Hiển thị các bài đăng có nhãn thegioi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thegioi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Đầu tư vào Việt Nam cho lợi nhuận cao nhất thế giới

Thống kê mới nhất của Grant Thornton International cho thấy 92% số công ty nước ngoài đang đầu tư tại Việt Nam hy vọng sẽ có được lợi nhuận trong năm 2010. Đây là kết quả khả quan nhất mà tổ chức này ghi nhận được.

1. Việt Nam
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 91 điểm (*)
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 92%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 95%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 64%

Cùng với động thái hạ giá đồng tiền trong năm 2009, Chính phủ Việt Nam mang lại nhiều lợi thế cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Lợi thế này tiếp tục được khẳng định khi đầu năm nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam một lần nữa điều chỉnh tỷ giá đồng bản tệ so với đôla Mỹ. Giá trị đồng Việt Nam giảm cũng đồng nghĩa với việc Intel, hãng sản xuất chip máy tính lớn nhất thế giới, kiếm được nhiều tiền hơn từ dự án trị giá hơn 1 tỷ USD của mình tại Việt Nam. Và Intel không phải là trường hợp duy nhất.

(*) Điểm số do tạp chí BusinessWeek đưa ra dựa trên số lượng công ty dự báo khả quan về lợi nhuận.

2. Ấn Độ
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 65 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 72%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 79%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 56%

Tăng trưởng thần kỳ trong những năm qua, Ấn Độ là thị trường không thể bỏ qua đối với cả Ford Motor và Volkswagen. Hai gã khổng lồ trong ngành công nghiệp ôtô này dự kiến sẽ đầu tư vào quốc gia đông dân thứ 2 thế giới này khoảng 6 tỷ USD trong vòng 2 năm tới. Ấn Độ cũng được đánh giá là một trong những địa chỉ lý tưởng cho các dự án đầu tư phục vụ xuất khẩu.

3. Philippines
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 59 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 69%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 80%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 49%

Là trạm trung chuyển hàng hóa lý tưởng trên biển Thái Bình Dương, trong những năm gần đây, Philippines còn là nơi HSBC, Deutsche Bank, JPMorgan Chase, Dell, và rất nhiều đại gia trong ngành công nghiệp và viễn thông của thế giới lựa chọn để đặt nhà máy và các văn phòng đại diện khu vực. Không chỉ thúc đẩy hoạt động tài chính, lựa chọn này của các tập đoàn còn kích thích lĩnh vực xây dựng tại Manila và nhiều thành phố khác.

4. Brazil
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 57 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 64%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 76%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 63%

Sau 6 tháng suy thoái gây ra giảm phát trong năm 2009, nền kinh tế lớn nhất châu Mỹ Latin hy vọng sẽ đạt được mức tăng trưởng 5,2% năm nay. Theo khảo sát của Grant Thornton, Brazil là sự lựa chọn hàng đầu của các công ty trong lĩnh vực khai mỏ và cơ khí. Đồng bản tệ tăng giá 34% trong năm 2009 so với đôla Mỹ đã kích thích tiêu dùng trong nước nhưng lại là trở lực lớn đối với xuất khẩu. Brazil hiện là nền kinh tế xuất khẩu nhiều cà phê và khí thiên nhiên nhiều nhất thế giới.

5. Chile
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 56 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 62%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 80%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 47%

Lớn thứ 5 và cũng là nền kinh tế ổn định nhất châu Mỹ Latin, thế mạnh của kinh tế Chile là lĩnh vực khai mỏ. Hãng khai khoáng lớn nhất thế giới BHP Billiton đã và đang đầu tư nhiều tỷ USD để mở rộng dự án mỏ đồng Escondida tại nước này. Vào tháng 1/2010, Chile trở thành quốc gia đầu tiên tại khu vực Mỹ Latin gia nhập tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD.

6. Australia
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 54 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 63%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 68%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 50%

So với nhiều nền kinh tế lớn khác, Australia ít chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới do thị trường xuất khẩu chính của nước này là Trung Quốc tiếp tục có nhu cầu lớn đối với quặng sắt và than đá. Trong khi BHP Billiton và Rio Tinto tiếp tục khẳng định thế mạnh trong lĩnh vực khai mỏ thì Chevron, ExxonMobil và Royal Dutch Shell đã biến Australia trở thành một gã khổng lồ về năng lượng với dự án khí thiên nhiên trị giá 43 tỷ đôla Australia tại bờ biển tây bắc nước này

7. Đan Mạch
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 50 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 64%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 57%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 27%

Những tín hiệu lạc quan đã trở lại với kinh tế Hy Lạp sau một năm 2009 đầy những khó khăn, khi mà nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu này suy thoái 4,3%, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao nhất trong vòng 4 năm. Gói kích thích kinh tế trị giá 10,6 tỷ USD và chính sách lãi suất thấp đã có tác dụng thúc đẩy chi tiêu tại quốc gia 5,5 triệu dân này. Ngân hàng trung ương Đan Mạch có công lớn trong việc giữ thị trường nhà đất ổn định. Giá nhà chỉ tăng 1,5% trong năm 2009 trong khi lương trung bình dự kiến sẽ tăng 2,2% vào đầu năm nay.

8. Thụy Điển
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 50 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 61%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 65%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 41%

Thụy Điển là quê hương của rất nhiều hãng công nghiệp nặng nổi tiếng thế giới như Volvo AB, hãng sản xuất xe tải lớn thứ 2 thế giới, SKF AB, hãng chế tạo vòng - ổ bi lớn nhất thế giới… Những gã khổng lồ này là động lực chính giúp kinh tế Thụy Điển thoát khỏi suy thoái và Chính phủ nước này dự báo mức tăng GDP 3% trong năm nay.

9. Armenia
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 45 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 55%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 68%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 39%

Nền kinh tế 3,2 triệu dân của Armenia chịu ảnh hưởng nặng nề (GDP giảm 14,4%) từ suy thoái kinh tế thế giới cũng như những bất ổn trong khu vực nhưng Chính phủ nước này hy vọng kinh tế có thể tăng trưởng khoảng 1% trong năm 2010. Cùng với sự hợp tác với Thổ Nhĩ Kỳ và nỗ lực gia nhập đời sống kinh tế châu Ấu, vốn đầu tư nước ngoài vào Armenia dự kiến tăng 50% trong năm nay.

10. Nam Phi
Đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư: 44 điểm
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm lợi nhuận: 60%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm doanh thu: 71%
Số doanh nghiệp kỳ vọng có thêm nhân lực: 38%

Nam Phi là nước xuất khẩu bạch kim, mangan lớn nhất thế giới, và cũng là nước có sản lượng vàng đứng thứ 3 toàn cầu. Việc giá kim loại tăng trong năm 2009 đã mang lại nguồn lợi lớn cho các công ty khai mỏ có mặt tại nước này như Anglo American, BHP Billiton và Xstrata. Ngành tài chính ngân hàng cũng được xem là rất có tiềm năng tại Nam Phi khi những đại gia như Barclays hay Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc đều đã có mặt tại quốc gia này. Với kim ngạch chiếm khoảng 7% giá trị xuất khẩu, ngành công nghiệp ôtô Nam Phi đang thu hút sự quan tâm của General Motors, Toyota và Volkswagen.

