Hiển thị các bài đăng có nhãn tiền lương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tiền lương. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

Lao động nữ mất việc được hỗ trợ 3 triệu đồng học nghề

picture

Theo mục tiêu của Đề án, mỗi năm sẽ có khoảng 100.000 phụ nữ được giới thiệu việc làm - Ảnh: Việt Tuấn.

Chính phủ đã phê duyệt Đề án "Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015"

Theo Đề án "Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015" vừa được Chính phủ phê duyệt, lao động nữ khi học nghề sẽ được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ.

Cụ thể, lao động nữ thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác, bị mất việc làm trong các doanh nghiệp được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3 triệu đồng/người/khoá học.

Ngoài ra đối tượng này còn được hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000đồng/ngày thực học/người; tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000đồng/người/khoá học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên.

Lao động nữ thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khoá học. Mức hỗ trợ với lao động nữ khác tối đa 2 triệu đồng.

Cũng theo đề án này, lao động nữ học nghề được vay tiền để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Với người làm việc ổn định tại chỗ (nơi cư trú) sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay học nghề.

Lao động nữ là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo học các khoá học trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú;

Sau khi học nghề, lao động nữ sẽ được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm.

Đề án cũng nêu rõ, lao động nữ sau khi học nghề tham gia sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm được ưu tiên hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm từ các hoạt động hỗ trợ việc làm của Đề án này và các chương trình xúc tiến thương mại hiện hành. Mỗi lao động nữ chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của Đề án này.

Mục tiêu của Đề án là tỷ lệ lao động nữ trong tổng số chỉ tiêu tuyển sinh học nghề đạt 40%, tỷ lệ lao động nữ có việc làm sau khi học nghề tối thiểu đạt 70%.

Các cơ sở dạy nghề, giới thiệu việc làm thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cấp Hội phụ nữ thực hiện tư vấn học nghề, giới thiệu việc làm và tạo việc làm cho khoảng 100.000 phụ nữ hàng năm, trong đó khoảng 50.000 lao động nữ được đào tạo nghề, Đề án nêu rõ.


Theo Vneconomy

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

“Có thể làm chủ doanh nghiệp sau khi tu nghiệp tại Nhật”

picture

Ông Kyoei Yanagisawa, Chủ tịch IMM. Ảnh: Quỳnh Lam

Chủ tịch Hiệp hội Phát triển nhân lực quốc tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhật Bản nói về cơ hội của tu nghiệp sinh Việt Nam


“Lao động Việt có thể làm chủ doanh nghiệp sau thời gian tu nghiệp tại Nhật”

Đó là khẳng định của ông Kyoei Yanagisawa, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển nhân lực quốc tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhật Bản (IMM Japan) xung quanh chương trình hợp tác đưa lao động nước Việt Nam sang Nhật Bản theo chương trình tu nghiệp sinh “phi lợi nhuận” (người lao động không phải bỏ chi phi trước lúc đi).

Ông Kyoei Yanagisawa nói: tôi đánh giá rất cao lao động Việt Nam. Thứ nhất, họ rất chịu khó, thứ hai họ rất khéo tay và thông minh nên họ tiếp thu kiến thức rất nhanh. Bản thân tôi muốn tu nghiệp sinh Việt Nam đi Nhật Bản thực tập kỹ năng, cách kinh doanh, sản xuất và quản lý, khi về Việt Nam họ có thể trở thành một nhà kinh doanh, là người chủ doanh nghiệp để giải quyết việc làm cho không chỉ bản thân họ mà có thể kéo thêm 10 hay 20 lao động có việc làm.

Sau hơn 4 năm hợp tác đưa lao động Việt Nam sang tu nghiệp tại Nhật Bản, năm nay, chương trình có điểm gì mới, thưa ông?

Điểm mới của chương trình đưa lao động sang Nhật Bản theo chương trình tu nghiệp sinh sau bản thoả thuận này là người lao động chỉ mất một tháng học việc (tu nghiệp) thay vì hai tháng theo quy định chung của Nhật hoặc một năm như trước đây. Khoản trợ cấp tu nghiệp người lao động được nhận trong một tháng đó là 80.000 yên (khoảng 800 USD). Sau thời gian này, người lao động được hưởng các chế độ, quyền lợi theo luật Tiêu chuẩn lao động của Nhật như lao động sở tại.

Vì thế, nếu lao động biết cách chi tiêu và tiết kiệm, sau mỗi năm tu nghiệp họ cũng để ra được khoảng 1 triệu yên (tương đương với 10.000 USD).

Sau khi hoàn thành thời gian ba năm làm việc, người lao động về nước sẽ được IMM hỗ trợ 600.000 yên (tương đương với hơn 6.000 USD) để người lao động tự tạo việc làm cho mình tại Việt Nam. Như vậy, sau ba năm làm việc tại Nhật, nếu người lao động không tiêu xài xa xỉ, ba năm có thể dành được tới 36.000 USD.

Với số tiền vốn là gần 4 triệu yên cộng với chính sách cho vay vốn ưu đãi của Chính phủ Việt Nam, tu nghiệp sinh sau khi về nước hoàn toàn có thể thành lập một công ty. Nếu họ cần sự giúp đỡ của IMM về mặt chuyên môn, chúng tôi sẽ sẵn sàng giúp đỡ họ.

Thực tế, nhu cầu của lao động Việt đi tu nghiệp tại Nhật lớn hơn rất nhiều so với chỉ tiêu hàng năm mà IMM cung cấp, các ông có thể tác động với phía Chính phủ Nhật Bản để tăng mức chỉ tiêu này không?

Chỉ tiêu phải phụ thuộc vào kinh tế Nhật Bản hồi phục lại như thế nào. Tuy nhiên, sau ký kết bản thỏa thuận, chắc chắn chỉ tiêu sẽ tăng lên.

Chúng tôi đã có hơn bốn năm hợp tác với bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam thực hiện chương trình này. Trong thời gian đó đã có hơn 700 người lao động Việt Nam sang Nhật Bản làm việc tại các doanh nghiệp thuộc IMM. Sắp tới, tôi hy vọng số lượng tiếp nhận sẽ tăng nhanh so với bốn năm trước đây. Chúng tôi đang cố gắng tiếp nhận khoảng 1.000 lao động trong hai năm.

Theo ông, năm nay các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ có nhu cầu tiếp nhận tu nghiệp sinh cho những ngành nghề nào?

Chương trình hợp tác đưa lao động Việt Nam sang Nhật Bản tu nghiệp là có hai mục đích. Thứ nhất là cung cấp lao động cho Nhật Bản , thứ 2 là đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam. Vì thế, ngành nghề cũng rất đa dạng ở tất cả các lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp…

Tuy nhiên, chúng tôi phân tích, đối với Việt Nam là một nước nông nghiệp, để phát triển kinh tế, chỉ có thể đàu tư vào lĩnh vực công nghiệp.

Tôi lấy ví dụ, Nhật Bản sau đại chiến thứ 2, bị phá hoại hết, vậy mà chỉ sau 20 năm, kinh tế được khôi phục, trở thành một cường quốc mạnh trên thế giới cũng là nhờ vào công nghiệp.

Ông nghĩ thế nào về khoản phí đặt cọc rất cao mà lao động Việt Nam phải bỏ ra khi sang Nhật Bản tu nghiệp?

Tôi được biết, hiện Việt Nam đưa tu nghiệp sinh sang Nhật Bản thông qua nhiều tổ chức. Nếu đi qua các doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam, người lao động phải đóng một khoản phí môi giới và đặt cọc rất lớn. Theo tôi, điều này hoàn toàn không nên bởi nó tạo thêm gánh nặng cho lao động Việt sang Nhật học việc, từ đó sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khác.

Riêng đối với chương trình hợp tác với IMM, hầu hết các chi phí đều do phía cơ quan tiếp nhận đài thọ, vì thế tu nghiệp sinh không mất bất cứ khoản chi phí nào ngoài phí ăn, ở, học tiếng, đào tạo giáo dục định hướng, phí hộ chiếu, visa tại Việt Nam.

Chúng tôi cũng đã trao đổi và đề xuất với Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam sẽ tập trung tạo điều kiện cho những lao động nghèo có cơ hội được học tập tại Nhật Bản. Những thanh niên nghèo nhưng chịu khó và có khả năng đều có thể tiếp cận chương trình này chứ không phải có tiền mới đi được .


Theo Vneconomy

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Nhà nước làm gì để giữ chân người tài?

pictureNhiều công chức có năng lực rời bỏ cơ quan Nhà nước do vấn đề lương thưởng.
Công chức rời bỏ cơ quan Nhà nước có chiều hướng gia tăng bởi sự cạnh tranh từ khu vực tư nhân và nước ngoài


Với sự gia tăng cạnh tranh từ khu vực tư nhân và nước ngoài, các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước đang phải đương đầu với một thách thức lớn, làm thế nào để thu hút, giữ chân và khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực?

Bỏ việc vì lương thấp

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm hấp dẫn ngoài hệ thống Chính phủ và thu hút rất nhiều người có năng lực ra khỏi cơ quan Nhà nước khiến cho hệ thống công vụ rơi vào tình trạng có nhiều công chức không đủ năng lực hoặc nhiều công chức không có động cơ làm việc.

Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 mà Ngân hàng Thế giới vừa công bố cho biết, trong giai đoạn từ năm 2003 đến 2007 đã có hơn 16.000 cán bộ, công chức tự nguyện ra khỏi cơ quan Nhà nước. Tp.HCM chiếm hơn 40% con số nói trên.

Kết quả điều tra do Học viện Hành chính Quốc gia tiến hành với 460 công chức ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng hai tỉnh Nam Định, Hòa Bình cho thấy phần lớn công chức rời bỏ cơ quan Nhà nước là vì đồng lương.

Hầu hết những người được hỏi đều cho rằng, mức lương thưởng, trợ cấp là yếu tố quan trọng nhất, lý do về mức lương không thỏa đáng chiếm đến 50% câu trả lời. Tuy nhiên, rất nhiều người trả lời rằng họ cảm thấy khu vực công có quá ít cơ hội cho họ sử dụng năng lực và có quá ít sự khuyến khích cho nỗ lực của họ.

Cụ thể, có 20,8% các công chức được hỏi cho rằng lý do khiến họ không mặn mà với cơ quan Nhà nước là sau một thời gian làm việc, họ thấy kinh nghiệm mà họ có được không như mong đợi. 36,1% cho rằng họ khó phát triển khả năng của mình vì cơ quan Nhà nước không có thưởng và không có sự khích lệ đối với nhân viên. 18% cho rằng, họ ra đi để tìm kiếm cơ hội thể hiện khả năng.

Trao đổi với VnEconomy xung quanh vấn đề tiền lương trong cơ quan Nhà nước, một chuyên gia của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết, lương tối thiểu đã tăng 200% kể từ năm 2000, trong khi chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng khoảng 84%. Theo kết quả này thì mức lương tối thiểu rõ ràng đã tăng nhanh hơn mức độ lạm phát.

Tuy nhiên, trong cùng khoảng thời gian nói trên, khi lương tối thiểu tăng 200% thì GDP bình quân đầu người đã tăng 238%. Ngoài ra, do phải cạnh tranh với khu vực tư nhân trong việc tuyển dụng cán bộ nên Nhà nước không nên chỉ đơn thuần tăng lương tối thiểu theo lạm phát mà phải có nhiều chế độ ưu đãi khác để thu hút người tài.

Giữ người tài, cách nào?

Thực tế cho thấy, chênh lệch lương thưởng giữa khu vực Nhà nước và tư nhân có ý nghĩa rất quan trọng. Khi cán bộ, công chức thấy mình không được trả lương thỏa đáng, họ thường có xu hướng làm giàu bằng cách lách luật và là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nạn tham nhũng.

Tuy nhiên, theo ông Đặng Như Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội , một chuyên gia trong lĩnh vực tiền lương thì hiện nay chi lương cho đội ngũ cán bộ làm việc trong khu vực Nhà nước đã chiếm gần một nửa chi thường xuyên của Chính phủ.

