp hơn rất nhiều so với năm trước. Tuy nhiên, theo bà Lan, việc làm này hơi cứng nhắc. "Nhà nước nên xem xét giảm rót vốn vào khu vực nào và khuyến khích đầu tư vào khu vực nào. Chỉ nên kiểm soát việc đầu tư tín dụng vào những dự án không hiệu quả, chẳng hạn như việc đầu tư ngoài ngành của một số doanh nghiệp lớn. Trong khi đó, nên khuyến khích đầu tư tín dụng vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ nông dân... để phát triển kinh tế đồng đều", bà Lan nhận định.

Theo giải thích của Bộ Tài chính, lạm phát thường chỉ tăng vào quý I, qua quý I là giá cả giảm dần và đi vào ổn định, khiến lạm phát cũng giảm. Tuy nhiên trên thực tế mấy năm gần đây, từ 2007 đến 2009, lạm phát đều tăng cao ở những tháng giữa năm. Giá cả hàng hóa khi đã hình thành một mặt bằng mới thì khó giảm trở lại.

(Theo Đất Việt)

Tăng giá: Bài toán khó của Chính phủ

picture

Các bà nội trợ không khỏi lo lắng khi một số mặt hàng thiết yếu tăng giá sau Tết - Ảnh: HTD.

Trong lúc giá cả hàng hóa, tiêu dùng sau Tết đang còn cao thì đồng loạt xăng dầu, điện, than được bật đèn xanh tăng giá


Trong lúc giá cả hàng hóa, tiêu dùng sau Tết đang còn cao thì đồng loạt xăng dầu, điện, than được bật đèn xanh tăng giá. Vì sao có việc điều hành như vậy? Chính phủ gặp khó khăn gì?

Ông Nguyễn Hoàng Anh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, phân tích: “Than, xăng dầu, điện là đầu vào của nhiều ngành sản xuất nên tăng giá sẽ ảnh hưởng nhiều. Nhưng ta cũng phải chấp nhận bởi kinh tế thị trường thì không thể để những mặt hàng quan trọng này nằm ngoài quy luật. Tâm lý của người dân, phản ứng của xã hội về việc tăng giá vừa qua cho thấy mặc dù chúng ta cố gắng điều hành kinh tế theo nguyên tắc thị trường nhưng với nhóm năng lượng thì vẫn chưa được thị trường lắm. Việc điều hành giá vẫn hơi thiên cưỡng”.

Lẽ ra đã tăng giá sớm hơn?

Tại sao phải chấp nhận, thưa ông?

Năng lượng là lĩnh vực quan trọng, xương sống của nền kinh tế và cũng là đầu vào cho các hàng hóa, dịch vụ khác. Ta muốn đầu tư mạnh cho năng lượng, huy động các nguồn vốn cho năng lượng nhưng lại kìm giá đến dưới giá thành thì không thể thu hút được. Ai cũng biết điện rất hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng khống chế giá bán thấp quá nên đâu có ai vào?

Chưa kể việc bao cấp giá với than, điện hiện nay và xăng dầu trước kia là kiểu bao cấp tràn lan, không khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hợp lý. Thậm chí mặt hàng than còn dẫn tới tiêu cực, trục lợi. Khống chế giá than bán cho điện, xi măng dưới giá thành khiến khó kiểm soát được lượng tiêu thụ thực tế bao nhiêu và bao nhiêu bị đẩy ra ngoài bán kiếm lời.

Đẩy năng lượng vào vận hành theo cơ chế thị trường cần thiết như vậy thì tại sao không tiến hành sớm hơn, mà lại để lúc nền kinh tế vừa vượt qua khủng hoảng lại tăng giá?

Từ năm 2007, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội về việc chấm dứt bao cấp giá với xăng dầu, than, điện rồi. Nếu ta thực hiện ngay được lúc ấy thì tốt nhưng khủng hoảng kinh tế thế giới lại ập tới, rồi lạm phát trong nước lên mức cao nên phải hoãn lại.

Tuy nhiên, kinh tế trong nước mới vượt qua đáy, còn nhiều khó khăn, mà tăng giá ngay thế này thì đúng là cũng có thể gây tâm lý bất ổn.

“Nên chia sẻ với Chính phủ”

Chuyên theo dõi công tác điều hành giá của Chính phủ, ông có nghĩ việc tăng giá xăng dầu và vài ngày nữa là điện có quá bất ngờ không?

Tôi không nghĩ là bất ngờ. Vấn đề chuyển sang cơ chế thị trường với những sản phẩm này bàn bạc đã lâu rồi, cũng đã công khai và báo chí nói tới nhiều. Xăng dầu thì từ cả năm trước đã rục rịch tăng giá. Cơ chế điều hành giá điện cũng ban hành và công bố đã lâu… Cho nên với doanh nghiệp thì không có gì là bất ngờ cả. Đầu vào tăng thì đầu ra tăng thôi. Còn với người dân thì sau tết giá hàng tiêu dùng còn đắt đỏ, thế mà xăng dầu, điện lại tăng tiếp thì chắc không tránh khỏi “xao xuyến”.