Theo Vnexpress

Coca-Cola và Pepsi bắt đầu vào cuộc đua mới

Ngày 25/2, Tập đoàn nước giải khát Coca-Cola đã tiết lộ kế hoạch mua lại Coca-Cola Enterprises - công ty chuyên đóng chai lớn nhất cho tập đoàn này tại thị trường Bắc Mỹ với thỏa thuận tổng giá trị có thể đến 13 tỷ USD, nhằm sản xuất các loại đồ uống mới phù hợp với thị trường.

Động thái này xuất hiện chỉ vài ngày trước khi đối thủ chính của họ, tập đoàn Pepsi, dự kiến sẽ hoàn tất một thỏa thuận tương tự nhằm hợp nhất hoàn toàn hệ thống phân phối.

Hiện Coca-Cola đang nắm giữ 34% cổ phần trong Coca-Cola Enterprises (CCE), trị giá 3,4 tỷ USD. Trong thương vụ hoán đổi tài sản này, hãng đồng thời sẽ phải gánh luôn khoản nợ 8,88 tỷ USD của CCE.

Cùng với đó, Coca-Cola sẽ bán lại các dây chuyền đóng chai tại Na Uy và Thụy Điển cho CCE với giá 822 triệu USD. CCE cũng có quyền mua lại 83% cổ phần dây chuyền đóng chai của Coca-Cola tại Đức. Nếu kế hoạch này thành công, Coca-Cola sẽ kiểm soát hơn 90% tổng khối lượng sản phẩm tại thị trường Bắc Mỹ.

Hồi tháng 8 năm 2009, Pepsi cũng đã thông báo thỏa thuận trị giá 7,8 tỷ USD mua lại hai công ty đóng chai lớn nhất của họ tại khu vực này.

Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Coca-Cola, ông Muhtar Kent nói: "Cấu trúc hệ thống mới của tập đoàn tại Bắc Mỹ sẽ tạo ra hệ thống kết hợp kinh doanh tuyệt vời, đem lại lợi nhuận khổng lồ trong hoạt động kinh doanh đồ uống không cồn."

Trong khi đó, Chủ tịch CCE John Brock khẳng định thỏa thuận sáp nhập sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh cho hãng, duy trì phát triển ổn định tại thị trường châu Âu và đem lại lợi ích cho hoạt động kinh doanh của CCE và các cổ đông.

Tại thị trường Mỹ, giới tiêu dùng đang có xu hướng chuộng các sản phẩm như nước hoa quả và trà. Bởi vậy Coca-Cola và Pepsi đều muốn giành quyền kiểm soát thị trường phân phối sản phẩm để sản xuất loại đồ uống của mình và ấn định giá mà họ muốn.

(Theo TTXVN)

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2010

Thời nguy khốn của các “đại gia” Nhật Bản

Dòng xe Camry của Toyota - Ảnh: Reuters.

Các doanh nghiệp từng là niềm tự hào của Nhật Bản đang đối mặt với nguy cơ nghiêm trọng nhất từ trước đến nay
Các doanh nghiệp từng là niềm tự hào của Nhật Bản đang đối mặt với nguy cơ nghiêm trọng nhất từ trước đến nay khi Hãng hàng không quốc gia Japan Airlines vừa nộp đơn xin bảo hộ phá sản, trong khi hãng sản xuất ôtô hàng đầu Toyota thì đang trải qua cú sốc phải thu hồi hàng triệu xe lớn nhất trong lịch sử.

Mặc dù kinh tế Nhật trên đà phục hồi khả quan, tăng trưởng liên tiếp trong 3 quý gần đây, song các doanh nghiệp Nhật Bản hiện gặp phải tình thế khó khăn nhất từ trước đến nay. Ngoài Japan Airlines và Toyota, các “đại gia” khác như hãng Sony, Honda, tập đoàn bán lẻ Sebu... cũng đang thất bại và tụt hậu.

Các đại gia thua lỗ và phá sản

Kinh tế Nhật bước vào năm 2010 với một loạt tín hiệu xấu. Đáng chú ý là việc Hãng hàng không Japan Airlines, biểu tượng cho thành công kinh tế và sự phồn thịnh của Nhật đã phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản cuối tháng 1 vừa qua, mặc dù trước đó đã nhận được gói hỗ trợ lên tới 200 tỷ Yên từ Chính phủ.

Nhưng, giới phân tích cho rằng, thất bại lớn nhất là việc Toyota phải thu hồi hàng triệu xe ở nước ngoài. Thoạt đầu, việc thu hồi chỉ được tiến hành trên 8 mẫu xe của hãng, nhưng giờ thì toàn bộ các mẫu xe đã phải chịu chung số phận và việc thu hồi không chỉ diễn ra ở Mỹ mà đã lan sang cả châu Âu và Trung Quốc. Còn tồi tệ hơn là người ta lo ngại rằng không chỉ lỗi ở phần kẹt chân ga mà còn cả ở trong chính động cơ của xe.

Tiếp theo Toyota và Japan Airlines, đến lượt hãng Honda đang đứng trước nguy cơ thu hồi xe trên phạm vi toàn cầu do lỗi kỹ thuật. Các tập đoàn điện tử bao gồm cả Sony cũng đang lâm vào tình trạng khó khăn do các doanh nghiệp điện tử của Hàn Quốc và Trung Quốc ngày càng chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Hãng điện tử lớn nhất Nhật Bản là Sony hiện đã để mất vị trí số 1 vào tay công ty Samsung và LG của Hàn Quốc. Một “đại gia” khác của Nhật Bản trong lĩnh vực dịch vụ là chuỗi cửa hàng bách hóa Seibu cũng vừa phải tuyên bố đóng cửa sau những thua lỗ trong kinh doanh.

Thất bại bởi một loạt sai lầm

Đặc biệt, hãng sản xuất xe hơi Toyota với chất lượng sản phẩm ưu việt của mình đã vươn lên vị trí số 1 trên thế giới, tạo nên một làn sóng “học tập kinh nghiệm Toyota”. Nhiều chuyên gia cho rằng, với 25% đóng góp cho GDP quốc gia, sự sụp đổ của các tập đoàn công nghiệp chế tạo dẫn đến nguy cơ khủng hoảng cho nền kinh tế Nhật Bản, trong bối cảnh nước này đang gượng dậy sau bão tài chính.

Phân tích trên diễn đàn của Đài KBS về thất bại của các tập đoàn công nghiệp Nhật Bản, Tiến sĩ Jeong Ho-seong thuộc Viện Nghiên cứu kinh tế Samsung của Hàn Quốc cho rằng: Sự sụp đổ đó có nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến sự thất bại của hệ thống sản xuất. Khủng hoảng toàn cầu và suy thoái đã buộc các tập đoàn lớn như Toyota phải cắt giảm nhân viên chính thức và sử dụng những lao động bán thời gian chưa có nhiều kinh nghiệm. Tiếp nữa, những nhân viên thuộc thế hệ thời kỳ bùng nổ sinh đẻ, những người chuyên cần và lành nghề đã bắt đầu nghỉ hưu từ năm 2007.