Vì thế, vị chuyên gia này cho rằng, có thể cải thiện tình hình này trong khuôn khổ ngân sách bằng cách tăng lương đồng thời với cắt giảm biên chế. Có nghĩa là tăng lương có tính chất chọn lọc theo bằng cấp, theo kỹ năng, trách nhiệm và hiệu quả công việc hơn là theo thời gian công tác.

Cũng về kinh nghiệm thu hút và giữ chân người tài, ông Peter Ryder, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ đầu tư Indochina Capital, Phó chủ tịch Hiệp hội Thương mại Mỹ (AmCham) tại Hà Nội cho rằng, các cơ quan Nhà nước cũng phải thực sự nhận thức được yêu cầu cạnh tranh trong vấn đề nguồn nhân lực, phải tạo ra được sức cạnh tranh của mình so với các tổ chức tư nhân.

“Cần có động cơ khuyến khích đối với nhân viên. Ngoài vấn đề tiền lương thì các yếu tố khác trong quản lý nhân lực cũng có ý nghĩa quan trọng không kém. Đó là, khi cán bộ, công chức cảm thấy rằng họ đang làm việc trong một hệ thống mà sự thăng tiến và các quyết định khác về nhân sự được đưa ra một cách xứng đáng dựa trên những tiêu chí rõ ràng và minh bạch, họ sẽ có động cơ để phấn đấu và cống hiến”, ông Peter Ryder nói .


Theo Vneconomy

Chính phủ: “Không cấm biếu quà tết theo truyền thống”

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì buổi họp báo chiều 1/2 - Ảnh: Từ Nguyên.

Chính phủ chỉ cấm những hình thức biếu quà có tính chất tiêu cực, lạm dụng công quỹ, không hạn chế tặng quà theo truyền thống và phong tục
Chính phủ chỉ cấm những hình thức biếu quà có tính chất tiêu cực, lạm dụng công quỹ, không hạn chế tặng quà theo truyền thống và phong tục.

Thông tin trên được Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ, diễn ra chiều 1/2.

"Tết không được để dân đói"

Tại buổi họp báo, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, trong ngày 1/2, Chính phủ đã họp phiên thường kỳ tháng 1/2010 với nội dung chính là thảo luận, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng 1/2010.

Phó thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng và các thành viên Chính phủ cho rằng, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, trong tháng đầu của năm 2010, tình hình kinh tế - xã hội của nước ta đã đạt được những kết quả tích cực. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 1 ước tăng 28,4% so với cùng kỳ năm 2009.

Đối với khu vực dịch vụ, du lịch, trong tháng 1, chuẩn bị bước vào dịp Tết Nguyên đán, hoạt động thương mại trên thị trường khá nhộn nhịp. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 1/2010 ước tăng 23,1% so với tháng 1/2009. Lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng mạnh, ước đạt 416 nghìn lượt, tăng 10,6% so với tháng 12/2009 và tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, đến thời điểm này, Chính phủ đã xuất 23.000 tấn gạo hỗ trợ dân các địa phương trong dịp tết và thời kỳ giáp hạt đầu năm 2010. Đồng thời có 7 tập đoàn và tổng công ty Nhà nước trong các lĩnh vực: lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện… đã báo cáo chuẩn bị đầy đủ, chu đáo các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu của nhân dân trong dịp tết.

Đặc biệt, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành và các địa phương tuyệt đối không để người dân thiếu đói trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.

“Địa phương nào để dân thiếu đói trong dịp Tết Nguyên đán phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Chính phủ”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc dẫn lời Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng.

Không được dùng công quỹ tặng quà

Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc Chính phủ có nghiêm cấm biếu và nhận quà biếu trong dịp tết sắp tới, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Chính phủ chỉ cấm những hình thức biếu quà có tính chất tiêu cực, lạm dụng công quỹ, không hạn chế tặng quà theo truyền thống và phong tục.

Chính phủ đã có chỉ thị về vấn đề này. Tuy nhiên, để đảm bảo kỷ cương, các cơ quan giám sát như báo chí phải cùng vào cuộc phối hợp chặt chẽ.

Dự kiến nhu cầu hàng hóa trong tháng này sẽ tăng hơn 20%. Do đó, Chính phủ cũng yêu cầu các địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước có phương án, nguồn vốn cần thiết dự trữ mua hàng tết.

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cũng chỉ đạo tăng cường công tác quản lý giá cả các mặt hàng thiết yếu, kiểm tra, niêm yết giá và bán theo giá niêm yết; chống đầu cơ.

Đặc biệt, để kiềm chế việc tăng giá hàng và hình thành mặt bằng giá mới sau Tết Nguyên đán, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên cho biết, cơ quan này sẽ phối hợp với các ban ngành chức năng nỗ lực để hạn chế tăng giá thấp nhất.

Tuy nhiên, Thứ trưởng Biên cũng thừa nhận, việc hàng hóa có tăng giá sau tết hay không còn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu, tiền hàng, sản xuất kinh doanh của trong nước và quốc tế…

Tập đoàn, tổng công ty đã bán 450 triệu USD cho ngân hàng

Liên quan đến kết quả xử lý một số vấn đề dư luận đang quan tâm như: vụ việc tại Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), vấn đề hai tỷ giá, chống Đô la hóa…, đại diện các bộ, ngành đã trả lời thẳng thắn báo giới.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, tuần qua, Thường trực Chính phủ đã họp bàn xem xét các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước. Hiện Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng đã làm việc với Bộ Tài chính và lãnh đạo SCIC nhưng chưa có kết luận cuối cùng.

Thứ trưởng Hà cũng cho biết, hiện cơ quan này đang soạn thảo đề án tiếp tục hoàn thiện và củng cố vai trò của SCIC và đang xây dựng nghị định về các doanh nghiệp kinh doanh vốn Nhà nước, trong đó có các nội dung như cơ chế phân phối lương thưởng, quản lý tài chính, cơ chế hoạt động của SCIC...

“Tới đây, trong hoạt động của SCIC sẽ phải xác định doanh thu để giao đơn giá tiền lương và cơ chế chi trả phù hợp”, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho biết.

Liên quan đến những vấn đề trong mua bán ngoại tệ, hai tỷ giá, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến cho biết, đến thời điểm này, hệ thống các ngân hàng đã mua lại được 450 triệu USD từ các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Hiện các tổ chức tín dụng này sẵn sàng bán lại cho các doanh nghiệp có nhu cầu.

Liên quan đến việc người dân khó tiếp cận mua ngoại tệ cũng như việc tồn tại hai tỷ giá, Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến khẳng định, Nhà nước hoàn toàn không có chính sách về hai tỷ giá. Việc người dân khó tiếp cận trong mua bán ngoại tệ là do chúng ta còn thiếu các chế tài quản lý, xử phạt các hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, ông Tiến cũng cho biết, Chính phủ không có chủ trương khuyến khích người dân sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam.


Theo Vneconomy

Chủ Nhật, 31 tháng 1, 2010

Chuyện lương, thưởng của giới tài chính

picture

Minh họa: Khều.

Lương bổng đang đóng vai trò chủ đạo trong sự dịch chuyển nhân sự của ngân hàng


Ông vốn là dân Vietcombank, bắt đầu từ vị trí thấp nhất của phòng kinh doanh ngoại hối. Ngày ấy Vietcombank là ngân hàng tiên phong trong áp dụng các nghiệp vụ dealer (giao dịch) ngoại tệ và ông đã nhiều đêm thức trắng theo dõi sự biến động của những đồng tiền quốc tế.

Sự nhạy bén, kinh nghiệm, thông thạo tiếng Anh đã giúp ông vươn lên những thứ bậc cao trong nghề kinh doanh tiền tệ. Nhưng từng ấy năm, ông phần lớn làm cho khu vực kinh tế nhà nước, nhận lương từ vài triệu đến vài chục triệu đồng/tháng. Rồi ông bị bất ngờ, khi mới đây một ngân hàng cổ phần mời ông về làm tổng giám đốc với mức lương 500 triệu đồng/tháng, chưa kể quyền mua cổ phiếu ưu đãi và thưởng theo tỷ lệ trên mức lợi nhuận vượt chỉ tiêu.

Săn lùng nhân sự cao cấp đang diễn ra ở tất cả các lĩnh vực, nhưng không ở lĩnh vực nào sự cạnh tranh lại đến mức quyết liệt như tài chính - ngân hàng. Lương và bổng của đa số tổng giám đốc các tổ chức tín dụng cổ phần hiện nay không dưới 100 triệu đồng/tháng và con số này vẫn không ngừng tăng lên.

Đi kèm với lương là tiêu chuẩn xe cộ, bảo hiểm, thẻ sử dụng dịch vụ tại các khách sạn 5 sao, vé máy bay hạng thương gia, các kỳ nghỉ… Đương nhiên các ông chủ ngân hàng không ném tiền qua cửa sổ. Người được trả lương cao phải có trình độ và kinh nghiệm xứng đáng với số tiền nhận hàng tháng.

Lương cao, quyền lợi nhiều bao giờ cũng gánh theo trách nhiệm lớn. Có tổng giám đốc ngân hàng chỉ mơ có một ngày trong tuần được về nhà trước 6 giờ chiều. Những cuộc họp triền miên, những tính toán, bổ nhiệm nhân sự các chi nhánh, phòng ban, xử lý nguồn vốn… đã lấy đi của dàn giám đốc các ngân hàng sức lực, và những năm tháng già trước tuổi.

Vào năm 40 tuổi, tổng giám đốc một ngân hàng nói ông chỉ làm thêm hai năm nữa rồi nghỉ, nhưng năm năm sau, ngày sinh nhật tuổi 45, vẫn thấy ông cặm cụi ở ngân hàng. Đôi khi công việc là nhu cầu, là thách thức động chạm đến lòng tự ái nên phải vượt qua, nhưng rất nhiều trường hợp đó là niềm say mê nghề nghiệp.

Dẫu vậy, lương bổng đang đóng vai trò chủ đạo trong sự dịch chuyển nhân sự của ngân hàng. Trước đây, người ta đua nhau đầu quân vào ngân hàng nước ngoài vì thu nhập cao, điều kiện làm việc tốt, được thực tập quốc tế, phát triển tài năng. Nay ngược lại, nhân viên cấp cao các ngân hàng nước ngoài bỏ về làm ở các ngân hàng cổ phần.

Điểm lại, khá nhiều người thuộc thế hệ nhân viên thứ nhất, thứ hai, thứ ba từ những năm 1995-2005 của HSBC, Citibank, Deutsche Bank… đã và đang nắm giữ những trọng trách ở các ngân hàng trong nước. Số khác, khi đã có đủ vốn, đứng ra tự lập quỹ đầu tư nội địa, kinh doanh riêng.

Thời gian gần đây, chỉ có thu nhập của nhân sự cao cấp tài chính mới có thể sánh với lương giám đốc ngân hàng. Lương tổng giám đốc hay giám đốc điều hành những công ty chứng khoán tầm cỡ, công ty tài chính, bảo hiểm, quỹ đầu tư đã liên tục nhảy theo cấp số nhân. Đặc biệt vào những dịp lễ, Tết, phần thưởng của giới tài chính cấp cao mới thực sự khiến nhân sự nhiều ngành nghề khác thèm thuồng.

Ở một ngân hàng bậc trung nọ, năm 2008 khi lợi nhuận tăng gấp đôi, mức thưởng dành cho các phó tổng và tổng giám đốc Tết 2009 bình quân từ 1-1,5 tỉ đồng/người. Ở một ngân hàng lớn khác, các phó trưởng phòng xuất sắc nhận mức thưởng tương đương 10-15 tháng lương vào dịp Tết Nguyên đán. Mức thưởng trên dưới 1 tỉ đồng/người đã khá phổ biến trong giới quỹ đầu tư Tết năm 2008, nhưng lại sụt giảm thê thảm vào Tết năm 2009.

Tết này, khi báo chí thăm dò về tiền thưởng, nhân sự cao cấp các quỹ đầu tư tỏ ra không mấy lạc quan, cũng không bi quan. Họ đưa ra những con số khác nhau xung quanh mức vài trăm triệu đồng/người. Kể ra cũng không gây sốc lắm.