Tôi nghĩ mọi người và cả Quốc hội cũng vậy, nên chia sẻ khó khăn với Chính phủ.

Nhưng tăng giá như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống người dân, nhất là những hộ nghèo, vùng khó khăn. Làm thế nào hạn chế tác động đó?

Theo tôi biết thì phương án tăng giá điện của Chính phủ đã tính tới đối tượng này. Như thế, đối tượng này sẽ ít bị ảnh hưởng… Ngoài ra, trong lộ trình thị trường hóa các sản phẩm, dịch vụ quan trọng sẽ đồng thời phải xây dựng các chính sách đồng bộ về xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ những địa phương còn khó khăn.

Tăng trưởng và kềm lạm phát: Chỉ có thể chọn một

Hai tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng CPI đã hơn 3%, nay lại thêm cú tăng giá xăng dầu, điện thì liệu có khó đạt chỉ tiêu lạm phát cả năm không quá 7% mà Quốc hội giao, thưa ông?

Vấn đề này, mấy ngày qua các nhà kinh tế đã dự báo rồi. Trong tình hình nền kinh tế thế này mà cho tăng giá thì chắc chắn chỉ tiêu CPI sẽ bị ảnh hưởng. Đánh giá đó là có cơ sở.

Có vẻ như Chính phủ đang đứng trước bài toán khó?

Đúng. Để thúc đẩy xuất khẩu, phấn đấu tăng trưởng ở mức cao nhất ngay sau khủng hoảng, vừa rồi Chính phủ đã điều chỉnh tỉ giá ngoại tệ theo hướng làm giảm giá tiền Việt. Cũng để thu hút đầu tư vào năng lượng, hạn chế bao cấp tràn lan thì giá xăng dầu đã được thả theo cơ chế thị trường, giá than, điện cũng được điều chỉnh sát với thị trường hơn. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng đang bị thắt chặt lại để kéo lạm phát xuống, nay lại nới rộng lên mức 25%-30% để thúc đẩy sản xuất kinh doanh… Tất cả đều gây sức ép tới chỉ số giá tiêu dùng.

Và với diễn biến như vậy, Chính phủ đang nghiêng về mục tiêu tăng trưởng hơn là giữ lạm phát ở mức Quốc hội đề ra?

Chúng ta đang ở giai đoạn bắt đầu sau khủng khoảng nên tăng trưởng nhanh là cần thiết. Giờ mà ta hạn chế tín dụng, không nới lỏng đồng nội tệ, không cho tăng giá… thì chắc chắn sẽ kìm hãm nền kinh tế. Hai lựa chọn, buộc phải chọn một thôi nhưng phải cố điều hành hợp lý để lạm phát ở được mức thấp nhất.

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội có dự kiến giám sát sát sao hơn việc điều hành giá của Chính phủ?

Chúng tôi vẫn theo dõi sát diễn biến thị trường. Khi cần thiết, Ủy ban sẽ báo cáo, kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tham gia thêm với Chính phủ. Chúng tôi đang lên kế hoạch khảo sát thị trường các mặt hàng thiết yếu, đánh giá lại tình hình phân phối hàng hóa, dòng chảy lưu thông sau ba năm gia nhập WTO.

Nghĩa Nhân (Pháp luật Tp.HCM)

Tư nhân tiếp cận vốn ODA - muộn còn hơn không

Là quyết định đúng đắn, phù hợp với thông lệ quốc tế dù muộn mằn, thế nhưng, việc cho DN tư nhân vay vốn ODA vẫn còn nhiều điều còn trăn trở để quyết sách đúng đi vào cuộc sống.

Kẻ ăn không hết, người lần không ra

Trong những năm qua, chuyện giải ngân vốn ODA đã trở thành chuyện "biết rồi, khổ lắm, nói mãi". Nguyên nhân chính vẫn là do các dự án chậm triển khai, thủ tục hành chính có quá nhiều vướng mắc. Thêm vào đó là sự trì trệ của các cơ có thẩm quyền tiếp cận nguồn vốn này. Vậy đâu là lối thoát cho tình trạng trì trệ này?

Hỗ trợ phát triển chính thức hay ODA, (Official Development Assistance), là một hình thức hỗ trợ đầu tư của các nước phát triển giành cho các nước đang phát triển. ODA thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài (25- 40 năm). Mục tiêu chính của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư theo đa mục tiêu: cơ sở hạ tầng kinh tế, cải tiến thể chế quản lý, đào tạo nhân lực và thúc đẩy các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển... tạo ảnh hưởng tích cực về chính trị và cho hàng hóa; dịch vụ quốc gia đóng góp hoặc trực tiếp đầu tư. Trong các cuộc đàm phán để vay vốn, các nhà tài trợ luôn khuyến khích bên tiếp nhận cần đưa các nhà thầu ngoài quốc doanh vào tham gia với tư cách bình đẳng với các doanh nghiệp Nhà nước.

Chính phủ và nhà tài trợ nỗ lực nhiều nhưng chưa nâng được tốc độ giải ngân. Ảnh: Tiền phong.