Tóm lại, Toyota và một số tập đoàn của Nhật đã bị “chảy máu nhân tài”, đặc biệt là nhân lực gắn bó lâu nhất với hệ thống sản xuất vốn làm nên thành công cho hãng. Riêng hãng Toyota còn thất bại còn bởi hãng này đã không đánh giá chính xác được xu hướng thị trường các nước đang phát triển. Ngoài ra còn do sự thất bại của chiến lược kinh doanh không thích ứng được những thay đổi bên ngoài.

Tiến sĩ Jeong Ho-seong giải thích rằng, sự thất bại của các nhà sản xuất Nhật Bản còn bắt nguồn chính từ sự “toàn cầu hóa” không hợp lý.

Trong trường hợp Toyota, với mong muốn vươn lên vị trí số 1 thế giới, hãng đã mở rộng sản xuất một cách không kiểm soát và trong quá trình này, một loạt nhân viên vốn am hiểu về hệ thống sản xuất của hãng đã trở thành đối tượng của việc cơ cấu lại và tinh giản biên chế và phải ra đi. Tiếp nữa, chính sách tiết kiệm chi phí khắc nghiệt của Toyota đã làm giảm chất lượng sản phẩm, gián tiếp dẫn tới sự cố phải thu hồi hàng triệu xe vừa qua.


Theo Vneconomy

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2010

7 sự kiện kinh tế thế giới nổi bật tuần qua

Trong khi bánh xe kinh tế tại một số quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam, tạm ngừng để nhường chỗ cho kỳ nghỉ Tết Nguyên đán thì đời sống tài chính thế giới tiếp tục diễn biến sôi động

Ảnh: Bloomberg
Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) nâng lãi suất chiết khấu từ 0,5% lên mức 0,75% vào ngày 18/2. Lãnh đạo FED cho rằng quyết định này này có thể kích thích các ngân hàng thương mại trở nên năng động hơn trên thị trường tiền tệ thay vì dựa vào ngân hàng trung ương khi có nhu cầu vốn ngắn hạn. Đồng đôla Mỹ lập tức tăng giá sau quyết định này. Ảnh: Bloomberg.
Ảnh:
Trong này 18/2, IMF tuyên bố bán ra 191,3 tấn vàng (trị giá khoảng 6,9 tỷ USD) trên thị trường mở trước sự lo ngại của thị trường tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, Hội đồng vàng thế giới (WGC) nhanh chóng chấn an dư luận khi cho rằng thị trường sẽ không bị ảnh hưởng do khách hàng chủ yếu của IMF là các ngân hàng trung ương. Ảnh: Tehrantimes.
Ảnh: Life.com
Ngày 19/2, Chính phủ Mỹ cho biết chỉ số giá tiêu dùng tại nước này trong tháng 1/2010 chỉ tăng 0,2%, thấp hơn so với mức 0,3% được dự đoán trước đó. Nếu không tính tới hai nhóm mặt hàng là năng lượng và thực phẩm, CPI của nền kinh tế lớn nhất thế giới thậm chí còn giảm 0,1% (lần giảm đầu tiên kể từ tháng 12/1982). Ảnh: Life.com
Ảnh: Reuters
Chứng khoán Mỹ có tuần tăng điểm mạnh nhất trong 3 tháng qua. Chỉ số S&P 500 tăng 0,2% lên mức 1.109,17 điểm. Chỉ số công nghiệp Dow Jones cũng tăng 9,45 điểm (0,1%) lên 10.402,35 điểm và đưa mức giảm của chỉ số này kể từ đầu năm 2010 xuống còn 0,3%. Ảnh: Reuters
Ảnh: CBW
Nhật trở trở thành nước nắm giữ nhiều nhất trái phiếu của Chính phủ Mỹ. Theo báo cáo của Bộ Tài chính Mỹ trong tuần qua, lượng trái phiếu mà Nhật nắm giữ của nước này (tính đến hết tháng 12/2009) đạt 768,8 tỷ USD, tăng 11,5 tỷ USD so với tháng 11. Như vậy, lần đầu tiên kể từ tháng 9/2008, Nhật mới giành được vị trí này từ tay Trung Quốc ( hiện nắm 755,4 tỷ USD trái phiếu của Mỹ). Ảnh: CBW
Thủ tướng George Papandreou cho biết:
Thủ tướng George Papandreou cho biết: "Hy Lạp không chờ đợi bất cứ khoản cứu trợ nào từ EU". Ông cũng cho biết sự ủng hộ về mặt chính trị từ các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu là điều duy nhất mà nước này cần vào thời điểm hiên nay. Sự ủng hộ này có thể giúp Hy Lạp được phép thực hiện các khoản vay với lãi suất tương đương các quốc gia khác nhằm giải quyết vấn đề thâm hụt ngân sách trong nước. Ảnh: BS
Lạm phát tại Anh tăng 3,5% trong tháng 1/2010, mức cao nhất trong vòng 14 tháng qua, sau khi Chính phủ nước này quyết định tái áp dụng mức thuế giá trị gia tăng (VAT) 17,5%. Chỉ số giá bán lẻ (bao gồm cả bất động sản) tại thị trường này cũng tăng 3,7%.
Lạm phát tại Anh tăng 3,5% trong tháng 1/2010, mức cao nhất trong vòng 14 tháng qua, sau khi Chính phủ nước này quyết định tái áp dụng mức thuế giá trị gia tăng (VAT) 17,5%. Chỉ số giá bán lẻ (bao gồm cả bất động sản) tại thị trường này cũng tăng 3,7%. Ảnh: Telegraph.


Theo Vnexpress

Mỹ sẽ thâm hụt ngân sách khoảng 1.556 tỷ USD trong năm nay

Bộ Tài chính Mỹ vừa thông báo, trong tháng 1/2010, ngân sách liên bang thâm hụt 42,63 tỷ USD, thấp hơn mức dự đoán 46 tỷ USD của số đông các nhà kinh tế và cũng thấp hơn mức 91,41 tỷ USD hồi tháng 12 năm ngoái.
Tháng 1, với mức thâm hụt gần 43 tỷ USD, cũng là tháng thứ 16 liên tiếp ngân sách của Mỹ bị thâm hụt. Theo Bộ Tài chính Mỹ, nguyên nhân bởi ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế đã làm giảm lượng thu từ thuế và tăng chi cho các chương trình xã hội như bảo hiểm thất nghiệp và tem lương thực, thực phẩm cho người trong hoàn cảnh khó khăn.
Trước đó, Nhà Trắng cũng đưa ra dự báo, trong tài khóa 2010, thâm hụt ngân sách liên bang sẽ vào khoảng 1.556 tỷ USD.