Không giống những lĩnh vực khác, mức lương thưởng của giới tài chính, từ bậc trung như trưởng, phó phòng đến chóp bu như tổng giám đốc điều hành, phụ thuộc nhiều vào biến động thị trường chứng khoán.

Những năm chứng khoán tăng trưởng mạnh, nhất là trong tháng 12, thì hồ hởi nhất là lãnh đạo các quỹ đầu tư, công ty tài chính và một số doanh nghiệp có hoạt động đầu tư tài chính. Năm nào thị trường suy thoái, Tết nhất đối với họ là thời điểm buồn.

Ông Bùi Nguyên Hoàn, Vụ trưởng, Trưởng đại diện Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ở Tp.HCM, kể rằng ông học được một phương ngôn khi thăm sàn chứng khoán Frankfurt (Đức): “Thị trường chứng khoán là nơi kinh doanh chất xám”.

Cánh báo chí phản đối, họ bảo: “Thị trường chứng khoán là nơi người ta biến tin tức thành tiền”. Nghe xong, tổng giám đốc một công ty quản lý quỹ đầu tư nước ngoài lớn nhất nhì Việt Nam nhận xét: “Thị trường chứng khoán là nơi kinh doanh rủi ro. Thế mới mệt!”. Và thêm: “Năm nay tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ do chúng tôi quản lý tăng không tốt lắm. Tiền thưởng thì chắc có, nhưng chỉ ở mức tượng trưng thôi”.

Xét cho cùng, thu nhập và bổng lộc của giới tài chính - ngân hàng cũng có sóng, uốn theo đà phát triển của nền kinh tế. Nhận thưởng Tết này xong, người ta lại ngay lập tức mơ ước về kỳ thưởng Tết sau với niềm hy vọng mới. Có lẽ ước mơ và hy vọng mới chính là điều còn lại sau những khoản thu nhập và những mức tiền thưởng Tết cao thấp khác nhau!

Hải Lý (TBKTSG)

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

Hà Nội: Chốt mức thưởng Tết cao nhất là 50 triệu đồng

Tiền thưởng Tết tại Hà Nội cao nhất là 50 triệu đồng thuộc về khối doanh nghiệp tư nhân.
Ông Nguyễn Thế Hùng, Phó Giám đốc Sở Lao động thương binh và Xã hội Hà Nội vừa thông báo mức thưởng Tết nguyên đán 2010 của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn.
Theo đó, tiền thưởng Tết tại Hà Nội cao nhất là 50 triệu đồng thuộc về khối doanh nghiệp tư nhân. Bên cạnh đó, tiền thưởng bình quân của khối doanh nghiệp này là 1,8 triệu đồng/người, thưởng thấp nhất là 200 ngàn đồng/người.
Tiền thưởng khối doanh nghiệp nhà nước trung bình là 1,86 triệu đồng/người, thưởng thấp nhất là 800 ngàn đồng/người, cao nhất là 30 triệu đồng/người. Tiền thưởng khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI bình quân là 3,363 triệu đồng/người, thưởng thấp nhất là 100 nghìn đồng/người.

Trước đó, các doanh nghiệp đã có báo cáo lên Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội, mức tiền thưởng tết cao nhất là 337 triệu đồng, thuộc khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Bên cạnh đó, mức thưởng Tết thấp nhất của doanh nghiệp FDI cũng trái ngược hoàn toàn, thuộc mức thấp nhất với 100 nghìn đồng.

(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2010

Hơn 600 công nhân lãn công đòi tiền thưởng Tết

Sáng 22/1 công nhân Công ty may mặc đồ bơi Thống Nhất tại khu công nghiệp Suối Dầu (Khánh Hòa) tập trung trước cổng doanh nghiệp từ lúc 8h sáng để lãn công, yêu cầu công bố tiền lương tháng 1, thưởng Tết...

Chị Nguyễn Thị Kiều, bộ phận đóng gói cho biết, năm ngoái vào ngày 24/1 công ty có tiền thưởng Tết, nhưng chỉ từ 50.000 đến 300.000 đồng một lao động. Lãnh đạo công ty giải thích, vì doanh nghiệp mới thành lập nên chưa có doanh thu nên không thưởng nhiều.

Theo công nhân, đến năm nay, số lượng hàng xuất ra liên tục, đơn đặt hàng nhiều, công nhân thường xuyên tăng ca nên không thể nói là không có doanh thu. Do đó tiền thưởng Tết không thể như năm ngoái, và lương tháng 1 cũng phải cao hơn vì Chính phủ đã có quy định lương mới.

"Lãnh đạo công ty chỉ thông báo đến cuối tháng nhận tiền thì biết, đến lúc đó chỉ được một hai trăm nghìn đồng như năm ngoái thì chúng tôi biết kêu ai", chị Kiều bức xúc.

Đông đảo công nhân tập trung trước cửa Công ty may mặc đồ bơi Thống Nhất. Ảnh: Tường Vi.

Chị Trần Thị Nga, ở bộ phận may nói, từ khi hoạt động (tháng 6/2008) đến nay, công ty chưa lần nào thưởng lễ. Chị Nga kể, lương công nhân chỉ khoảng 1,3 triệu đồng, trừ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, công đoàn... thực nhận lương chỉ còn gần 950.000 đồng. Nhiều chị em có con, có gia đình, mức lương này rất khó để lo đủ cho con. Nhiều chị em có thai khi hết hợp đồng thì không được ký tiếp, thành ra ai có thai đều phải giấu chờ đến khi ký hợp đồng mới dám tiết lộ. Nhiều người đấu tranh vì quyền lợi công nhân thì sớm hay muộn công ty đều sa thải.

Nguyện vọng của đa số công nhân là muốn có công việc ổn định, tiền lương thưởng rõ ràng, đảm bảo cuộc sống; đồng thời công ty ký hợp đồng với người đang làm việc, không sa thải vô lý.

Nhiều người trú nắng vào các lùm cây trong khi chờ đợi trả lời từ phía lãnh đạo công ty. Ảnh: Tường Vi

Nhiều công nhân khác còn cho biết thêm, tiền vượt định mức sản phẩm của công ty quy định rất thấp. Ví dụ làm vượt định mức 9%, tiền thưởng được tính 800 đồng cho một sản phẩm, vượt 15% là 1.400 đồng, vượt 22% trả 2.000 cho một sản phẩm. Tiền chất lượng 2.000 đồng một sản phẩm. Để tăng thêm thu nhập, công nhân thường xuyên tăng ca, song một giờ tăng ca chỉ được trả 7.200 đồng, một ngày phải tăng ca 2 giờ, nhưng thực tế phải đủ 2 tiếng rưỡi đồng hồ mới được tính.

Đến trưa lãnh đạo công ty mời công nhân tham gia lãn công vào họp kín. Đến 16h, công nhân giải tán trong khi vụ việc vẫn chưa được giải quyết vì ban lãnh đạo cho rằng phải xin ý kiến từ công ty mẹ ở nước ngoài.

Doanh nghiệp này có khoảng 700 công nhân.


Theo Vnexpress

Thưởng Tết: Lý và tình

picture

Nhiều doanh nghiệp đã công bố mức thưởng Tết năm nay cao hơn năm trước - Ảnh: Việt Tuấn.

Không ít lao động khẳng định chưa bao giờ được biết đến khoản tiền thưởng trước khi được nghỉ Tết

Chỉ còn 20 ngày nữa là đến Tết Nguyên đán, trong khi người lao động đang thấp thỏm chờ đợi tiền thưởng tết thì nhiều doanh nghiệp vẫn chưa công bố mức thưởng.

Luật không... bắt

Mặc dù Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã công bố mức thưởng Tết Canh Dần của nhiều doanh nghiệp vào đầu tháng 1, nhưng cho đến thời điểm này nhiều lao động vẫn cho biết, "chưa thấy doanh nghiệp nói gì". Thậm chí, không ít lao động khẳng định, họ chưa bao giờ được biết đến khoản tiền thưởng trước khi được nghỉ Tết.

Trao đổi với VnEconomy, bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ tiền lương (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cho biết, Luật Lao động không bắt buộc doanh nghiệp phải thưởng Tết nên doanh nghiệp không báo cáo chế độ này cũng khó có chế tài xử phạt.

Việc thưởng Tết là căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp và mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Trong trường hợp doanh nghiệp làm ăn lỗ hoặc năng suất lao động của người lao động không cao, doanh nghiệp có quyền không thưởng.

Ngoài ra, việc trả lương, thưởng do doanh nghiệp chủ động, cơ quan chức năng chỉ quản lý chứ không can thiệp nếu doanh nghiệp đó vẫn thực hiện mọi chế độ theo đúng quy định của pháp luật. "Nếu chúng ta quản lý chi tiết đến vấn đề tiền thưởng và tiền lương là không đảm bảo cơ chế thị trường", bà Minh nói.

Theo TS. Lê Quân, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Giám đốc nhân sự, giảng viên Khoa Quản trị nhân sự, Đại học Thương mại Hà Nội, chuyên gia trong việc xây dựng thang bảng lương cho doanh nghiệp, đa số công ty tính tiền thưởng căn cứ vào lợi nhuận sau thuế chứ không hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh như tiền lương.

Việc thưởng Tết cho người lao động thường dựa trên cơ sở hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể mà hai bên đã thỏa thuận. Trong khi đó, hợp đồng lao động lại thường ghi rất chung chung: “Các chế độ thưởng phụ thuộc vào tình hình doanh thu của doanh nghiệp”, vì vậy lao động ít có khả năng thương lượng hay đòi hỏi người sử dụng lao động về khoản thưởng Tết.

Vẫn nên có

Ông Nguyễn Quốc Hán, Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Vĩnh Cát cho rằng, Luật Lao động không bắt buộc nhưng dù ít, dù nhiều, khoản tiền thưởng cuối năm là nên có.

Đặc biệt, khi doanh nghiệp làm ăn có lãi, không có lý do gì để không thưởng cho nhân viên.

Theo quan điểm của vị phó tổng giám đốc này, đối với doanh nghiệp và nhà quản lý doanh nghiệp, tài sản quan trọng nhất không phải là bất động sản, công xưởng, thiết bị máy móc, mà là con người. "Vậy xét về tình, nếu năm nay doanh nghiệp tôi làm ăn có hiệu quả, công đầu tiên phải kể đến chính là nhờ vào năng lực của đội ngũ nhân viên. Vậy tôi không đưa khoản lợi nhuận đó chia cho họ, liệu năm sau những nhân viên giỏi, có tài còn tận tâm và cởi mở với doanh nghiệp của tôi nữa hay không?", ông nói.

Đứng ở góc độ pháp luật, nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi, quỹ lương dự toán trong năm dôi dư ra, doanh nghiệp không chia đều cho người lao động thì cũng khó mà có đủ chứng từ hợp lệ trong việc chi tiêu khoản lãi nói trên.

Cùng quan điểm trên, ông Peter Ryder, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ đầu tư Indochina Capital, Phó chủ tịch Hiệp hội Thương mại Mỹ (AmCham) tại Hà Nội cũng cho rằng, nên có mức thưởng hằng năm (ở Việt Nam vẫn gọi là thưởng Tết) để động viên nhân viên.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần xác định có một chế độ lương, thưởng ưu đãi để thu hút nhân tài, phải tạo ra được sức cạnh tranh của mình so với các tổ chức, doanh nghiệp khác.

Tuy nhiên, theo ông Peter Ryder, doanh nghiệp cần có tiêu chí đánh giá nhân viên một cách chính xác để có mức thưởng xứng đáng với công sức của từng lao động. Với chế độ lương thưởng, doanh nghiệp cũng cần có một kế hoạch trung hạn chứ không nên theo từng năm.

Lý giải cho cách làm này, ông Peter Ryder cho rằng, có thể năm nay anh sinh lãi cao nhưng năm sau anh có thể lỗ lớn. Theo đó việc đánh giá trong từng năm một sẽ không hoàn toàn chính xác, nếu có cái nhìn trung hạn trong vòng 3 - 4 năm, thì năm nào mình cũng có mức thưởng phù hợp.