Việt Nam là một trong số nước được hưởng chính sách ODA của cộng đồng quốc tế, bên cạnh từ các tổ chức tài chính đa phương như IMF; WB; ADB còn từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển khác, nổi bật là Nhật Bản; EU... Luật quản lý nguồn vốn và tài chính của các bên tài trợ thường được tuân thủ nghiêm ngặt, không chấp thuận thanh toán hoặc cung cấp gối đầu các khoản tài chính tuy đã cam kết nhưng không giải ngân đúng tiến độ.

Trong những năm qua, các nguồn vốn cam kết của nước ngoài thường được giải ngân chậm với tỷ lệ thấp, thậm chí có năm chỉ đạt khoảng 50- 60%. Nhu cầu phát triển đất nước rất lớn, thế nhưng một nguồn vốn giá rẻ tương đối bị lãng phí vì những trì trệ nội tại. Dù đã được cải thiện nhưng còn rất chậm làm mất đi những lợi thế về chi phí vốn, lãng phí chi phí cơ hội của nguồn ODA.

Trong những năm qua, chuyện giải ngân vốn ODA đã trở thành chuyện "biết rồi, khổ lắm, nói mãi". Nguyên nhân chính vẫn là do các dự án chậm triển khai, thủ tục hành chính có quá nhiều vướng mắc. Thêm vào đó là sự trì trệ của các cơ có thẩm quyền tiếp cận nguồn vốn này. Vậy đâu là lối thoát cho tình trạng trì trệ này?

Do quan niệm ODA là viện trợ chính thức, do các tổ chức nước ngoài cho vay với sự đảm bảo của Nhà nước nên việc tiếp cận nguồn vốn này là do các cơ quan nhà nước, hoặc các doanh nghiệp nhà nước được ủy quyền. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn này.

Trong nền kinh tế nhiều thành phần, thật vô lý khi "kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra". Với những nguồn vốn vay giá rẻ, các doanh nghiệp nhà nước giải ngân không hết thì với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn trong cảnh thiếu vốn triền miên, phải huy động vốn với giá cao, thường phải chịu lãi gấp hai đến ba lần nguồn ODA.

Thoát cảnh "núp bóng"

TS Nguyễn Văn Nam, nguyên thành viên ban Nghiên cứu của Thủ tướng cho rằng, với các nước khu vực, hợp tác đầu tư nhà nước - tư nhân (PPP) là cách làm thường thấy để các doanh nghiệp sử dụng tốt nguồn lực viện trợ chính thức theo đường Nhà nước. Cũng bằng cách làm này, tỷ lệ giải ngân vốn ODA của các nước thường cao hơn chúng ta rất nhiều. Với Việt nam, do thiếu tin tưởng vào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, lại sợ chệch hướng nên chúng ta chậm thừa nhận cách làm này.

Một tỷ trọng vốn ODA tập trung vào các dự án về hạ tầng. Trong khi đó, không có một nước nào trên thế giới, ngân sách quốc gia có thể đáp ứng đủ để phát triển hạ tầng theo kịp sự phát triển kinh tế. Câu hỏi đặt ra là làm sao Chính phủ có thể đảm bảo được những lợi ích thiết yếu cho người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội. Nhu cầu của xã hội thì bao giờ cũng lớn trong khi nguồn lực của chúng ta thì có hạn. Trong khi đó, các doanh nghiệp tư nhân đang xây dựng nhiều công trình hạ tầng giao thông; điện lực đầu tư từ nguồn vốn vay thương mại và được hoàn trả bằng nguồn thu phí hàng năm đối với công trình giao thông hoặc giá bán cao hơn giá bình quân ở các công trình điện. Hệ quả của các công trình được đầu tư từ nguồn vốn có chi phí cao do phải trả lãi ngân hàng với tỷ suất cao là chi phí xã hội vào vận tải, sản xuất và tiêu dùng có sử dụng nguồn điện bị dội cao.

Nhiều doanh nghiệp tư nhân phải núp bóng các doanh nghiệp quốc doanh để thực hiện các dự án ODA trong các công trình giao thông; điện theo dạng "hợp đồng phụ". Các chủ doanh nghiệp chưa được đàm phán và tham gia kiểm sóat quá trình đầu tư, thanh tóan trực tiếp với chủ nguồn vốn.

Để đáp ứng nhu cầu này, các nước đưa ra hình hợp tác nhà nước - tư nhân (PPP) để khai thác nguồn lực to lớn từ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Mô hình PPP không chỉ để giảm tải áp lực về vốn cho ngân sách nhà nước mà còn tạo thêm không gian cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh lớn mạnh.

ODA chỉ là mồi ban đầu.

Với nguồn vốn ODA, dẫu chỉ đóng vai trò "mồi" ban đầu, các doanh nghiệp tư nhân phát huy được lợi thế so sánh với các doanh nghiệp Nhà nước về nguồn vốn linh hoạt; bộ máy tổ chức hiệu quả cao; tiết kiệm trong đầu tư và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo cao nhất. Đồng thời quá trình sử dụng ODA cũng giúp các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận được với mô hình quản lý dự án của các nước viện trợ.