Theo DDDN

FED nâng mức lãi suất chiết khấu lên 0,75%

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định nâng lãi suất chiết khấu áp dụng đối với các khoản vay khẩn cấp trong hệ thống ngân hàng từ 0,5% lên 0,75%. Mức lãi suất này có hiệu lực từ 19/02.
FED quyết định nâng mức lãi suất chiết khấu khi cho rằng những điều kiện trên thị trường tài chính đã được cải thiện.Theo FED “Việc nâng lãi suất này sẽ không dẫn tới các điều kiện tài chính nghiêm ngặt hơn đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp cũng như không phải là dấu hiệu cho sự thay đổi triển vọng kinh tế hay chính sách tiền tệ".
Trong một thông báo kèm theo, FED nhận định: “Giống như việc kết thúc của một số chương trình tín dụng bất thường hồi đầu tháng này, những thay đổi như trên cũng nhằm mục đích bình thường hóa hơn nữa các điều kiện cho vay của FED".



Theo DDDN


Sửa đổi luật lệ trong hệ thống tài chính cần có sự kết hợp trên phạm vi toàn cầu

Một nhà hoạch định chính sách hàng đầu của FED cho biết, một sự sửa đổi trong hệ thống tài chính cần được thực hiện trên phạm vi toàn cầu nhằm ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong gần 70 năm.
Tại hội nghị kỷ niệm thứ 50 của ngân hàng dự trữ Úc ông William Dudley- Chủ tịch của ngân hàng cho hay “Mặc dù cuộc khủng hoảng tồi tệ gần như đã đi qua, công việc của chúng ta vẫn chưa kết thúc. Điều vô cùng quan trọng là đảm bảo công việc này vẫn cứ tiếp diễn và sẽ được kết hợp trên phạm vi quốc tế. Sự khác nhau trong quan điểm từ các quốc gia và các vùng sẽ không làm trệch hướng cộng đồng quốc tế khỏi mong ước quan trọng hơn là hành động kết hợp sẽ đảm bảo cho một hệ thống tài chính tráng kiện và khả năng hồi phục cao".

Theo ông, các nhà điều luật cần xem xét toàn bộ hệ thống và các tiêu chuẩn phải hài hòa giữa các vùng khác nhau. Ông cho biết “Không có sự hài hòa, sẽ chắc chắn có một cuộc đua tới đáy và sự lợi dụng kẽ hở pháp luật sẽ được khuyến khích hơn là ngăn chặn".

Sự lợi dụng kẽ hở pháp luật ám chỉ một hoàn cảnh trong đó các công ty có thể tìm kiếm các địa điểm cho các hoạt động hay các trụ sở của họ dựa trên các tiêu chuẩn luật lệ ít bị hạn chế nhất. Các tiêu chuẩn vốn toàn cầu nên chú trọng hơn vào các tài sản thông thường và thiết lập một giới hạn lực đẩy tổng thể.

Vấn đề trung tâm của cuộc cải tổ luật này là nghi vấn về những gì sẽ được thực hiện cho các công ty lớn đến nỗi sự sụp đổ “lộn xộn” của họ có thể khiến nền kinh tế toàn cầu trở nên bất ổn, giống như sự sụp đổ của Lehman Brothers trong tháng 9/2008. Theo ông Dudley rất quan trọng để đảm bảo rằng không công ty nào “quá lớn để thất bại” và nhấn mạnh tầm quan trọng của một cơ chế giải quyết cho phép một định chế đang lâm nạn được giải tỏa theo một cách có trật tự. Điều này sẽ không chỉ cần đến luật lệ trong nước mà còn cần có sự hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề luật pháp liên quan tới việc giải tỏa một công ty toàn cầu chính yếu.

Trong bài diễn văn về tình trạng của hệ thống tài chính Mỹ, ông Dudley cho hay “nó đã trong một tình trạng tốt hơn nhiều” so với cách đây một năm. Các thị trường vốn Mỹ ngoại trừ một số thị trường chứng khoán phần lớn đã hoạt động bình thường. Tuy nhiên, các ngân hàng Mỹ nhỏ hơn có thể vẫn chịu áp lực bởi các mức thua lỗ từ các khoản cho vay trong thời gian sắp tới. “Nói cách khác, điều này có nghĩa là sự sẵn có của tín dụng đối với các hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ sẽ vẫn bị hạn chế”- ông Dudley cho biết.



Theo DDDN

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2010

Nhật truất ngôi Trung Quốc về trái phiếu của Mỹ

picture

Tính đến tháng 12/2009, tổng giá trị trái phiếu Mỹ mà Nhật Bản nắm giữ đã lên tới 768,8 tỷ USD.

Tính đến cuối năm 2009, Nhật Bản đã thay thế Trung Quốc trở thành nước nắm giữ nhiều nhất trái phiếu của Mỹ

Tính đến cuối năm 2009, Nhật Bản đã thay thế Trung Quốc trở thành nước nắm giữ nhiều nhất trái phiếu của Mỹ.

Đây là lần đầu tiên Nhật Bản giành lại vị trí số một sau khi để rơi vào tay Trung Quốc tháng 9/2008.

Báo cáo của Bộ Tài chính Mỹ cho biết tính đến tháng 12/2009, tổng giá trị trái phiếu Mỹ mà Nhật Bản nắm giữ đã lên tới 768,8 tỷ USD, tăng 11,5 tỷ USD so với tháng trước, trong khi lượng trái phiếu Mỹ do Trung Quốc nắm giữ trị giá 755,4 tỷ USD, giảm 34,2 tỷ USD.

Theo các nhà phân tích, có thể Trung Quốc giảm bớt việc nắm giữ các khoản nợ của Mỹ nhằm phản ứng lại những nỗ lực của Washington điều chỉnh cán cân thương mại với Trung Quốc thông qua việc đánh thuế chống bán phá giá trong một số lĩnh vực thương mại nhất định.

Nếu Trung Quốc tiếp tục giảm lượng trái phiếu Mỹ mà nước này nắm giữ, điều đó có thể ảnh hưởng tới chính sách của Washington tăng phát hành trái phiếu để hỗ trợ nguồn tài chính cho các biện pháp kích thích.

(TTXVN)

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2010

Trung Quốc khởi kiện EU ra WTO về thuế chống bán phá giá giày mũ da

Ngày 4/2/2010, Trung Quốc đã chính thức yêu cầu EU tham vấn theo thủ tục về giải quyết tranh chấp của WTO đối với việc EU áp thuế chống bán phá giá giày mũ da nhập khẩu của Trung Quốc, bao gồm cả thuế chống bán phá giá mở rộng đối với Macao.

Năm 2005, EU đã khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với giày mũ da có xuất xứ từ Trung Quốc và chính thức áp dụng thuế chống bán phá giá trong 2 năm kể từ tháng 10/2006 đến hết tháng 10/2008. Hết thời hạn, EU đã tiếp tục tiến hành rà soát cuối kỳ đối với loại sản phẩm này và ngày 22/12/2009, EU ra tuyên bố chính thức kéo dài thời hạn áp thuế chống bán phá giá thêm 15 tháng kể từ 1/1/2010 đối với giày mũ da xuất xứ từ Trung Quốc. Trong vụ việc này, Việt Nam cũng là nước bị đơn và bị gia hạn áp thuế chống bán phá giá thêm 15 tháng như trên.