Đối với cách đánh giá nhân viên để xét chế độ lương thưởng, ngoài hiệu quả công việc nên xem xét các tiêu chí khác như sự nghiêm túc trong công việc, tác phong làm việc và sự trung thành đối với công ty.

"Với các vị trí lãnh đạo phòng, ban, trưởng nhóm, một điểm khác mà tôi cho là rất quan trọng là những vị trí đó đã đào tạo, nâng cao chất lượng nhân sự của chính phòng, ban, nhóm của mình như thế nào. Điều này rất có ý nghĩa trong việc tạo chiều sâu phát triển và bền vững của doanh nghiệp", ông Peter Ryder nói.

Theo Vneconomy

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2010

Chênh lệch lương thưởng: Khoảng cách ngày càng lớn

picture

Tiền lương đang được sử dụng như một công cụ để thu hút lao động giỏi.

Chênh lệch về lương, thưởng đang có xu hướng tăng lên giữa các ngành, loại hình doanh nghiệp và lao động


Chênh lệch về lương, thưởng đang có xu hướng tăng lên giữa các ngành, loại hình doanh nghiệp và lao động. Bên cạnh những lao động nhận mức lương trên 100 triệu đồng/tháng và mức thưởng Tết gần 400 triệu là những người được trả lương 650 nghìn đồng và mức thưởng... 30.000 đồng.

Khoảng cách lớn về thưởng

Tết năm nay mức thưởng cao nhất thuộc về doanh nghiệp FDI của Tp.HCM với 389 triệu đồng, cao hơn 56 triệu đồng so với năm 2009 và 149 triệu đồng so với năm 2008.

Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, qua tổng hợp số liệu của các địa phương cho thấy hầu hết các doanh nghiệp (các tỉnh ít doanh nghiệp thì khoảng 90%, nhiều doanh nghiệp như Hà Nội và Tp. HCM thì 40 đến 50%) đã có báo cáo kế hoạch thưởng Tết cho người lao động. Phần lớn các doanh nghiệp cho biết năm nay vẫn đảm bảo mức thưởng đối với người lao động ít nhất bằng một tháng lương.

Mức thưởng bình quân trong dịp Tết Canh Dần cao hơn 300 nghìn đồng so với năm 2008, tức là khoảng 1,85 triệu đồng/người. Vẫn như mọi năm trước, mức thưởng ở các doanh nghiệp phía Nam cao hơn phía Bắc, Tp.HCM cao hơn Hà Nội.

Cụ thể, doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội có mức thưởng bình quân khoảng 2,3 triệu đồng, trong khi đó mức thưởng bình quân tại Tp.HHCM là 3,8 triệu đồng, Đà Nẵng 2,5 triệu đồng, Khánh Hòa 3,6 triệu đồng và Vũng Tàu là 4,3 triệu đồng.

Mặc dù không có công bố mức thưởng cụ thể của từng ngành, nghề song báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng cho thấy hiện tượng chênh lệch rất lớn về tiền thưởng giữa các lao động và loại hình doanh nghiệp. Có người được thưởng đến hàng trăm triệu đồng thì ngược lại cũng có không ít lao động chỉ được thưởng 30.000 đồng.

Tại Hà Nội, mức thưởng Tết cao nhất là 337 triệu đồng, Tp. HCM có mức thưởng kỷ lục 389 triệu đồng, Đà Nẵng 148 triệu đồng, Vũng Tàu có mức thưởng tết cao nhất là gần 100 triệu đồng. Đối lập với những khoản tiền thưởng cao ngất ngưởng nói trên thì hiện vẫn nhiều doanh nghiệp công bố thưởng Tết 100.000 đồng. Thậm chí, có những doanh nghiệp chỉ thưởng 30.000 đến 50.000 đồng.

Chênh lệch lớn về lương

Theo kết quả tổng hợp số liệu từ 63 tỉnh thành của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nhìn chung, tiền lương của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp năm 2009 đều tăng so với năm 2008, bình quân ước đạt khoảng 2,840 triệu đồng/người/tháng, tăng 10,8% so với năm 2008.

Trong đó, tiền lương bình quân trong doanh nghiệp Nhà nước đạt 3,350 triệu đồng/người/tháng, tăng 7,37% so với năm 2008; riêng các tổng công ty đặc biệt và tập đoàn kinh tế bình quân đạt 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 6,1% so với năm 2008, cao gần gấp 2,5 lần so với các loại hình kinh tế còn lại. Doanh nghiệp dân doanh đạt 2,050 triệu đồng/người/tháng, tăng 10,81%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2, 650 triệu đồng/người/tháng, tăng 9,96% so với năm 2008.

Tiền luơng bình quân cao nhất năm nay thuộc các doanh nghiệp của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu với 4,3 triệu đồng/người/tháng, bỏ xa Hà Nội là 2,5 triệu đồng/người/tháng và Tp. HCM 3,5 triệu đồng/ người/tháng.

Lương cao nhất của người quản lý ở các doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý là 40,5 triệu đồng/tháng. Đáng chú ý là mức lương cao nhất trả cho lao động vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực FDI, trong đó 5 tỉnh, thành phố có mức lương cao nhất trả cho người lao động với trên 100 triệu đồng/tháng là Hà Nội, Tp. HCM, Đà Nẵng, Huế và Bà Rịa – Vũng Tàu.

Còn tiền lương thấp nhất thuộc các doanh nghiệp do địa phương quản lý và doanh nghiệp dân doanh là 650 nghìn đồng/tháng/người/tháng. 10 tỉnh có có mức lương thấp nhất bằng mức lương tối thiểu vùng IV do Chính phủ quy định (920 nghìn đồng/người/tháng) là Bắc Kạn, Lai Châu, Quảng Ninh, Hòa Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Ngãi, Gia Lai và Tây Ninh.

Theo đánh giá của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nhìn chung mức tiền lương, tiền thưởng của người lao động vẫn có khoảng cách khá lớn do hiệu quả sản xuất kinh doanh, lợi thế ngành hàng và giá tiền công ở từng vùng. Mức lương, thưởng ở những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả cao, những ngành nghề có nhiều lợi thế, vùng kinh tế trọng điểm ngày càng chênh lệch cao hơn so với mức bình quân chung và so với các doanh nghiệp khó khăn.

Đối với lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, lao động quản lý giỏi đóng góp nhiều vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh thì mức lương thưởng cao hơn nhiều lần so với mức trung bình và so với lao động giản đơn.

Trao đổi với VnEconomy, bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ tiền lương -tiền công, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho rằng, sự chệnh lệch lương thưởng nói trên là điều tất yếu bởi chúng ta đang thực hiện trả lương theo cơ chế thị trường. Tiền lương đang được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để thu hút và khuyến khích lao động giỏi.


Theo Vneconomy

Mức lương bình quân của người lao động trong năm 2009 đạt 2,8 triệu đồng

Mức lương bình quân của người lao động trong năm 2009 đạt 2,8 triệu đồng

Con số này tăng 10,8% so với năm 2008 - báo cáo của Bộ Lao động thương binh xã hội công bố chiều hôm qua ngày 8/1 cho biết.


Tiền lương bình quân của người lao động trong năm 2009 ước đạt 2,849 triệu đồng/người/tháng, tăng 10,8% so với năm 2008 - báo cáo của Bộ Lao động thương binh xã hội công bố chiều hôm qua ngày 8/1 cho biết.

Trong đó các doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3,350 triệu đồng/người/tháng (tăng 7,37%) (riêng công ty thuộc hạng đặc biệt và công ty mẹ thuộc tập đoàn kinh tế nhà nước ước đạt 5,9 triệu đồng/người/tháng, tăng 6,1%); doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ước đạt 2,650 triệu đồng/người/tháng (tăng 9,96%); doanh nghiệp dân doanh ước đạt 2,050 triệu đồng/người/tháng, (tăng 10,81%) so với năm 2008.

Tính theo địa phương, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có mức lương bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp cao nhất, khoảng 4,3 triệu đồng/người/tháng; sau đó đến thành phố Hồ Chí Minh với mức lương bình quân là 3,5 triệu đồng/người/tháng và 10 tỉnh có mức lương thấp nhất bằng mức lương tối thiểu vùng IV theo quy định của Chính Phủ là Bắc Kạn, Lai Châu, Quảng Ninh, Hòa Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thừa thiên Huế, Quảng Ngãi, Gia Lai và Tây Ninh.

Theo Bộ Lao dộng, đáng chú ý là mức lương cao nhất trả cho người lao động vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực FDI, trong đó có 5 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Bà Rịa – Vũng Tàu) có mức lương cao nhất trả cho người lao động với trên 100 triệu đồng/tháng; ba tỉnh (Quảng Ngãi, Bình Dương, và Long An) có mức lương cao trả cho người lao động từ trên 50 đến 60triệu đồng/tháng…

Liên quan đến mức thưởng Tết năm 2010, Bộ cũng cho biết, mức thưởng Tết đối với người lao động bình quân chung khoảng 1,85 triệu đồng/người (cao hơn so với năm 2008 khoảng 300 ngàn đồng/người). Trong đó mức thưởng Tết của doanh nghiệp nhà nước khoảng 2,2 triệu đồng/người; doanh nghiệp dân doanh khoảng 1,4 triệu đồng/người và doanh nghiệp FDI khoảng 1,9 triệu đồng/người.

Cũng theo báo cáo của các Sở Lao động thương binh xã hội các tỉnh gửi về Bộ, mức thưởng tết đối với người lao động kỷ lục năm 2010 được ghi nhận là 389 triệu đồng (cao hơn mức kỷ lục năm 2009: 330 triệu đồng) và mức thưởng tết thấp nhất đối với người lao động là 30.000 đồng/người (thấp hơn mức thưởng tết thấp nhất năm 2009: 50.000 đồng).

Trong đó doanh nghiệp nhà nước có mức thưởng cao nhất là 99,7 triệu đồng và thấp nhất là 100.000 đồng; doanh nghiệp dân doanh có mức thưởng cao nhất là 185 triệu đồng và thấp nhất là 30.000 đồng; doanh nghiệp FDI cao nhất là 389 triệu đồng và thấp nhất là 50.000 đồng.

Theo Vụ trưởng Vụ lao động tiền lương Tống Thị Minh, do Tết âm lịch năm nay đến muộn (vào giữa tháng 2/2010) nên một số donah nghiệp dã trả một phần tiền thưởng vào Tết dương lịch. Và theo kế hoạch của các doanh nghiệp, người lao động sẽ được nhận thưởng Tết trong khoảng từ ngày 5 đến 12/2/2010.

Bà Minh cũng cho biết, đây là năm đầu tiên 63 tỉnh thành trong cả nước thực hiện báo cáo về tiền lương và thưởng Tết cho người lao động, trong khi những năm trước con số này chỉ đạt khoảng 80 – 90%.

Cũng từ số liệu thống kê của Bộ Lao động, số doanh nghiệp có thỏa ước lao động tập thể đã tăng từ 53,9% năm 2007 lên 66,13% năm 2009; tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký hệ thống thang bảng lương với cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở địa phương theo quy định từ 58,6% năm 2007 lên 61,88% năm 2009; số cuộc đình công xảy ra năm 2009 còn 218 cuộc bằng 30% so với năm 2008.

Với 72,5% số cuộc đình công xảy ra trong năm ở các doanh nghiệp FDI 64,2% trong ngành dệt may da dày và 71,6% số cuộc đình công xảy ra tại các tỉnh, thành phố trực thuộc vùng kinh tế trong điểm phía Nam cho thấy đây vẫn là khu vực nóng về tranh chấp lao động và đình công hiện nay.

Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do đoanh nghiệp thực hiện chưa đúng luật lao động cũng như các thỏa thuận với người lao động nhất là nợ lương, trả chậm lương, không tăng lương hàng năm như đã thỏa thuận, tăng ca, tăng giờ làm…

Theo Thoa Nguyễn
TBKTSG

Thứ Bảy, 9 tháng 1, 2010

'Cơ chế lương lãnh đạo tập đoàn không quá bất hợp lý'

"Chi phí tiền lương được quy định rất chặt chẽ, không ai hưởng cao hơn được đâu, có cho cả đống tiền anh quản lý cũng không dám ăn", Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Đặng Như Lợi trao đổi với VnExpress.net.
> SCIC trả lương cao cho lãnh đạo

- Thưa ông, sau báo cáo của Kiểm toán nhà nước về lương của lãnh đạo SCIC có rất nhiều ý kiến trái chiều về cơ chế trả lương cho lãnh đạo tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện nay?

- Tôi chưa tiếp cận tài liệu của kiểm toán, nên chưa hiểu cách làm nghiệp vụ tiền lương ở đấy. Để kiểm toán được anh phải hiểu đúng về tiền lương và thế nào là giới hạn quyền quản lý của nhà nước và quyền quản lý của doanh nghiệp. Jestar Pacific là công ty cổ phần, có vốn đầu tư nước ngoài, tiền lương do họ quyết định. Cả nước có hơn 10.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký, số hoạt động 4.000-5.000, bây giờ chỉ đưa ra anh Jestar Pacific, rồi bảo so sánh lương tổng giám đốc là không ổn.

Mặt khác, theo cơ chế hiện nay, chi phí tiền lương được quy định rất chặt chẽ, không ai hưởng cao hơn được đâu, có cho cả đống tiền anh quản lý cũng không dám "ăn". Cái cần quan tâm là khoản chi hoạt động cho thành viên hội đồng quản trị ở các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như thế nào. Và phải xem cán bộ quản lý có "ăn" vào chi phí sản xuất không. Nếu tiết kiệm được chi phí sản xuất thì bằng mấy quỹ lương vì quỹ lương chỉ chiếm 5-7%, cùng lắm là 10% chi phí sản xuất.

- Ông đánh giá thế nào về cơ chế trả lương cho lãnh đạo tập đoàn, tổng công ty nhà nước hiện nay?

- Cơ chế hiện nay cơ bản là được, không quá bất hợp lý. Vì vẫn lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh làm đầu, và tỷ suất lợi nhuận trên vốn để quản lý việc chi trả này. Nếu anh lỗ một năm thì thế này, hai năm sẽ mất chức. Còn lãi thì không phải anh được ăn cả. Cái chưa được hiện nay là lối chia lương theo kiểu cào bằng bình quân nên không trở thành động lực cho lãnh đạo doanh nghiệp. Bây giờ người ta tạo ra 10 đồng lợi nhuận, không cho một đồng thì làm sao có cơ chế khuyến khích.

Phải phân biệt lao động quản lý là lao động ứng trước, định hướng sản xuất, công nghệ, mặt hàng, thị trường... và quyết định lợi nhuận của doanh nghiệp. Còn lao động trực tiếp chỉ thực hiện theo đúng ý đồ đó, làm trọn nhiệm vụ. Nếu lãnh đạo định hướng sai thì dù công nhân có tận tâm tận lực bao nhiêu càng lỗ to bấy nhiêu. Cho nên phải chăm lo cho lao động quản lý, tạo ra một đội quân thật giỏi. Người ta bảo một người lo bằng kho người làm là ở chỗ đó.

- Mới đây, Bộ Lao động lấy ý kiến về dự thảo nghị định quy định tiền lương đối với các công ty có phần vốn góp chi phối của nhà nước. Theo đó, nếu tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ của công ty tăng thì tiền lương bình quân của thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc tối đa không vượt quá 8-10 lần tiền lương bình quân của lao động. Ông nhìn nhận thế nào về cơ chế trả lương này?

Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Đặng Như Lợi: "Cái cần quan tâm là cán bộ quản lý có ăn vào chi phí sản xuất không?". Ảnh: Hồng Khánh.

- Đó là cơ chế phân phối tiền lương và có cái gì đó bất bình đẳng. Một lao động chẳng phải đào tạo gì nhiều, chỉ hướng dẫn vài ngày là làm được, trong khi một người để đảm đương vị trí kia họ phải được đào tạo, phải có kinh nghiệm trong bao nhiêu năm, mà lương chỉ cao hơn vài lần thì còn ai làm. Họ sẽ chạy ra làm cho nước ngoài.

Các giám đốc làm cho công ty nước ngoài ngoài lương cao, không có thu nhập nào khác. Cơ chế tài chính của họ quản lý sở hữu rất chặt chẽ, không có chuyện anh lấy tiền của tôi, thương hiệu của tôi để làm giàu cho cá nhân. Nhưng anh làm tốt thì tôi sẽ đối xử với anh tốt, khoảng cách lương của người quản lý với lao động lên tới hàng trăm lần. Thử xem nước phát triển như Singapore, lương nhiều quản lý lên tới 6-10 triệu USD một tháng.

- Vậy theo ông, để thu hút người tài, cơ chế tiền lương cho lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước nên như thế nào?

- Lương phải trả hợp lý, khuyến khích và thực sự là động lực để họ bỏ hết tài năng, trí tuệ cho công việc của mình. Cụ thể phải trả lương cao, nâng khoảng cách chênh lệch với lương bình quân của lao động, vì đó là xu thế của tất cả các nước, đâu phải chỉ Việt Nam. Việt Nam mình bao nhiêu năm làm theo kiểu cào bằng. Chúng ta chăm lo đội ngũ lãnh đạo của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nhưng cũng phải đòi hỏi họ thật sự tận tâm tận lực, phải kiểm soát phương thức quản trị làm sao để họ tiết kiệm chi phí sản xuất, không lợi dụng quản lý vốn, vị trí, thương hiệu và toàn bộ ưu thế của mình để làm giàu cho cá nhân.

Cái này hiện nay chưa làm được nên lao động mới bất bình. Trong khi doanh nghiệp tư nhân, tôi bổ nhiệm anh làm giám đốc, nếu anh không có năng lực thì không dám làm. Nhưng doanh nghiệp nhà nước thì khác, mong được bổ nhiệm làm lãnh đạo, vì không phải vất vả, lo lắng tìm kiếm thị trường, thúc đẩy sản xuất, tạo lợi nhuận. Doanh nghiệp nhà nước nhiều thứ có từ bao nhiêu năm nay rồi, vấn đề là ai được làm, chứ không phải ai làm được.

- Tại hội nghị phòng chống tham nhũng mới đây, có ý kiến cho rằng cần tăng lương cho cán bộ công chức, người làm ở các đơn vị sự nghiệp để chống tham nhũng. Ông nghĩ sao về quan điểm này?

- Lương chỉ là một biện pháp. Đúng là phải trả cho người ta đúng, hợp lý, đủ cao để hạn chế tham nhũng. Nhưng quan trọng là cần có cơ chế kiểm soát về tài sản để họ không thể tham nhũng được. Thứ nữa là phải có cơ chế xử lý nghiêm để khi tham nhũng thì bị phát hiện và đã phát hiện được thì bị xử lý. Thực tế hiện nay có nơi trả lương cao nhưng người ta vẫn tham nhũng.

Còn nói về lương công chức, viên chức trong khu vực hành chính sự nghiệp, cho đến bây giờ chỉ còn cán bộ công chức hành chính quản lý nhà nước, cộng với đảng, mặt trận, đoàn thể là lương thấp. Giáo dục đã có phụ cấp ưu đãi ngành, vừa rồi đưa vào luật phụ cấp thâm niên. Cán bộ y tế, chỉ có phụ cấp ưu đãi, nhưng vẫn đi sau giáo dục và không có phụ cấp thâm niên. Tại sao vậy, xem lao động của y tế với lao động nhà giáo ai vất vả hơn? Tôi không phủ nhận chăm lo cho ngành giáo dục là quan trọng vì từ cổ chí kim ai cũng coi trọng giáo dục. Nhưng vấn đề là phải gắn với chất lượng, hiệu quả. Vế thứ hai ta chưa làm được.

Theo tôi chính sách lương phải hợp lý, tức là đối với cán bộ công chức phải cao hơn mức bình quân của doanh nghiệp, nhưng họ cũng phải làm như doanh nghiệp, tức là phải tạo ra hiệu quả. Muốn vậy phải xem lại đội ngũ cán bộ công chức người nào làm tốt, người nào không đảm bảo yêu cầu công việc.

- Vậy ông đánh giá thế nào về mức lương cho đội ngũ cán bộ công chức hiện nay?

- Nếu đánh giá thì vừa chưa được, vừa quá được. Chưa được với người tận tâm tận lực làm việc vì đất nước. Nhưng lại quá cao với người chỉ có chân trong cơ quan, mà không đảm bảo về chất lượng, yêu cầu công việc. Trước Quốc hội, tôi đã chất vấn Bộ trưởng Nội vụ về việc một phần ba cán bộ công chức làm việc tốt, một phần ba thực hiện theo ý đồ chỉ đâu đánh đấy, một phần ba còn lại có cho thêm đông vui, nhưng nhiều lúc gây rắc rối phiền phức.

- Nếu được giao trách nhiệm hoạch định chính sách tiền lương, ông sẽ có những thay đổi gì?

- Nếu cho tôi làm thì phải thay đổi toàn bộ hệ thống thang bảng lương của khu vực nhà nước. Lương chức vụ là lương chức vụ, lương chuyên môn là lương chuyên môn, không phải vừa có lương, vừa có phụ cấp. Mức lương phải cụ thể chứ không phải hệ số. Quản lý hệ số khi trượt giá quá nhiều, tiền lương thay đổi liên tục. Còn bây giờ đã đi vào ổn định thì phải để hệ thống thang bảng lương ổn định.

Ngoài ra, khu vực nhà nước lương còn nhiều điểm bất hợp lý, như trả theo kiểu già cả lên lão làng, yếu tố thâm niên nhiều quá. Lương trả không theo công việc và chức vụ, đã lên chức rồi khi thôi chức lương vẫn thế, không giảm. Đặc biệt là cách trả theo kiểu cào bằng, người làm tốt, người làm xấu như nhau, cứ đến thời hạn là lên.



Theo Vnexpress

Thưởng Tết Canh Dần: Cao nhất 389 triệu đồng

picture

Mức thưởng tết bình quân năm nay khoảng gần 2 triệu đồng/người

Mức thưởng Tết cao nhất là 389 triệu đồng thuộc về một doanh nghiệp FDI trên địa bàn Tp.HCM.

Chiều 8/1, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức họp báo về tình hình tiền lương 2009 và công bố mức thưởng Tết 2010 trong các loại hình doanh nghiệp. Theo đó, mức thưởng Tết cao nhất là 389 triệu đồng thuộc về một doanh nghiệp FDI trên địa bàn Tp.HCM.

Bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Vụ tiền lương, tiền công, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết, qua báo cáo của 63 sở lao động thương binh và xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các ban quản lý các khu công nghiệp cho thấy, năm nay mức thưởng Tết nhìn chung cao hơn năm ngoái.

Cụ thể, mức thưởng Tết đối với người lao động bình quân chung khoảng 1,85 triệu đồng/người, cao hơn so với năm 2008 khoảng 300 ngàn đồng/người. Trong đó, doanh nghiệp nhà nước có mức thưởng trung bình khoảng 2,2 triệu đồng/người; doanh nghiệp dân doanh khoảng 1,4 triệu đồng/người và doanh nghiệp FDI khoảng 1,9 triệu đồng/người.

Mức thưởng Tết kỷ lục cho người lao động năm nay được ghi nhận là 389 triệu đồng, thuộc về một doanh nghiệp FDI, cao hơn mức kỷ lục Tết 2009 và 2008 (năm 2009, mức thưởng kỷ lục là 330 triệu đồng và năm 2008 là 240 triệu đồng). Tuy nhiên, cũng có những doanh nghiệp của khối này thưởng cho người lao động chỉ có 50.000 đồng.

Mức thưởng Tết thấp nhất đối với người lao động năm nay là 30.000 đồng, thấp hơn mức thưởng thấp nhất của năm 2009, của một doanh nghiệp dân doanh. Mức thưởng cao nhất của khối doanh nghiệp dân doanh là 185 triệu đồng.