Thông qua việc tham gia trực tiếp vào các dự án ODA, trình độ quản lý; kỹ năng sản xuất và năng lực nội tại về nhân lực của các doanh nghiệp tư nhân cũng được nâng cao, làm tiền đề cho các bước tiếp theo khi các doanh nghiệp này vươn ra các thị trường quốc tế.

Muộn còn hơn không

Ở Việt Nam, trong hai năm gần đây, rất nhiều mô hình PPP đã xuất hiện với những dự án lớn và quan trọng cho quá trình phát triển đất nước. Trên thực tế, một số dự án PPP có hiệu quả và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, cho xã hội; chẳng hạn như các dự án thủy điện, cơ sở hạ tầng... Một số tập đoàn tư nhân cũng đã tham gia nhiều dự án xã hội và mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước.

Từ thực tiễn này, trong cuộc họp đầu tháng 2, Ban Bí thư ra Kết luận về tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, theo đó, sẽ có cơ chế để doanh nghiệp của tư nhân được vay vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) như các doanh nghiệp nhà nước.

Nhận định về quyết định này, TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia cao cấp của Bộ KHĐT cho rằng: Đó là quyết định đúng đắn, phù hợp với thông lệ quốc tế. Quyết định này rất đáng hoan nghênh, dẫu muộn vẫn hơn không.

Ông Doanh cũng tỏ ra lo ngại rằng, quyết định của Ban bí thư là vậy, nhưng từ chính sách đến thực tiễn vẫn còn là một chặng đường dài, đặc biệt là trong việc tiếp cận với những nguồn vốn giá rẻ như ODA. Trước hết, thông tin về các nguồn ODA cần được công khai, minh bạch với các chủ thể có khả năng tham gia thực hiện; Bộ kế họach đầu tư hình thành tổ chức chuyên trách thu hút vốn ODA vcho các dự án của kinh tế ngòai quốc doanh từ khâu thẩm định, giới thiệu quảng bá, tìm nguồn vốn và tham gia cùng các chủ doanh nghiệp trong quá trình đàm phán. Nhà nước và các tổ chức tài chính cần xác lập khung pháp lý, các điều kiện tài chính và năng lực chuyên môn đi kèm để bảo lãnh cho các nguồn vốn vay ODA của các chủ doanh nghiệp.

Nguồn: Phan Thế Hải - TuanVietNam

Giá điện chỉ tăng một lần trong năm nay

picture

"Từ năm 2009-2012, mỗi năm giá điện chỉ được phép tăng một lần theo biến động của giá thị trường đã được kiểm toán".

Tới đây, nếu giá đầu vào của sản xuất điện tiếp tục tăng, ngành điện vẫn phải chờ đến 2011 mới được tăng giá


Tới đây, nếu giá đầu vào của sản xuất điện tiếp tục tăng, ngành điện vẫn phải chờ đến 2011 mới được tăng giá.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào đã khẳng định như vậy trong cuộc trao đổi với báo giới sáng nay (26/2).

Theo ông Hào, việc điều chỉnh giá điện năm 2010 là bước đi trong lộ trình để thực hiện thị trường hóa giá điện và để giá điện thực sự trở thành tín hiệu cho thu hút đầu tư vào các công trình điện, đảm bảo cho hệ thống điện có đủ nguồn dự phòng hợp lý, hệ thống truyền tải và phân phối điện có đủ năng lực truyền tải góp phần đảm bảo cho nhà sản xuất và kinh doanh điện, đảm bảo an toàn cung cấp điện cho toàn xã hội và người tiêu dùng.

Vậy lý do gì khiến Chính phủ lại phê duyệt phương án tăng bình quân là 6,8% mà không phải là mức tăng thấp nhất 4,98%, như trong ba phương án mà Bộ Công Thương trình Thủ tướng, thưa ông?

Phương án tăng giá điện thêm 4,98% so với giá bán điện bình quân thực hiện trong năm 2009, được Bộ Công Thương trình căn cứ vào mức tăng của giá than bán cho ngành điện chỉ là 15% so với giá than năm trước.

Tuy nhiên, trong quá trình xem xét, Thủ tướng nhận thấy nếu giá than bán cho ngành điện chỉ tăng thêm 15%, thì giá bán này vẫn thấp hơn rất nhiều so với giá thành đã được kiểm toán của ngành than. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ gặp khó khăn lớn trong việc tái đầu tư, mở rộng sản xuất. Do vậy, Thủ tướng đã cho phép giá than cám 5 bán cho ngành điện tăng 28%, còn giá than cám 4b mức tăng là 47%.

Trên thực tế, với giá bán này, giá than TKV bán cho ngành điện vẫn thấp hơn giá xuất khẩu là 40%. Điều này, khiến giá điện phải tăng tương ứng là 6,8%.

Được biết giá khí cũng đang rục rịch tăng, vậy nếu tới đây khi giá khí bán cho ngành điện tiếp tục tăng thì giá điện có tiếp tục tăng nữa không?