Ngày 23/12/2009, một ngày sau khi EU ra quyết định, Trung Quốc đã tuyên bố sẽ khởi kiện EU ra WTO và ngày 04/02/2010 vừa qua vụ việc đã chính thức đưa lên WTO. Trung Quốc cho biết Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần thương lượng với EU liên quan đến mối quan hệ và lợi ích song phương và đa phương thông qua cơ chế đối thoại nhưng vẫn không thể giải quyết thỏa đáng và Quyết định gia hạn áp thuế nói trên này ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích của các nhà xuất khẩu Trung Quốc.

Tham vấn là giai đoạn đầu tiên của thủ tục giải quyết tranh chấp WTO diễn ra trong 60 ngày kể từ khi Trung Quốc gửi yêu cầu tham vấn với EU (tức đến hết ngày 5/4/2010). Trong trường hợp Trung Quốc và EU không đạt được thỏa thuận nào trong thời hạn nói trên, gần như chắc chắn Trung Quốc sẽ yêu cầu thành lập Ban hội thẩm (Panel), chính thức khởi động quá trình tranh tụng pháp lý tại WTO về vấn đề này.

(Theo Công Thương)

Nước nào sẽ thống trị thế giới trong thập kỷ tiếp theo?

Thập niên kế tiếp hẳn thế giới không chỉ tiếp tục bị kéo về mà còn bị chi phối bởi hấp lực từ bên "Mặt trời mọc".

"(Một) thập niên mà thế giới nghiêng về phía đông" - đó là tựa bài bình luận ngắn tổng kết thập niên đầu tiên thế kỷ XXI của sử gia Niall Ferguson (Đại học Havard) trên Financial Times (27-12-2009), và nếu quy chiếu theo trục quan điểm trên hẳn người ta có thể chẳng hồ nghi gì rằng thập niên kế tiếp hẳn thế giới không chỉ tiếp tục bị kéo về mà còn bị chi phối bởi hấp lực từ bên "Mặt trời mọc".

Lý thuyết Decouple (cho rằng các nước thuộc nền kinh tế mới nổi đủ sức phát triển không cần thị trường Mỹ được đưa ra trước thời điểm khủng hảng kinh tế) đã trở nên phá sản khi suy thoái Mỹ dẫn đến suy thoái toàn cầu

Điều đó cũng có nghĩa sức mạnh phương Tây (sẽ) được sang tay cho châu Á. Ý kiến này thật ra chẳng mới mẻ. Trước thềm thế kỷ XXI, từng có vô số bài nhận định tương tự, nhưng 10 năm trôi qua, thực tế vẫn cho thấy sự mơ hồ của lập luận trên. Thế còn 10 năm kế tiếp?

Diều hâu gãy cánh?

Cuộc suy thoái toàn cầu đã làm bộc lộ ưu - nhược điểm của từng quốc gia và khu vực. Trong khi Trung Quốc thành công với chính sách kích cầu, Mỹ vẫn lội ngược dòng với sức cùng lực kiệt. Trên tờ Newsweek (ra ngày 7-12-2009), sử gia Niall Ferguson cho biết, con số lạc quan tăng trưởng của quý III năm 2009 tại Mỹ không thể có được nếu không nhờ chính sách kích cầu bằng tiền túi nhà nước. Thâm thủng năm tài khóa 2009 của Mỹ đã vọt hơn 1,4 ngàn tỉ USD, tức khoảng 11,2% GDP - theo phòng ngân sách quốc gia lớn nhất trong 60 năm.

Trong khi đó, tổng nợ quốc gia Mỹ dự báo có thể tăng từ 5,8 ngàn tỉ USD năm 2008 lên 14,3 ngàn tỉ USD năm 2019, chiếm từ 41% đến 68% GPD. Túi tiền rỗng luôn dẫn đến nhiều ảnh hưởng bất lợi. Theo CBO, ngân sách cho an ninh quốc gia Mỹ đã bắt đầu giảm. Theo kế hoạch hiện đại của Lầu Năm Góc, chi phí cho quốc phòng có thể điều chỉnh giảm từ 4% hiện tại còn 3,2% GDP vào năm 2015, rồi 2,6% GDP năm 2028. Trái hẳn với không khí ảm đạm tại Mỹ, Trung Quốc tiếp tục làm tốn bút mực giới bình luận về khả năng vượt bão khủng hoảng.

Ngày 25-12-2009, cục Thống kê quốc gia Trung Quốc cho biết, sau khi tính lại, GDP Trung Quốc, năm 2008 thật ra đạt đến 31,405 ngàn tỉ tệ (khoảng 4,6 ngàn tỉ USD), tức cao hơn 4,5% so với con số công bố trước đó, có nghĩa tăng trưởng GDP 2008 là 9,6% chứ không phải 9%.

Điều đó còn có nghĩa Trung Quốc sắp qua mặt Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu (tháng 10-2009, Quỹ Tiền tệ quốc tế dự báo GDP Nhật năm 2009 có thể đạt 5,408 ngàn tỉ USD, cao hơn Trung Quốc 6%, và Nhật có thể buộc phải nhường vị trí thứ hai cho Trung Quốc vào năm 2010).

Cứ theo các con số cụ thể trên, không ít người không phải không có lý khi nghĩ rằng, thập niên kế tiếp hẳn sẽ thuộc về Trung Quốc trong khi Mỹ đang ở thời kỳ suy tàn dẫn đến suy vong trong tương lai gần. Tuy nhiên, việc xét đến khả năng liệu có phải thật sự diều hâu Mỹ đang gãy cánh và rồng Trung Quốc đang thăng thiên cần phải quan sát kỹ hơn. "Dự báo" về sự sụp đổ của "đế quốc" Mỹ trong thực tế chẳng phải xảy ra gần đây.

Cuối thập niên 50 thế kỷ trước, báo chí Mỹ từng phác họa viễn cảnh đen tối của Mỹ trước sự lớn mạnh của Liên Xô. Rồi từ cuối thập niên 90 đến nay, những "sấm truyền" tương tự vẫn liên tục xuất hiện với tần suất dày đặc trên mặt báo và truyền thông Mỹ. Cuối năm 2009, hai tác giả Brad Delong và Stephen Cohen còn tung ra quyển "The End of Influence" (Dấu chấm hết của ảnh hưởng) - nói về sự kết thúc của ảnh hưởng Mỹ với thế giới.