Doanh nghiệp Nhà nước có mức thưởng cao nhất là 99,7 triệu đồng và thấp nhất là 100.000 đồng.

Theo Vneconomy

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2010

Lương kỷ lục năm 2009: 216 triệu đồng một tháng

Chiều 8/1, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho biết, người lao động nhận lương kỷ lục năm 2009 là 216 triệu đồng một tháng. Thưởng Tết Canh Dần cao nhất 389 triệu đồng, thấp nhất chỉ 30.000 đồng.

Tại buổi họp báo chiều 8/1, bà Tống Thị Minh, Vụ trưởng Lao động Tiền lương, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho biết, năm nay tiền lương bình quân của người lao động trong doanh nghiệp ước đạt 2,8 triệu đồng một người một tháng, tăng 10% so với năm trước. Trong đó doanh nghiệp nhà nước 3,3 triệu đồng; doanh nghiệp FDI 2,6 triệu đồng và khối dân doanh là 2 triệu đồng một người một tháng.

Tiền lương cao nhất của cán bộ quản lý ở doanh nghiệp nhà nước là 40,5 triệu đồng một tháng; ở khối dân doanh là 216 triệu đồng một tháng; khối FDI là 208 triệu đồng một tháng. Mức lương tháng thấp nhất là 650.000 đồng, thuộc về người lao động khối dân doanh.

Mức thưởng Tết bình quân của cả nước khoảng 1,85 triệu đồng một người. Ảnh: Hoàng Hà.

Cá nhân được thưởng Tết cao nhất năm nay là 389 triệu đồng, thuộc về một doanh nghiệp FDI TP HCM. Địa phương này cũng ghi nhận mức thưởng Tết cao nhất cho lao động trong khối doanh nghiệp dân doanh - 185 triệu đồng. Với khối doanh nghiệp nhà nước, mức thưởng Tết cao nhất 99,7 triệu đồng, của doanh nghiệp ở Khánh Hòa.

Bà Minh cho biết, điều đáng tiếc là mức thưởng Tết thấp nhất đối với người lao động năm nay lại giảm, có doanh nghiệp chỉ thưởng 30.000 đồng (năm ngoái thấp nhất là 50.000 đồng).

Năm nay, thưởng Tết bình quân chung của cả nước khoảng 1,85 triệu đồng một người, cao hơn 300.000 đồng so với năm ngoái. Trong đó, doanh nghiệp nhà nước 2,2 triệu đồng; doanh nghiệp dân doanh 1,4 triệu đồng; doanh nghiệp FDI 1,9 triệu đồng một người.

Xét về địa phương thì Bà Rịa - Vũng Tàu giữ kỷ lục về mức thưởng Tết bình quân, 4,3 triệu đồng; kế đó là TP HCM 3,8 triệu đồng; Khánh Hòa 3,6 triệu đồng; Đà Nẵng 2,5 triệu đồng; Hà Nội 2,3 triệu đồng; Bình Dương 2,1 triệu đồng và Đồng Nai 1,7 triệu đồng.

Trả lời câu hỏi của VnExpress.net về số tỉnh thành, số doanh nghiệp báo cáo về tiền lương, thưởng Tết, Vụ trưởng Minh nói: "Tất cả 63 tỉnh thành đều gửi báo cáo. Riêng về doanh nghiệp thì những địa phương nhỏ hầu hết thực hiện, với thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM, số báo cáo chiếm 40-50%".

Dưới đây là mức thưởng Tết cao nhất của một số tỉnh thành (đơn vị tính theo triệu đồng).

Địa phương DN FDI DN dân doanh DN nhà nước
BR-VT 92,8 116,3 45
TP HCM 389 185 68,4
Khánh Hòa 37,5 35,3 99,7
Đà Nẵng 148,4 37,3 10
Hà Nội 337 50 30
Bình Dương 5 3,5 25
Đồng Nai 25 15 20

Theo Vnexpress

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2010

Thưởng Tết: Khối ngoại át khối nội

Mức thưởng Tết bình quân của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trên địa bàn Hà Nội là 3,36 triệu đồng, của doanh nghiệp nhà nước là 1,86 triệu đồng và của doanh nghiệp dân doanh là 1,82 triệu đồng.

Theo báo cáo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội, xét cả tiền lương năm 2009 và thưởng Tết Canh Dần, khối FDI đều cao hơn doanh nghiệp nhà nước và dân doanh và cao hơn năm 2008. Cụ thể, nếu năm 2008 thưởng Tết bình quân đầu người của doanh nghiệp FDI chỉ 3,17 triệu đồng thì Tết Canh Dần tăng lên 6%, đạt 3,36 triệu đồng. Tiền lương tháng bình quân năm 2009 của doanh nghiệp FDI tăng 11,4% so với năm 2008, đạt 2,3 triệu đồng.

Khối doanh nghiệp FDI cũng có mức chênh lệch cao nhất về tiền lương, thu nhập năm 2009. Trong khi một ngân hàng vốn đầu tư nước ngoài thu nhập bình quân đầu người là 26,6 triệu đồng một tháng thì doanh nghiệp sản xuất sứ vệ sinh chỉ 1,46 triệu đồng một tháng. Người có mức thu nhập cao nhất ở khối doanh nghiệp này là 140 triệu đồng một tháng, mức thấp chỉ là 1,1 triệu đồng.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, từ đầu quý 3/2009, nền kinh tế đã có dấu hiệu hồi phục, nhiều công ty sản xuất kinh doanh có hiệu quả nên tiền thưởng Tết Canh Dần cao hơn năm 2008, bình quân đầu người đạt 1,86 triệu đồng. Doanh nghiệp có mức thưởng cao nhất là 30 triệu đồng một người, thấp nhất là 500.000 đồng một người.

Bình quân thu nhập năm 2009 của khối doanh nghiệp nhà nước là 2,8 triệu đồng, tăng 11,3% so với năm 2008. Doanh nghiệp có mức thu nhập bình quân tháng cao nhất là trên 6 triệu đồng một người, tập trung vào nhóm ngành dịch vụ. Mức thu nhập bình quân tháng thấp nhất 1,6 triệu đồng thuộc về ngành dệt, sản xuất giầy. Người có thu nhập tháng thấp nhất ở loại hình doanh nghiệp này là 1,1 triệu đồng và người có mức thu nhập cao nhất là 25 triệu đồng.

Chênh lệch thưởng Tết giữa lao động trực tiếp sản xuất và lao động quản lý là rất lớn. Ảnh: Hoàng Hà.

Trong khi hai loại hình doanh nghiệp trên thưởng Tết tăng thì khối dân doanh, chiếm đông đảo nhất, tạo ra nhiều việc làm nhất trên địa bàn Hà Nội, thưởng Tết bình quân đầu người chỉ 2,21 triệu đồng, giảm 46,7% so với năm 2008. Doanh nghiệp có mức thưởng cao nhất là 50 triệu đồng một người, thấp nhất là 200.000 đồng.

Sở Lao động cho rằng nửa đầu năm 2009, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp phải giảm sản lượng, công nhân thiếu việc làm. Mặt khác, năm 2009 mức lương của người lao động cao hơn nên trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của doanh nghiệp đối với người lao động tăng, cộng với việc phải đóng thêm 1% quỹ lương doanh nghiệp cho quỹ bảo hiểm thất nghiệp từ 1/1/2009 đã làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.

Thưởng Tết giảm, nhưng thu nhập bình quân đầu người mỗi tháng trong năm qua của các doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn Hà Nội vẫn tăng 1,45 lần so với năm 2008, đạt 2,29 triệu đồng. Doanh nghiệp có thu nhập bình quân đầu người cao nhất là 6,5 triệu đồng một tháng; doanh nghiệp có thu nhập bình quân thấp nhất là 1,2 triệu đồng một tháng. Xét về cá nhân, người có thu nhập thấp nhất một tháng là 800.000 đồng, cao nhất là 50 triệu đồng.

Mặc dù có báo cáo khá chi tiết, nhưng những con số trên chưa phản ánh hết thực tế lương thưởng Tết của người lao động trên địa bàn Hà Nội. Bởi hiện mới có hơn 100 doanh nghiệp báo cáo về Sở, trong khi số doanh nghiệp trên địa bàn lên tới vài chục nghìn.

Nguồn: Hồng Khánh - VNExpress

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009

Hà Nội: Thưởng Tết cao nhất 337 triệu đồng

picture

Nhiều doanh nghiệp có mức thưởng tết cao hơn năm trước.

Mức thưởng cao nhất dịp Tết Canh dần thuộc về khu vực doanh nghiệp FDI


Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội vừa cho biết, bước đầu đã nắm được tình hình thưởng Tết Canh dần của những doanh nghiệp đóng trên địa bàn thành phố. Theo đó, mức thưởng cao nhất là 337 triệu đồng.

Đây cũng là mức thưởng cao nhất tại khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ((FDI), mức thấp nhất của khối này là 100.000 đồng/người. Mức thưởng bình quân của loại hình doanh nghiệp FDI là 3.363.000 đồng/ người, tăng 6% so với năm 2008 (3.170.000/ người).

Đối với doanh nghiệp Nhà nước mức thưởng Tết cao nhất là 25 triệu đồng/ người, thấp nhất là 1,1 triệu đồng, bình quân 1.860.000 đồng.

Với loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, mức thưởng Tết cao nhất là 50 triệu đồng/ người, thấp nhất là 25 nghìn đồng/người, bình quân 1.825.000 đồng/người.

Báo cáo của sở này cũng cho biết, thu nhập bình quân năm 2009 của doanh nghiệp Nhà nước là 2,8 triệu đồng/người/tháng. Trong đó tiền lương chiếm khoảng hơn 90% thu nhập, tăng 11,3 % so với năm 2008. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước khoảng cách chênh lệch giữa các doanh nghiệp không lớn, khoảng 3,7 lần.

Doanh nghiệp có mức thu nhập bình quân cao nhất trên 6 triệu đồng/người/ tháng (tập trung vào các ngành dịch vụ), doanh nghiệp có mức thu nhập bình quân thấp nhất là 1,6 triệu đồng (tập trung vào doanh nghiệp dệt, sản xuất giấy..).

Người có mức lương cao nhất ở khối doanh nghiệp FDI là 140 triệu đồng/tháng và người có mức lương thấp nhất là 1,1 triệu đồng/tháng.
Theo Vneconomy

Thứ Ba, 29 tháng 12, 2009

Từ 2010, nhà giáo sống bằng lương?

picture

Thu nhập thực tế của giáo viên sẽ tiếp tục được nâng lên - Ảnh: SGTT.

Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nói về lương của nhà giáo


Nhà giáo có thể sống bằng đồng lương của mình hay không là câu hỏi không phải bây giờ mới được đặt ra, nhưng câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ.

Tuy nhiên, theo Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Nguyễn Văn Ngữ, thu nhập thực tế của giáo viên sẽ tiếp tục được nâng lên theo hướng từ năm 2010 trở đi, các nhà giáo có thể sống được bằng lương của mình.

Thưa ông, nhiều ý kiến vẫn cho rằng nhà giáo đã được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước chỉ sau bộ đội, công an nhưng thực tế thì hình như không phải vậy?

Thực ra, từ năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng đề án trình Thủ tướng Chính phủ đề xuất tăng hệ số ưu đãi cho giáo viên bình quân lên 1,7 lần. Đây là mức đề xuất hệ số ưu đãi gắn với hệ số ưu đãi của lực lượng vũ trang. Mà hệ số này của bộ đội, công an là 1,8. Tuy nhiên, Chính phủ đã bàn bạc kỹ và chưa chấp thuận với lý do đội ngũ giáo viên đã và đang được hưởng hệ số đứng lớp theo Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy tại các trường công lập rồi.

Vậy hiện nay giáo viên đang được hưởng những chế độ phụ cấp ưu đãi như thế nào và có thể so sánh được với mức tăng như Bộ đã đề xuất ở trên không, thưa ông?

Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ như đã nói quy định chế độ phụ cấp ưu đãi đối với các nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy như sau: nhà giáo dạy cao đẳng, đại học là 25%; nhà giáo dạy trung học cơ sở, trung học phổ thông, ở đồng bằng, thành phố là 30%; nhà giáo dạy mầm non, tiểu học ở đồng bằng, thành phố, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở miền núi, hải đảo vùng sâu vùng xa là 35%; nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các trường sư phạm, khoa sư phạm (đại học, cao đẳng, trung học) là 40%; nhà giáo dạy môn Mác-Lênin là: 45% và giáo viên dạy mầm non, tiểu học ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo là 50%. Bình quân hệ số phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy là 35%.

Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2006NĐ-CP ngày 20/6/2006 về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Mức phụ cấp 50% áp dụng đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại trường năng khiếu thể dục thể thao; trường năng khiếu nghệ thuật; trường phổ thông dân tộc bán trú; trường dự bị đại học. Mức phụ cấp 70% mức lương áp dụng đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại trường phổ thông dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông chuyên, trường lớp dành cho người tàn tật, khuyết tật và nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại các cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Với mức phụ cấp ưu đãi, tăng lương cho giáo viên như ông nói nếu so với mức trượt giá hàng năm mà cụ thể như năm 2009 khoảng 7% thì khả năng đời sống của các thầy, cô có được đảm bảo như mong đợi không, thưa ông?

Trong giai đoạn từ 2006-2012 Chính phủ đã có lộ trình tăng mức lương tối thiểu chung cho tất cả các cán bộ công chức nói chung. Cụ thể là: năm 2006 mức lương tối thiểu chung 350.000 đồng/tháng; năm 2007 là 450.000đồng/tháng; năm 2008 540.000đồng/tháng; năm 2009 đã lên 650.000đồng/tháng; năm 2010 dự kiến mức lương tối thiểu chung tăng 730.000đồng/tháng.

Có thể thấy là thu nhập danh nghĩa của công chức nói chung và giáo viên nói riêng hàng tháng đã tăng gấp 2,08 lần (730.000 đồng/350.000 đồng). Còn thu nhập thực tế của giáo viên đã tăng 1,44 lần. Nếu một giáo viên tốt nghiệp đại học ra trường năm 2010 sẽ có mức lương 2,306 triệu đồng/tháng.

Nếu ở vào thời điểm 2006 thì giáo viên này có mức lương là 1,105 triệu đồng/tháng. Qua đó thấy được mức sống của giáo viên vào năm 2010 sẽ được cải thiện đáng kể so với năm 2006.

Thêm vào đó, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục vừa được Quốc hội thông qua đã quy định có mức phụ cấp thâm niên cho giáo viên. Trong năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ phối hợp cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ trình Thủ tướng giải quyết cụ thể về phụ cấp thâm niên, từ đó thu nhập thực tế của giáo viên sẽ tiếp tục được nâng lên, nhất là những người đã cống hiến lâu năm cho ngành giáo dục.

Mặc dù, khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới đã ảnh hưởng mạnh đến phát triển kinh tế, xã hội, thu ngân sách ở Việt Nam. Tuy nhiên, chính sách lương cho nhà giáo đang hướng đến từ năm 2010 trở đi, các nhà giáo có thể sống được bằng lương của mình.
Theo Vneconomy

Nghịch lý thu nhập

(LĐ) - Lương của một trí thức mà thấp hơn một anh phụ thợ hồ, một cô “ôsin” thì khó chấp nhận. Lương thấp thì khó để cho con người làm việc tận tụy, có hiệu quả. Làm việc cho Nhà nước không đủ sống, nhiều người phải kiếm thêm tiền bằng tiêu cực, tham nhũng.

Lương trí thức thấp hơn lao động tự do, đó là thông tin được công bố từ báo cáo của Bộ LĐTBXH ngày 15.12.2009. Một cử nhân hưởng lương bậc một là 50.700 đồng/ngày, trong khi đó lao động tự do, lao động nông nghiệp được trả 80.000 đồng – 120.000 đồng/ngày đối với các công việc cày ruộng, gặt lúa, bắt ốc, bốc vác, giúp việc gia đình theo giờ.

Trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, nhiều trí thức trẻ mới ra trường có nguyện vọng được bước chân vào. Xin vào được cơ quan nhà nước là cực khó, không có quyền thế con ông cháu cha thì giỏi đằng trời cũng đứng xa mà nhìn. Đã có trường hợp địa phương tuyên bố “trải thảm đỏ” đón nhân tài như Nghệ An, nhưng người giỏi đến xin việc thì bị các cơ quan chuyền như trái bóng, mất một năm trời vẫn không cơ quan nào nhận. Hay như ở Quảng Bình, có trường hợp bị mất việc vì có bằng đại học.

Vào làm việc khó như vậy, nhưng đồng lương thì quá thấp. Nhiều người nuôi con ăn học, hy vọng ra trường đi làm việc sẽ thay đổi cuộc sống; nhưng trên thực tế thì cha mẹ phải chu cấp thêm cho con cái vì thu nhập không đủ sinh hoạt. Lương thấp là một nỗi buồn, nhưng bi quan hơn là môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến. Quy trình lạc hậu, không phát huy sáng tạo đã làm cho nhiều người bị thui chột, lâu ngày trở thành ông “thợ cạo giấy” trong cơ quan, sáng vác ô đi tối vác về.

Lương thấp thì khó để cho con người làm việc tận tụy, có hiệu quả. Ở cơ quan thì đọc báo, chơi games. Ai cũng chỉ mong cho hết giờ để về nhà làm thêm hay nghỉ ngơi, công việc hành chính trì trệ, gây ra bao nhiêu cản trở cho phát triển, hành hạ người dân và doanh nghiệp. Làm việc cho Nhà nước không đủ sống, cho nên nhiều người phải kiếm thêm tiền bằng tiêu cực, tham nhũng. Đồng tiền dưỡng liêm không có thì sự liêm khiết ngày càng vắng bóng trong các cơ quan công quyền. Đã có những người vì lòng tự trọng, vì giữ sự thẳng ngay nên tốt nhất là từ chức, bỏ việc nhà nước đi ra làm ngoài, điển hình như hai ông phó giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư và Sở Thương mại TPHCM.

Lương của một trí thức mà thấp hơn một anh phụ thợ hồ, một cô “ôsin” thì khó chấp nhận. Nghị quyết số 27-NQ/TƯ “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh ký ban hành ngày 6.8.2008 đã định nghĩa : “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu trí thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị với xã hội”. Nghị quyết ghi rõ như vậy, nhưng triển khai vào cuộc sống lại gặp quá nhiều cản trở, nên mới xuất hiện nghịch lý trong thu nhập như vậy.

Lê Thanh Phong-Lao động

Một cách nhìn khác về thưởng tết

picture

Phó chủ nhiệm Đặng Như Lợi: tiền thưởng của khu vực doanh nghiệp FDI thực chất hơn.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội nói về chuyện thưởng tết

Chỉ còn hơn một tháng nữa là đến Tết Canh Dần, người lao động đang háo hức trông chờ vào khoản tiền thưởng cuối năm. Theo nhận định của một số chuyên gia cũng như lãnh đạo doanh nghiệp thì tiền thưởng năm nay sẽ cao hơn năm ngoái.

Tuy nhiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, ông Đặng Như Lợi lại có một cái nhìn khác.

Ông Lợi cho rằng, tiền thưởng ở khu vực Nhà nước thực chất là “làm trước ăn sau”. Nói thưởng tết năm nay cao hay thấp hơn năm ngoái là rất khó bởi đây là đoán chừng hay dựa trên tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp? Thực tế thì cho đến thời điểm này, chưa ai tổng hợp được kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp, nhà máy, để nói một cách rõ ràng, vì thế tất cả chỉ mới là dự đoán.

Vậy ông có dự đoán như thế nào về tình hình thưởng tết năm nay của các doanh nghiệp?

Thực ra vấn đề lương thưởng ta có thể gọi chung là thu nhập. Ở khu vực không chính thức, đó là khu vực không có quan hệ lao động làm thuê, làm công hưởng lương, thì gọi là thu nhập; ngược lại, khu vực chính thức làm công ăn lương thì gọi là tiền lương.

Vậy năm nay tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ 5,2 %, nếu lấy cái đó để nói lương thưởng năm nay sẽ cao thì có lẽ không chính xác.

Đối với doanh nghiệp Nhà nước, người ta có đơn giá tiền lương, khi có đơn giá tiền lương rồi, những năm khó khăn thì họ có thể tạm ứng, đơn vị cao có thể tạm ứng 80%, thấp chỉ được 60%. Đến cuối năm, họ hoàn thành kế hoạch, họ được lấy lại từ 20% đến 40% của cái gọi là tạm ứng để họ thanh toán tiền lương khi tháng 12 kết thúc.

Cách nhận lương này khiến lao động được nhận tiền nhiều hơn vào những vào cuối năm là vì đầu năm lao động chưa nhận đủ mà chỉ là tạm ứng, trrong khi đó mình lại quan tâm đến thu nhập , lương thưởng cuối năm bằng bao nhiêu chứ không chia bình quân 12 tháng làm việc bằng bao nhiêu.

Thường thì tại doanh nghiệp nhà nước, khi lao động hoàn thành kế hoạch lợi nhuận, họ sẽ được hưởng 3 tháng lương thực hiện của quỹ tiền thưởng, quỹ phúc lợi. Có thể so với năm ngoái nó thấp nhưng tại thời điểm đó lại là lớn. Người ta nghĩ rằng được thưởng mấy chục triệu nhưng không nghĩ đến việc, 10 tháng đầu năm đáng lẽ họ được nhận lương 2 triệu thì họ chỉ có nhận 1,2 triệu thôi. Về điều này thì không thấy ai phản ánh cả.

Nói như ông thì tiền thưởng tết là không thực chất sao?

Không hẳn như thế nhưng lỗi ở đây thuộc về anh nắm tình hình. Tại sao không nắm thực chất của vấn đề trong cả năm lại chỉ nắm vài tháng để nói lên điều này.

Đối với tiền thưởng, khu vực doanh nghiệp FDI thực chất hơn vì họ “làm đến đâu ăn đến đấy”, không như khu vực Nhà nước “làm trước ăn sau”.

Nếu không có việc, doanh nghiệp FDI sẽ giãn lao động để vẫn đảm bảo mức lương như thế, chứ họ không giảm lương. Khi nào cần, có việc, họ lại tuyển lao động, và như thế họ cứ đi theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Vì thế, nếu có họ chỉ chi trả tiền thưởng theo quy định ít nhất bằng một tháng lương thứ 13 thì là khoản tiền thưởng thật chứ không như lao động Nhà nước hưởng theo kiểu chia dồn tiền lương của cả năm.

Ngoài ra, doanh nghiệp tư nhân hay FDI làm ăn tốt, làm ăn có lãi, với chiến lược lâu dài, họ muốn năm sau vẫn giữ được đội ngũ lao động này, không bị doanh nghiệp khác lôi kéo, họ có thể tăng mức tiền thưởng lên.

Đấy là chưa bàn về tổng thể của nền kinh tế khi đồng tiền bị chi dồn vào việc cuối năm, điều này rất tai hại. Vì khi có tiền người ta hay có tư tưởng mua có đắt hơn một chút cũng không sao, như vậy là tác động về mặt tâm lý chung, đẩy giá cả tăng lên. Khi giá cả tăng lên, lại làm cho anh có tiền chạy đổ xô đi mua hàng để cho đồng tiền khỏi mất giá, sinh ra một vòng luẩn quẩn, khó điều tiết..

Vậy, tại sao Quốc hội không đưa vấn đề lương thưởng nói trên vào giám sát?

Quốc hội không giám sát thưởng tết vì điều này không nằm trong Luật Lao động. Quốc hội chỉ giám sát những cái được quy định bởi luật, ví dụ: doanh nghiệp không được bắt lao động làm quá 8 tiếng/ ngày, rồi chế độ làm thêm giờ, chế độ thai sản...Vì thế vấn đề này thuộc nhiệm vụ của Chính phủ.