Theo quyết định số 21/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2009 đến năm 2012, mỗi năm giá điện chỉ được phép tăng một lần theo biến động của giá thị trường đã được kiểm toán.

Do vậy, nếu tới đây giá khí bán cho ngành điện có tăng thì cũng vẫn phải chờ đến 2011, ngành điện mới được tăng giá một lần nữa.

Tuy nhiên, theo dự kiến, sau 2012, giá bán điện sẽ được điều chỉnh linh hoạt hơn. Vào mùa khô, nhu cầu sử dụng điện tăng cao, giá điện có thể tăng cao hơn để khuyến khích tiết kiệm. Nhưng sang mùa mưa, nhu cầu sử dụng điện giảm, giá bán điện sẽ giảm theo.

Trước đây, mỗi lần tăng giá điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đều lấy lý do là để có vốn đầu tư vào các công trình điện. Giá điện trong năm 2009 cũng đã tăng, nhưng năm qua vẫn có rất nhiều công trình bị chậm tiến độ. Ông nghĩ sao về điều này?

Giá điện trong 2009 đã được điều chỉnh tăng, tuy nhiên nguồn thu của EVN chỉ tăng lên khoảng vài nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, để đầu tư xây dựng một nhà máy điện mức đầu tư phải lên tới 29.000 - 30.000 tỷ đồng.

Thêm vào đó, có tăng giá điện mới có thể thu hút được các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, đầu tư vào ngành điện. Như vậy, mới có thể đáp ứng được với nhu cầu sử dụng điện luôn tăng từ 13 - 15%/năm.

Hiện nay theo tính toán, giá thành mỗi kWh điện chạy bằng than vào khoảng 6,8cent. Trong khi đó, giá bán điện thực hiện trong 2009 ở nước ta mới chỉ ở mức 5,3 cent/kWh. Năm 2010, mặc dù tiếp tục tăng giá, nhưng do chi phí đầu vào cũng tăng, cộng thêm biến động tỷ giá nên vẫn chưa khuyến khích được các nhà đầu tư.

Điện sản xuất từ thủy điện tuy có rẻ hơn, nhưng hiện nay nước ta không còn nguồn để phát triển thủy điện nên ngày càng phải sử dụng nhiều than cũng như các nguồn năng lượng khác như dầu, gió để phát điện. Trong khi đó, giá thành sản xuất từ các nguồn này là khá cao.

Thưa ông, hiện đang có rất nhiều lo ngại rằng, khi giá than tăng, giá điện tăng khiến các mặt hàng thiết yếu tăng theo, điều này liệu có ảnh hưởng đến đời sống của người dân?

Phải hiểu cho đúng là giá than bán cho ngành điện tăng, khiến giá điện tăng. Còn đối với các ngành khác, giá than vẫn giữ nguyên như năm 2009.

Theo tính toán, các hàng hóa thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày như thực phẩm, hàng may mặc, nhiên liệu… tỷ trọng chi phí tiền điện trong giá thành các mặt hàng này là rất nhỏ. Vì vậy, mức tăng giá của các mặt hàng này sẽ không đáng kể.

Tuy nhiên, những đợt điều chỉnh giá lần trước cho thấy, nhiều đơn vị kinh doanh thường lợi dụng việc này để tăng giá các mặt hàng thiết yếu nhằm thu lợi. Do đó, công tác quản lý thị trường cần phải được đẩy mạnh hơn nữa để hạn chế các hiện tượng tiêu cực, gây ảnh hưởng không tốt đến đời sống nhân dân.


Theo Vneconomy

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Doanh nghiệp tư nhân: Vì sao không lớn được?

Nhân viên của Vinamit - một doanh nghiệp tư nhân khá thành công trong lĩnh vực chế biến nông sản - tiếp thị sản phẩm trong một hội chợ - Ảnh: Lê Toàn.

Một điều tra gần đây cho biết, có đến 80% số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có quy mô nhỏ
Đã qua 10 năm tính từ năm 2000 khi Luật Doanh nghiệp chính thức có hiệu lực mà các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn không lớn được, vì sao vậy?

Đó là câu hỏi đầy trăn trở của ông Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, tại một cuộc hội thảo do VCCI tổ chức.

Quả thực là như vậy. Một điều tra gần đây cho biết, có đến 80% số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có quy mô nhỏ (80% có vốn kinh doanh dưới 5 tỉ đồng và 87% sử dụng dưới 50 lao động). Vấn đề không chỉ dừng lại ở việc đưa ra con số về quy mô doanh nghiệp tư nhân, quan trọng hơn như một chuyên gia kinh tế nhận định: “Khi khu vực doanh nghiệp tư nhân chưa thực sự đủ lớn, việc trở thành động lực thực sự cho sự phát triển kinh tế Việt Nam sẽ vẫn là kế hoạch”.

Những nguyên nhân chậm lớn

Đã có rất nhiều ý kiến bàn về nguyên nhân của tình trạng “không lớn được” của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam song những nguyên nhân sau đây là cơ bản.