Vấn đề ở chỗ hầu hết ý kiến trên đều dựa vào ảnh hưởng của cuộc suy thoái hiện tại hoặc biện dẫn từ những sai lầm trong chính sách diều hâu thời Geogre W. Bush (phải thừa nhận rằng sự suy yếu nhiều mặt của Mỹ hiện nay, từ kinh tế đến ngoại giao, trong đó có việc bỏ lỏng "địa bàn" Đông Nam Á vô hình trung giúp Trung Quốc "thừa nước đục thả câu" bằng quan điểm "đường lưỡi bò" nhằm mục đích nuốt chửng biển Đông, là hậu quả trực tiếp của chính sách Bush!).

Những lát cắt chi tiết hơn của vấn đề

Trong thực tế, dù bị bầm dập bởi suy thoái, kinh tế Mỹ vẫn đứng đầu thế giới với trị giá 14,3 ngàn tỉ USD, gấp 3 so với nền kinh tế thứ hai thế giới là Nhật, và chỉ thấp hơn một chút so với nền kinh tế của 4 siêu cường là Nhật, Trung Quốc, Đức và Pháp. Mỹ hiện cũng đứng đầu thế giới xét về thu nhập bình quân đầu người - 47.000 USD, so với 44.000 USD của Pháp và Đức, 38.000 USD của Nhật, 11.000 USD của Nga, 2.900 USD của Trung Quốc và 1.000 USD của Ấn Độ.

Cần biết, nếu xét đến yếu tố dân số, Mỹ với hơn 300 triệu so với 1,4 tỉ Trung Quốc, khoảng cách giữa hai con số thu nhập giữa Mỹ và Trung Quốc thật ra còn cách xa đến nhiều lần. Với sự chênh lệch như vậy, bao giờ Trung Quốc mới bắt kịp Mỹ về thu nhập đầu người - một trong những tiêu chí để đánh giá sự giàu có của một quốc gia - còn là vấn đề ở thì tương lai bất định...

Sản lượng kinh tế (hàng hóa - dịch vụ...) của Mỹ cũng gần như luôn ở tỉ lệ ổn định trong nhiều năm. Không chỉ có "độ vênh" ở khoảng cách kinh tế, Mỹ còn bỏ xa nhiều nước xét về sức mạnh quân sự.

Năm 2008, Mỹ chi 607 tỉ USD cho quốc phòng, chiếm gần 1/2 tổng ngân sách quốc phòng thế giới. Không như nhiều ý kiến từng nhận định, rằng hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan sẽ làm phá sản Mỹ, ngân sách cho hai cuộc chiến trên hiện khoảng 125 tỉ USD/năm, tức không đến 1% GDP (thời chiến tranh Việt Nam, ngân sách quốc phòng Mỹ chiếm 1,6% GDP).

Trái với hình ảnh này (hàng ngàn người xếp hàng xin việc tại Hợp Phì thuộc tỉnh An Huy ngày 1/3/2009), Trung Quốc đối mặt với viễn cảnh thiếu hụt nguồn lao động trong tương lai do dân số già

Không thể xét đến sức mạnh của một quốc gia mà không bàn đến giáo dục - nền tảng của mọi nền tảng cho phát triển bền vững. Năm 2005, Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ tung ra báo cáo (mang tính cảnh báo) cho biết, Mỹ chẳng bao lâu nữa sẽ bị mất thế dẫn đầu về khoa học.

Báo cáo cho biết, năm 2004, có 600.000 kỹ sư tốt nghiệp ở Trung Quốc, 350.000 tại Ấn Độ, và Mỹ chỉ có 70.000, trong khi đào tạo tại Mỹ lại tốn kém (chi phí đào tạo một nhà hóa học hoặc kỹ sư Mỹ có thể dùng để thuê 5 nhà hóa học Trung Quốc hoặc 11 kỹ sư Ấn Độ).

Tuy nhiên, nói đến giáo dục, chất lượng mới là điều đáng bàn. Hơn nữa, cách "đếm" của Trung Quốc và Ấn Độ cũng là điều nên đề cập, khi mà những người tốt nghiệp trung cấp hai năm tại hai nước này cũng được gọi là "kỹ sư".

Năm 2005, Viện Toàn cầu McKinsey từng công bố khảo sát thị trường lao động và nhận thấy tỉ lệ thỏa mãn trình độ và kiến thức chuyên môn của sinh viên tốt nghiệp tại 28 nước đang phát triển là rất thấp (theo Viện McKinsey, giới quản trị nhân sự tại các công ty đa quốc gia đánh giá rằng chỉ 10% kỹ sư Trung Quốc và 25% kỹ sư Ấn Độ là "có thể được sử dụng" so với 81% kỹ sư Mỹ).

Cần biết, Mỹ đầu tư đến 2,6% GDP cho giáo dục nâng cao so với 1,2% tại châu Âu và 1,1% tại Nhật. Tại Ấn Độ, hệ thống đại học mỗi năm cho tốt nghiệp 35-50 tiến sĩ khoa học máy tính, trong khi đó, tại Mỹ là 1.000. Hệ thống thi cử nặng nề còn là một trong những nguyên nhân bóp chết giáo dục châu Á.

Gút lại, để có cái nhìn tổng quát (và so sánh) về giáo dục Mỹ với châu Á, có thể lấy ý kiến của Bộ trưởng Giáo dục Singapore Tharman Shanmugaratnam làm kết luận: "Cả hai nước Mỹ - Singapore đều theo chính sách trọng dụng chất xám. Của quý vị (Mỹ) là chính sách trọng dụng người tài và của chúng tôi là trọng dụng thi cử.

Chúng tôi biết cách đào tạo người để đi thi trong khi quý vị biết cách tận dụng và phát huy tối đa tài năng. Cả hai đều quan trọng nhưng ở vài góc độ khi xét đến vấn đề chất xám, chúng tôi (Singapore) lại không thể kiểm nghiệm tốt nhân tài (bằng Mỹ) - chẳng hạn tính sáng tạo, óc tò mò, lòng ham muốn khám phá, tham vọng. Trên hết tất cả, Mỹ là một nền văn hóa tiếp thu dám thách thức những ý tưởng truyền thống, thậm chí khi điều đó đồng nghĩa với việc thách thức nhà cầm quyền".

Đến lúc "cờ đến tay" Trung Quốc chưa?

Khó có thể nói một quốc gia là giàu nếu chỉ "điểm danh" vài anh tỉ phú. Giữa năm 2008, báo cáo của Ngân hàng Merrill Lynch cho biết Trung Quốc có nhiều triệu phú hơn cả Pháp. Tính đến cuối năm 2007, Trung Quốc có tổng cộng 414.900 người với tài sản hơn 1 triệu USD (chỉ sau Mỹ, Nhật, Đức và Anh). Tuy nhiên, thống kê của Chính phủ Trung Quốc cho thấy nông dân nước này chỉ kiếm được không bằng 1/3 so với dân thành thị, và nhà xã hội học nổi tiếng Tôn Lập Bình (Sun Liping) thuộc Đại học Thanh Hoa nói rằng, chuẩn sống giữa khu vực thành thị và nông thôn Trung Quốc khác nhau đến 6 lần...