Ngoài ra, nếu chúng ta quản lý chi tiết đến vấn đề tiền thưởng và tiền lương thì không đảm bảo cơ chế thị trường. Đặc biệt, khi chúng ta tham gia Tổ chức thương mại thế giới phải tuân thủ theo nền kinh tế thị trường.Tiền lương là theo sự thỏa thuận với nhau, chỉ cần anh đảm bảo được mức lương tối thiểu của Nhà nước quy định. Vì thế, mới có chuyện cùng công việc đó có nơi trả 5 triệu đồng nhưng cũng có những chỗ chỉ 2 triệu.

Khi Luật Lao động không có quy định bắt buộc khoản thưởng tết thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động như thế nào, thưa ông?

Tất nhiên là ảnh hưởng chứ, vì cuối năm, giá cả tăng, nếu không có khoản tiền thưởng lao động sẽ gặp khó khăn. Đấy là chưa kể phải mua sắm trong dịp Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, hiện người lao động ít có khả năng thương lượng với người sử dụng lao động về tiền thưởng Tết trong hợp đồng lao động vì hợp đồng lao động thường ghi rất chung chung: “các chế độ thưởng phụ thuộc vào tình hình doanh thu của doanh nghiệp!”.

Vì thế, vai trò của tổ chức công đoàn trong vấn đề này vô cùng quan trọng. Công đoàn cần đại diện cho người lao động để thương lượng với chủ sử dụng lao động khi xây dựng quy chế lương, thưởng. Nếu doanh nghiệp có ký kết tham gia xây dựng thỏa ước lao động tập thể, trong đó quy định tỷ lệ qũy khen thưởng chiếm khỏang 10% lợi nhuận sau thuế thì sẽ có lợi hơn cho người lao động khi nhận tiền thưởng Tết.

Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là hiện hầu hết tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp là người của doanh nghiệp. Mang tiếng là đại diện cho người lao động nhưng tổ chức này lại do doanh nghiệp dựng lên và nếu làm trái ý doanh nghiệp, họ cũng đứng trước nguy cơ mất việc như người lao động.
(Theo Vneconomy)

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2009

Lương, thưởng tết: Mối quan tâm lớn của người lao động

Cứ vào dịp cuối năm, vấn đề lương, thưởng tết trở thành mối quan tâm lớn của người lao động (NLĐ). PV Báo Lao Động đã có cuộc trao đổi với TS Đặng Quang Điều – Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, Phó Trưởng ban Chính sách - Pháp luật Tổng LĐLĐVN về tình hình lương, thưởng tết và đời sống, việc làm của NLĐ trong năm 2009.

Ông Điều khẳng định: Mặc dù chịu tác động của suy giảm kinh tế nhưng nhìn chung lương, thưởng tết của NLĐ năm 2009 sẽ cao hơn năm 2008.

- Thưa ông, kinh tế trong nước và quốc tế năm 2009 có nhiều biến động, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống NLĐ. Ông có thể cho biết về tình hình đời sống, việc làm và thu nhập, nhất là lương, thưởng tết của NLĐ ra sao?

- Có thể nói sang quý III và quý IV/2009 kinh tế nước ta đã vượt qua được khủng hoảng và có bước phát triển đáng khích lệ. Nhờ có gói kích cầu của Chính phủ mà hầu hết các DN đã phục hồi sản xuất, nhiều DN còn mở rộng và phát triển SXKD nên đã thu hút thêm LĐ vào làm việc. Hầu hết LĐ mất việc làm đã tìm được việc làm, những DN có mức lương thấp đã không tuyển được LĐ.

Qua báo cáo của một số ngành và địa phương, tiền lương của NLĐ năm nay cao hơn so với năm 2008 khoảng 15 - 20%.

Về tiền thưởng tết năm 2009, hiện nay chưa có nhiều DN công bố. Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì thưởng tết năm nay cũng sẽ cao hơn năm ngoái. Có DN thưởng tháng lương thứ 13, có DN thưởng tới hai tháng lương, nhất là những người lao động có gắn bó lâu dài với DN, có cống hiến nhiều thì mức thưởng tới 2- 3 tháng lương.

- Trước tình hình suy thoái kinh tế, thời điểm cuối năm 2008 đầu năm 2009, Tổng LĐLĐVN đã có kiến nghị với Chính phủ đưa ra các biện pháp tháo gỡ nhằm bảo vệ quyền lợi NLĐ bị mất việc làm, kết quả đạt được như thế nào, thưa ông?

- Ngay từ đầu năm 2009, do tác động của khủng hoảng kinh tế nhiều DN đã phải thu hẹp SXKD, có DN phải đóng cửa, hoặc chủ DN bỏ trốn, làm cho hàng trăm ngàn LĐ vị mất việc, thiếu việc. Trước tình hình đó, Tổng LĐLĐVN đã có văn bản kiến nghị Chính phủ có giải pháp hỗ trợ cho các DN và NLĐ.

Ngày 23.2.2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 30/2009/QĐ- TTg về việc hỗ trợ đối với NLĐ mất việc làm tại các DN gặp khó khăn do suy giảm kinh tế; theo quyết định này thì DN được vay vốn với lãi suất bằng không để thanh toán các khoản nợ lương cho NLĐ; và NLĐ được vay vốn để tự tạo việc làm. Tuy nhiên sau một thời gian thực hiện cũng đã nảy sinh nhiều vướng mắc. Cụ thể là những DN gặp khó khăn do suy giảm kinh tế năm 2008 không thuộc đối tượng áp dụng QĐ30.

Theo báo cáo của các địa phương, số LĐ mất việc quý IV năm 2008 là 67.000 người. Cũng theo quy định tại Quyết định 30, điều kiện để được vay phải là DN có số LĐ mất việc làm chiếm 30% tổng số LĐ, hoặc phải có từ trên 100 LĐ mất việc trở lên mới được vay. Quy định này đã loại bỏ khá nhiều DN được vay vốn. Còn NLĐ mất việc làm muốn được vay vốn thì phải có hộ khẩu, mà đa số NLĐ làm việc ở các KCN, KCX thì chỉ có giấy tạm trú nên không thể vay được vốn tự tạo việc làm.

- Thực tế là có tình trạng nhiều DNNN đông CNLĐ nhưng đang gặp khó khăn, lương thấp hoặc không có lương trả cho NLĐ (chẳng hạn các DN ngành công nghiệp tàu thủy), trong khi nhiều đơn vị khác cũng là DNNN có ít LĐ, nhưng tiền lương lại rất cao (chẳng hạn TCty Kinh doanh vốn nhà nước SCIC). Ông có ý kiến gì về vấn đề này?

- Theo tôi, tiền lương, tiền công được trả theo năng suất lao động. Thực tế hiện nay là nhiều DN tiền lương thấp, nhưng có những DNNN trả lương cao cần phải xem xét đơn vị đó trả lương có theo đúng các văn bản quy định của Nhà nước không?

Vinashin và SCIC đều là Cty nhà nước, vì vậy việc trả lương cho NLĐ và người quản lý điều hành Cty phải thực hiện theo quy định của Nhà nước.

Nghị định 206/2004/NĐ-CP về quản lý lao động, tiền lương, thu nhập trong các Cty nhà nước quy định, NLĐ trong Cty nhà nước thực hiện trả lương theo thang, bảng lương nhà nước và được điều chỉnh hệ số tăng thêm không quá 2 lần so với lương tối thiểu chung. Và chỉ được điều chỉnh hệ số tăng thêm khi Cty làm đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước và lợi nhuận phải không thấp hơn so với năm trước, nhưng thấp nhất cũng bằng mức lương cơ bản.

Còn về tiền lương, tiền thưởng của thành viên HĐQT, tổng GĐ, GĐ Cty nhà nước phải thực hiện theo quy định tại NĐ 207/2004/NĐ-CP. Theo đó tiền lương, tiền thưởng của thành viên HĐQT, tổng GĐ, GĐ Cty nhà nước được trả căn cứ vào năng suất lao động và lợi nhuận của Cty. Nếu năng suất lao động và lợi nhuận tăng thì tiền lương của thành viên HĐQT, tổng GĐ, GĐ Cty tăng. Tuy nhiên mức tăng cao nhất cũng không được quá 2 lần so với lương cơ bản.

Về chế độ tiền thưởng đối với ban quản lý điều hành Cty (HĐQT, ban giám đốc) chỉ được trích tối đa không vượt quá 5% lợi nhuận, nhưng không vượt quá 500 triệu đồng/năm.

Như vậy, việc trả lương cho những người quản lý, điều hành Cty nhà nước (trong đó có SCIC ) quá cao, trái với quy định thì cần phải xem xét và làm rõ.

- Trên thực tế, việc tăng lương, thường đi kèm với việc tăng giá. Nếu lương tăng mà giá cũng tăng thì việc tăng lương sẽ không còn ý nghĩa. Ông cho biết quan điểm của Tổng LĐLĐVN như thế nào về việc này?

- Từ nhiều năm qua, cứ mỗi khi tăng lương đều dẫn đến tăng giá, đây gần như là một quy luật của nền kinh tế thị trường vì tăng lương, là tăng nguồn cung tiền mặt làm tăng sức mua, trong khi đó nguồn cung về hàng hoá, dịch vụ không tăng kịp dẫn đến giá cả tăng.

Kiềm chế tăng giá, nhằm đảm bảo giá trị tiền lương của NLĐ là một trong những vấn đề quan trọng mà Nhà nước và Tổng LĐLĐVN hết sức quan tâm. Thực tế trong thời gian qua Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp hữu hiệu nhằm kiềm chế lạm phát, như các giải pháp kích cầu đối với các DN thông qua việc cho vay vốn với lãi suất thấp để các DN phát triển SXKD tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, tăng cung cho thị trường hàng hoá, dịch vụ nhằm giảm giá thành và do đó giảm chỉ số CPI trong thời gian qua.

CĐ với chức năng và nhiệm vụ của mình, đã phát động nhiều đợt thi đua, đặc biệt là phong trào thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo với năng suất, chất lượng cao nhằm hạ giá thành sản phẩm, góp phần chung vào kiềm chế tăng giá, thông qua đảm bảo giá trị tiền lương của NLĐ.

- Xin cảm ơn ông.

Nguồn: B.C.Đ - Lao Động

Lương tối thiểu trong doanh nghiệp sẽ tăng từ 10-15%

picture

Người lao động trong doanh nghiệp sẽ được tăng lương từ 2010 - Ảnh: Việt Tuấn.

Năm 2010 tiếp tục thực hiện lộ trình thống nhất một mức lương tối thiểu cho các loại hình doanh nghiệp

Năm 2010, lương tối thiểu trong doanh nghiệp trong nước sẽ tăng bình quân 15%.

Thông tin trên được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết tại báo cáo tổng kết một năm thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW và Quyết định số 1129/QĐ-TTg về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp, vừa diễn ra tại Tp.HCM sáng nay, 24/12.

Theo khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, đời sống của người lao động đã phần nào được cải thiện khi năm 2009, nhà nước thực hiện điều chỉnh mức lương tối thiều vùng đối với doanh nghiệp trong nước tăng bình quân 18%, đối với doanh nghiệp FDI tăng bình quân 15%.

Cụ thể, tiền lương bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp ước đạt được 2.750.000 đồng/tháng, tăng 6,5% so với năm 2008. Trong đó, doanh nghiệp nhà nước đạt 3.200.000 đồng/tháng, tăng 1,2%; doanh nghiệp FDI đạt 2.600.000 đồng/tháng, tăng 7,8%; doanh nghiệp dân doanh đạt 2.350.000 đồng/tháng, tăng 5% so với năm 2008.

Bộ này cũng cho biết, năm 2010 tiếp tục thực hiện lộ trình thống nhất một mức lương tối thiểu cho các loại hình doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp trong nước lương tối thiểu sẽ tăng bình quân 15%, đối với doanh nghiệp FDI lương tối thiểu tăng bình quân 10%.
Theo Vneconomy