Thứ nhất, từ năm 2000 - năm Luật Doanh nghiệp được bắt đầu áp dụng - đến nay, thời gian chưa phải là dài để chúng ta có được những tập đoàn kinh tế tư nhân hùng mạnh. Đó là điều tất yếu khách quan.

Thứ hai là những nguyên nhân từ đội ngũ doanh nhân. Một điều tra mới đây của VCCI cho biết, “tầng lớp doanh nhân mới được hình thành trong những năm gần đây, xuất thân từ nhiều tầng lớp lao động xã hội khác nhau, nhiều người chưa được đào tạo kinh doanh bài bản; các doanh nghiệp của doanh nhân Việt Nam chưa có tích lũy lớn về vốn nên sức vươn hạn chế; tinh thần học hỏi của một số doanh nhân chưa cao, dễ thỏa mãn, chưa chú trọng đầu tư thu thập thông tin, nâng cao kiến thức quản lý, kinh doanh; tâm lý ỷ lại của một số doanh nhân vào sự hỗ trợ của Nhà nước vẫn còn tồn tại; một số doanh nhân chưa tuân thủ đúng pháp luật và hưởng thụ quá sớm…”.


Những điểm yếu nêu trên của đội ngũ doanh nhân là sự thật. Đến lượt nó, những điểm yếu nêu trên lại dẫn đến tình trạng “gia đình trị” trong quản trị doanh nghiệp, chưa coi trọng chữ tín trong kinh doanh, tính liên kết rất kém… Vì vậy, chưa thể có những doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn và những doanh nhân xuất chúng.

Thứ ba, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế chưa hình thành.

Trong hệ thống các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay đang tồn tại ba khu vực là: doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn chi phối của Nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đáng tiếc là, hoạt động của các doanh nghiệp thuộc ba khu vực đang “độc lập” với nhau ở mức độ khá lớn. Mỗi khu vực gần như một “ốc đảo”, khép kín với toàn bộ hoạt động của mình. Điều đó không chỉ làm hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân mà còn làm suy yếu toàn bộ hệ thống doanh nghiệp của nền kinh tế quốc dân.


Thứ tư, về môi trường kinh doanh, điều tra của VCCI nhận định: “Những nguyên nhân khách quan chủ yếu là: trình độ phát triển kinh tế còn thấp và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa hoàn thiện; nhận thức về vai trò của doanh nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội vẫn còn một số điểm chưa rõ ràng, chưa tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội về vai trò, vị thế của doanh nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; còn tâm lý e ngại, chưa thật sự tin tưởng vào tinh thần dân tộc, trách nhiệm xã hội, trí tuệ và năng lực của tầng lớp doanh nhân; kinh doanh chưa được coi là một nghề cao quý trong xã hội; sự thất bại của một số doanh nhân trong kinh doanh thường được coi là hiện tượng xấu; môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, chưa tạo điều kiện thật thuận lợi cho các doanh nhân khởi sự doanh nghiệp và yên tâm phát triển sản xuất, kinh doanh; nhiều chính sách được thiết kế thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, thiếu minh bạch; bộ máy hành chính và đội ngũ công chức còn nhiều yếu kém, cải cách hành chính chưa đạt được kết quả mong muốn; tính tùy tiện trong cách ứng xử cũng như trong ban hành chính sách của một bộ phận cán bộ chính quyền không những làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nhân mà còn gây ức chế, làm thui chột ý chí kinh doanh”.

Cần làm gì?

Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng “không lớn được” của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cho thấy, để có những doanh nghiệp quy mô lớn và có nhiều hơn những doanh nhân ngang tầm quốc tế, hãy còn rất nhiều việc phải làm cả trong phạm vi nền kinh tế và từng doanh nghiệp.

Tái cấu trúc hay cải cách cơ bản toàn bộ nền kinh tế quốc dân sau khủng hoảng là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay. Và tái cấu trúc hệ thống các doanh nghiệp phải đi trước một bước trong việc tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Tái cấu trúc doanh nghiệp ít nhất phải bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

Thay đổi cơ cấu sở hữu vốn. Do dấu ấn của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp vẫn còn rất nặng nề trong hệ thống các doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay, những doanh nghiệp do Nhà nước chiếm 100% vốn chủ sở hữu vẫn còn khá nhiều.

Hình thành những mối liên hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp của nền kinh tế. Cần nhanh chóng phá vỡ những “ốc đảo”, hình thành sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp theo hướng: những doanh nghiệp có quy mô lớn, có năng lực quản lý tốt sẽ hoạt động kinh doanh ở những ngành, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ là những vệ tinh cho những doanh nghiệp lớn tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Đó là nhân tố quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp và toàn bộ hệ thống.

Cải cách thể chế pháp lý và thủ tục hành chính, tôn trọng quan hệ thị trường. Thực hiện yêu cầu này đòi hỏi phải giải quyết triệt để những vấn đề: nhanh chóng xóa bỏ cơ chế chủ quản - một cơ chế lỗi thời, tàn dư của thời kỳ bao cấp - từ đó xóa bỏ việc sử dụng mệnh lệnh hành chính để can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của doanh nghiệp theo nguyên tắc “bình đẳng, minh bạch”; xây dựng đội ngũ công chức “liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” như quy định tại điều 8 Luật Cán bộ công chức.