Tính hiệu quả của kinh tế cũng là điều cần đề cập. Từ năm 1991 đến 1995, theo nhà nghiên cứu gốc Hoa Bùi Mẫn Hân (Minxin Pel, thuộc Viện Nghiên cứu Carnegie Endowment), 100 triệu tệ trong đầu tư vào các nguồn tài sản cố định của Trung Quốc mang lại lợi nhuận 66,2 triệu tệ cho GDP và tạo ra 400 việc làm mới, 10 năm sau, cũng theo ông Bùi Mẫn Hân, số tiền đầu tư tương tự chỉ mang lại 28,6 triệu tệ cho GDP và 170 việc làm.

Trên World Politics Review (ngày 25-12-2009), tác giả John Lee (Trung tâm Nghiên cứu độc lập tại Sydney, Australia) còn chỉ thêm rằng, chính sách kinh tế ưu ái hệ thống doanh nghiệp thuộc quản lý nhà nước là một trong những nguy cơ đe dọa kinh tế nước này trước mắt cũng như lâu dài. Năm 1978, số công ty nhà nước làm ăn không lãi là 19%, tăng lên 40% năm 1997, rồi 51% năm 2006.

Một mối lo lớn nữa đối với sinh mạng kinh tế Trung Quốc là khoảng cách giàu nghèo. Dù GDP quốc gia tăng phi mã nhưng khoảng 400 triệu người Trung Quốc đang chứng kiến tình trạng lương không tăng hoặc thậm chí giảm trong một thập niên qua (khảo sát của Ngân hàng Thế giới WB cho biết thu nhập 10% người nghèo nhất Trung Quốc giảm 2,4%/năm từ đầu thế kỷ XXI đến nay).

WB còn dự báo: đến năm 2015 sẽ có nhiều người Trung Quốc rời lực lượng lao động hơn so với tỉ lệ được thay thế và tình hình càng u ám vào năm 2030, khi 1/4 dân số Trung Quốc sẽ vượt quá 60 tuổi, so với 10% hiện nay. Dân số đông luôn dẫn đến nhiều mặt trái nan giải: tài nguyên bị khai thác ráo riết hơn, môi trường bị đối xử tệ hơn, nguồn nước ngọt (và sạch) khan hiếm hơn, ô nhiễm làm thiệt mạng gần 400.00 người Trung Quốc mỗi năm). Ngân sách nuôi 329 triệu người già vào năm 2050 của Trung Quốc chắc chắn chiếm tỉ lệ không nhỏ trong GDP...

Giả dụ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc duy trì ổn định với 7%/năm (gấp đôi so với Mỹ) thì GDP Trung Quốc sẽ gấp đôi từ năm 2007-2015, tức từ 3,3 ngàn tỉ USD lên 6,6 ngàn tỉ USD, rồi lại gấp đôi vào trước năm 2025, lên 13,2 ngàn tỉ USD. Tuy nhiên, đó cũng là thời điểm mà GDP Mỹ lên đến 28 ngàn tỉ USD (nếu kinh tế Mỹ tăng trung bình 3,5%/năm)! Đây mới là một thực tế, "thật" đến mức có thể "sờ mó" được, hơn là những dự báo chỉ dựa vào các con số "khủng" trong tỉ lệ tăng trưởng mà lại không xét đến nhiều yếu tố bất cập trong mô hình phát triển cũng như thực tế bất bình đẳng xã hội...

Nói cách khác, trong thế kỷ XXI nói chung và thập niên kế tiếp nói riêng, hẳn sẽ có người còn tiếp tục mơ về "bao giờ cho đến cái ngày huy hoàng ấy" khi họ nhảy lên vị trí số 1 thống trị thế giới. Muốn thay thế vị trí Mỹ, trước hết phải chặt đứt được toàn bộ hệ thống mắt xích liên kết toàn cầu chằng chịt của Mỹ (chứ không chỉ bằng động thái đầu tư quân sự và ấp ủ tham vọng lấn chiếm khu vực theo kiểu "học làm siêu cường"). Điều này, (có lẽ) ít ra trong thế kỷ này, rõ ràng là bất khả thi

(Theo An Ninh Thế Giới)

Kinh tế toàn cầu sẽ phục hồi trong năm nay

Các nhà kinh tế của Moody và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nói rằng thế giới đã thở phào nhẹ nhõm, cuộc suy thoái toàn cầu đã qua, châu Á và Mỹ Latinh sẽ dẫn đầu sự phục hồi kinh tế thế giới trong năm 2010 và Mỹ cũng sẽ bật dậy.

Cuộc suy thoái kinh tế đã qua

Ruth Stroppiana, nhà kinh tế quốc tế chủ chốt của Moody's Economy.com nói rằng, cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu thực sự đã qua, trong khi Dominique Strauss-Kahn, Giám đốc điều hành IMF cũng nhận định: "2010 là năm thiết yếu - năm đầu tiên sau cuộc khủng hoảng với việc nhiều nước đã có thể nhìn xa hơn về phía chân trời. Đây sẽ là năm chuyển đổi của thế giới."

Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra từ dầu năm 2008, các nhà kinh tế và hoạch định chính sách nhất trí cho rằng kinh tế toàn cầu đang phát triển trở lại.

Chẳng hạn, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc đã tăng 10,7% trong quý IV/2009 so với cùng kỳ năm 2008. GDP của Ấn Độ cũng tăng 7,9% trong quý III/20009. Châu Âu và Mỹ phục hồi chậm hơn, với GDP của Mỹ tăng 5,7% trong quý IV/2009, quý tăng thứ hai liên tiếp sau một năm giảm sút, mặc dù GDP cả năm 2009 của Mỹ vẫn giảm 2,4%. Tuy nhiên, tình hình trên không có nghĩa là nền kinh tế toàn cầu đã hoàn toàn thoát khỏi khủng hoảng.

Simon Johnson, nhà kinh tế thuộc Viện kỹ thuật Massachusetts ở Cambrige, nói kinh tế thế giới đang trong giai đoạn phục hồi. Các nước đang ổn định ở mức độ khác nhau và nền kinh tế thế giới vẫn còn mong manh.

Simon Johnson nhận định sự phục hồi kinh tế được đẩy mạnh bởi các thị trường đang nổi, do hệ thống tài chính của họ ít bị tổn thương hơn và họ không bị nợ quá mức.

Trên thực tế, nhiều thị trường đang nổi, như Trung Quốc, Ấn Độ, Australia, đã không bị lâm vào một cuộc suy thoái, mặc dù các nền kinh tế này cũng tăng trưởng chậm lại. Châu Á sẽ là khu vực đầu tiên trở lại các mức tăng trưởng trước đây, tiếp đến là Mỹ Latinh, rồi đến các nước phát triển lớn.

Những dự đoán

IMF dự đoán, trong năm 2010, kinh tế Trung Quốc có thể sẽ tăng trưởng 10%, Nhật Bản và châu Âu khoảng 1,5%, Mỹ khoảng 2,7%, và toàn cầu tăng khoảng 4%.