Tái cấu trúc trong nội bộ từng doanh nghiệp. Quản lý doanh nghiệp theo phương thức “gia đình” là đặc điểm lớn nhất của các doanh nghiệp dân doanh Việt Nam, dẫn đến sự thiếu minh bạch. Hơn nữa, do xuất phát từ một nền sản xuất nhỏ, không ít doanh nghiệp đã và đang hoạt động theo phương thức chụp giật, thiếu tôn trọng các quy định của pháp luật. Do đó, từng doanh nghiệp phải tái cấu trúc cơ chế quản lý nội bộ của mình, kể cả việc chuyển đổi hình thức tổ chức, để bảo đảm sự minh bạch và tôn trọng các quy định của pháp luật.

Luật gia Vũ Xuân Tiền (TBKTSG)

Làm rõ trách nhiệm cá nhân để tổng công ty Nhà nước thua lỗ

picture

Tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội đã ra Nghị quyết về việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty Nhà nước.

Thủ tướng yêu cầu làm rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân trong việc để tổng công ty thua lỗ và xử lý theo quy định của pháp luật


"Kiên quyết sắp xếp các tổng công ty Nhà nước hoạt động không hiệu quả, thua lỗ kéo dài nhiều năm, không có khả năng phục hồi; đồng thời, làm rõ trách nhiệm tập thể và cá nhân trong việc để tổng công ty thua lỗ và xử lý theo quy định của pháp luật".

Đây là một trong những nội dung được nêu rõ tại chương trình hành động của Chính phủ, nhằm thực hiện nghị quyết của Quốc hội về việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, được thông qua tại kỳ họp thứ sáu. Kết quả thực hiện chương trình này sẽ được báo cáo tại kỳ họp Quốc hội thứ tám.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu rà soát, phân tích, đánh giá một cách toàn diện về hiệu quả của mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước.

Tổng kết việc xử lý nợ trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước và tìm ra biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trang nợ dây dưa, nợ chiếm dụng không lành mạnh.

Xác định ngành, lĩnh vực cần thiết có tập đoàn kinh tế hoặc tổng công ty Nhà nước trong 5 năm, 10 năm tới; trong đó, ngành, lĩnh vực nào Nhà nước giữ 100% vốn hoặc giữ chi phối ở công ty mẹ.

Tổ chức, sắp xếp lại các tổng công ty Nhà nước, công ty Nhà nước để hình thành những tổng công ty Nhà nước đủ mạnh chi phối nền kinh tế, có vị trí, vai trò ngày càng lớn, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp trong khu vực và thế giới.

Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Có quy định và phương thức phù hợp để thực hiện cổ phần hóa tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước có hiệu quả.

Theo chương trình hành động này, sẽ rà soát lại ngành nghề kinh doanh, danh mục đầu tư, cơ cấu tổ chức của các tập đoàn, tổng công ty để điều chỉnh bảo đảm các tập đoàn, tổng công ty kinh doanh đa ngành nhưng phải tập trung vào ngành sản xuất kinh doanh chính, các ngành kinh doanh khác phải được lựa chọn kỹ lưỡng trên cơ sở phát huy tiềm năng, lợi thế của tập đoàn, tổng công ty với một tỷ lệ vốn đầu tư nhất định.

Quy định cụ thể chế độ báo cáo và công khai, minh bạch kết quả hoạt động bao gồm cả phân phối lợi nhuận của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước trên cơ sở các tiêu chí được xác định rõ ràng để làm cơ sở kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, giám sát.

Quy định rõ tiêu chuẩn để lựa chọn nhân sự quản lý các tập đoàn, tổng công ty; quyền hạn, trách nhiệm, lợi ích; chế tài xử lý vi phạm; cơ chế thưởng, phạt cụ thể.

Chính phủ cũng giao các cơ quan chức năng nghiên cứu, xây dựng cơ chế đổi mới quản lý tiền lương, tiền thưởng trong tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, tạo quyền chủ động cho doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; xây dựng quy chế tiền lương, tiền thưởng đối với người quản lý phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước.

Nghiên cứu để sớm tách chức năng thực hiện các quyền của chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính Nhà nước của các cơ quan hành chính Nhà nước; tách bạch rõ ràng việc thực hiện quyền chủ sở hữu với quyền chủ động kinh doanh của doanh nghiệp; tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh của doanh nghiệp.

Đồng thời, hoàn thiện cơ chế phân cấp việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước theo nguyên tắc có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, thực hiện nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước và phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước.

Ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của các tập đoàn kinh tế mới được thành lập; sửa đổi, bổ sung các điều lệ tập đoàn cho phù hợp với Nghị định số 101/2009/NĐ-CP ngày 5/11/2009 của Chính phủ thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế Nhà nước.

Sơ kết, đánh giá mô hình tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC); hoàn thiện cơ chế người đại diện phần vốn Nhà nước trên cơ sở làm rõ địa vị pháp lý, mối quan hệ với cơ quan quản lý vốn, cơ quan quản lý Nhà nước, xác định cơ quan đầu mối quản lý về nhân sự đối với đội ngũ cán bộ này. Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật để điều chỉnh phù hợp đối với hoạt động đặc thù của SCIC.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý doanh nghiệp; việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước và đất đai tại các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước; về đổi mới, sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước.

Xây dựng Luật Sử dụng vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào kinh doanh và sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan để trình Quốc hội ban hành. Trong khi chưa ban hành luật, Chính phủ ban hành nghị quyết về quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu.


Theo Vneconomy

“Thời điểm tăng giá các mặt hàng được tính toán kỹ”

CPI đã tăng gần 1/2 chỉ tiêu kiềm chế lạm phát cả năm, chưa kể tới tác động từ việc xăng tăng thêm 590 đồng/lít, điện dự kiến thêm 6,8% kể từ ngày 1/3… Đại diện Cục Quản lý giá khẳng định, thời điểm tăng giá các mặt hàng đã được tính toán kỹ lưỡng.
Tiêu dùng trong dịp Tết đã đẩy CPI tăng mạnh (ảnh: Hoài Lương).
Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 của cả nước đã tăng tới 1,96% so với tháng trước. So với tháng 12/2009, CPI cả nước tăng 3,35%.
Nhu cầu tiêu dùng tháng Tết tăng cao đột biến, chủ yếu là nhu cầu lương thực, thực phẩm, mua sắm hàng hóa gia đình, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại tăng mạnh là nguyên nhân đẩy chỉ số giá tiêu dùng lên cao.
Theo Tổng cục Thống kê, CPI tháng 3 có nhiều yếu tố để tiếp tục tăng mạnh. Yếu tố đầu tiên phải kể đến là giá xăng được các doanh nghiệp đầu mối điều chỉnh tăng thêm 590 đồng/lít kể từ ngày 21/2. Yếu tố thứ hai là giá thóc gạo đang có xu hướng tăng, trước việc các doanh nghiệp ở phía Nam tích cực thu mua lúa gạo để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu đã ký kết. Và điểm đặc biệt, theo dự kiến, giá điện tăng thêm khoảng 6,8% kể từ 1/3 tới cũng sẽ là yếu tố khiến giá cả nhiều mặt hàng tăng.
Với các yếu tố này, chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 dự kiến tăng cao từ 0,7 - 0,8%; trong khi 5 năm lại đây, CPI tháng 3 thường là không tăng hoặc tăng rất thấp.
Nói về những tác động tăng giá các mặt hàng tính chỉ số giá cả hàng tháng, ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết: Giá xăng tăng 590 đồng/lít sẽ làm CPI tăng 0,01%. Nếu tính đầy đủ giá điện tăng 6,8% thì tác động trực tiếp vòng một tới CPI là 0,16%, vòng 2 sẽ có tác động gấp đôi, tức là khoảng 0,3%. Với mức giá điện tăng 0,68% thì tác động đến giá thành các ngành sử dụng nhiều điện khoảng từ 0,09% - 2,28%.
“Tuy nhiên, không phải cứ chi phí đầu vào tăng là giá thành sản phẩm và giá bán hàng hoá dịch vụ tăng. Giá hàng còn phụ thuộc vào sức mua, phụ thuộc vào thị trường và mặt bằng giá chung, phụ thuộc vào các biện pháp kiểm soát, quản lý giá cả, quản lý thị trường của Nhà nước.
Giá thành sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng quản lý, tiết giảm chi phí của doanh nghiệp để giảm giá thành sản phẩm và không hẳn, cứ chi phí đầu vào tăng là làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá, của doanh nghiệp”, ông Thỏa nhấn mạnh.
Khẳng định thời điểm điều chỉnh các mặt hàng là hợp lý, ông Thỏa nói: “Những điều chỉnh đó đã được Chính phủ cân nhắc, các cơ quan chức năng tính toán kỹ. Tháng 1, tháng 2 do là những tháng đầu năm và do có tết nguyên đán, nên các doanh nghiệp chưa sản xuất mạnh và chưa thực sự bắt đầu chu kỳ sản xuất mới. Tiến độ sản xuất sẽ tăng trở lại từ tháng 3.
Với quyết định thực hiện tăng giá điện từ tháng 3 và thông tin được đưa ra sớm, sẽ giúp các doanh nghiệp hoạch định chiến lược kinh doanh cả năm, sớm tính toán được chi phí đầu vào để chủ động có các biện pháp quản lý, tiết giảm chi phí hợp lý cũng như có chiến lược tăng sức cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp.
Nếu thời điểm tăng giá chậm lại, sẽ khiến các doanh nghiệp bị động, làm xáo trộn mọi phương án, mọi tính toán của họ. Khi các Bộ trình phương án tăng giá đều đã tính toán các yếu tố đầu vào sẽ là bao nhiêu, tác động đến giá cả đến lạm phát thế nào”.
Nguồn: Nguyễn Hiền - Dân Trí