Trái ngược với các cuộc suy thoái trước đây, các nước phát triển, kể cả Mỹ, Anh và châu Âu, phục hồi tương đối chậm so với các nuớc đang phát triển.

Theo bà Ruth Stroppiana, sự tụt hậu này là do sự "yếu kém về cơ cấu, nợ cao, và tiết kiệm thấp". Đặc biệt, tại Mỹ và Anh, nạn thất nghiệp cao, cộng với nợ cao của các hộ gia đình và việc tiếp tục tịch thu nhà để thế nợ, đồng nghĩa với việc người tiêu dùng không ở trong tư thế thúc đẩy phục hồi.

Bà nhận định nạn thất nghiệp tiếp tục tăng ngay cả sau khi suy thoái đã chấm dứt, một phần là do các công ty vẫn ở trong tình trạng thu nhập thấp và họ buộc phải tiếp tục cắt giảm chi phí.

Nợ công cao đang ngăn cản sự phục hồi ở Hy Lạp và Đông Âu, trong khi đó, Mỹ - nền kinh tế lớn nhất thế giới và đóng vai trò quan trọng trong sự phục hồi toàn cầu, thì lại phục hồi chậm chậm chạp, và điều này có nghĩa là vai trò của Mỹ không còn lớn như ở các cuộc suy thoái trước đây.

Điều này cũng cho thấy một sự thay đổi lớn hơn. Việc chuyển nhu cầu sang các thị trường đang nổi là một tiến trình không tránh khỏi.

Mối đe dọa tức thời đến nền kinh tế toàn cầu là việc rút các biện pháp kích thích kinh tế được áp dụng nhằm ngăn chặn khủng hoảng.

Khi các chính phủ bắt đầu giải quyết các mức nợ và tăng lãi suất, một số nước sẽ có nguy cơ lâm vào một cuộc khủng hoảng khác. Về lâu dài, cộng đồng toàn cầu sẽ phải giải quyết các vấn đề gây ra khủng hoảng tài chính.

Ông Johnson nói: "Chúng ta sẽ tiếp tục phục hồi, nhưng chúng ta không xác định được vấn đề nổi bật. Vấn đề này bao gồm các sáng kiến bị bóp méo trong hệ thống tài chính của chúng ta, nơi các chính phủ Mỹ và phương Tây đảm bảo những nguy cơ khinh suất do các ngân hàng lớn tạo ra. Nếu nguy cơ này không xảy ra, các ngân hàng sẽ được lợi về tài chính; nhưng nếu nó xảy ra, những người đóng thuế sẽ phải trả giá."

Giá hàng tiêu dùng tăng lên kể từ năm 2009 cũng là một vấn đề phải theo dõi. Theo bà Stroppiana, giá hàng tiêu dùng tăng là do sự gia tăng nhập khẩu và nhu cầu ở các thị trường đang nổi, đặc biệt là ở Trung Quốc.

Bà Stroppiana cũng nhận định nếu giá hàng tiêu dùng tiếp tục tăng, nó sẽ xói mòn sức mua của các hộ gia đình và gây ra lạm phát, một nguy cơ đe dọa sự phục hồi kinh tế.

(Theo TTXVN)

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2010

Sức ép lạm phát tăng ở các nước Đông Nam Á

Thông tin trên báo điện tử Intellasia cảnh báo tình trạng sức ép lạm phát đang tăng lên ở khắp các nước Đông Nam Á do giá hàng hóa và lương thực tăng và kinh tế khu vực đang phục hồi.

(Nguồn: Thế Lập/TTXVN)

Bài báo này nêu rõ lạm phát tăng lên đang gây sức ép buộc các ngân hàng trung ương từ bỏ các chính sách tiền tệ dễ dàng.

Ngân hàng Trung ương Philippines ngày 28/1 đã tăng tỷ lệ lãi suất và các nhà kinh tế cho rằng các nước khác cũng sẽ phải thực hiện những biện pháp tương tự. Thời gian phụ thuộc chủ yếu vào giá cả tăng bao nhiêu và tăng nhanh như thế nào.

Intellasia dẫn các số liệu thống kê của Philippines, cho thấy tỷ lệ lạm phát hàng năm của nước này trong tháng đầu năm nay đã giảm xuống còn 4,3% từ 4,4% tháng 12 năm ngoái và đây là lần đầu tiên tỷ lệ này giảm trong vòng 5 tháng nay. Điều này, theo các nhà phân tích, sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng Trung ương Philippines duy trì tỷ lệ lãi suất.

Thống đốc ngân hàng trung ương Philippines Amando Tetangco cho rằng lạm phát xem ra có thể kiểm soát được. Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương Philippines đã tăng dự đoán về tỷ lệ lạm phát trung bình của nước này trong năm nay từ 4% lên 4,7%.

Còn ở Indonesia, lạm phát trong tháng 1 đã tăng lên mức cao nhất trong 8 tháng nay, vượt cả những dự đoán của chính phủ và thị trường, khiến ngân hàng trung ương thấy cần phải tăng lãi suất trong quý II từ mức thấp kỷ lục. Chỉ số giá tiêu dùng đã tăng mạnh do giá lương thực cao hơn, đồng thời giá gạo và nhiên liệu có khả năng sẽ tăng trong những tháng tới. Ngân hàng Trung ương Indonesia đã tỏ dấu hiệu cho thấy họ không vội vã tăng lãi suất, nhưng không lập lại cam kết trước đây là sẽ giữ tỷ lệ lãi suất trong cả năm nay.

Sức ép lạm phát ở Thái Lan trong tháng 1 mạnh hơn so với dự tính của nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á này, với giá hàng tiêu dùng tăng 4,1% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng cao nhất kể từ tháng 9/2008. Tỷ lệ lạm phát của Thái Lan, kể cả năng lượng và thực phẩm, tăng 0,6%, là mức tăng lớn nhất kể từ tháng 4 năm ngoái và cao hơn dự đoán.

Chỉ số giá hàng tiêu dùng của Malaysia đã tăng lần đầu tiên trong tháng 12/2009 sau 6 tháng giảm phát, tăng 1,1% so với một năm trước đây. Các nhà kinh tế cho rằng chỉ số này tiếp tục là dương, song dịu bớt trong thời gian còn lại của năm.

Chỉ số giá tiêu dùng của Singapore kết thúc 8 tháng liên tục giảm trong tháng cuối cùng của năm 2009. Tuy nhiên, sức ép lạm phát đã dịu đi. CPI hàng tháng đã được điều chỉnh theo mùa giảm 0,3% so với tháng 11 và chỉ số này sẽ ngang bằng trong suốt năm nay. Các nhân tố khác đang tác động đến chỉ số giá cả như Công ty điện Singapore, nhà cung cấp điện chủ yếu cho quốc gia này, đã tăng thuế trong quý I năm nay lên trung bình 5,5% do giá dầu lên cao.

Về Việt Nam, trang tin này nói rằng, với nền kinh tế đang tăng lên, tỷ lệ lạm phátcủa Việt Nam đã vượt quá mục tiêu 7% do chính phủ đề ra, tăng tháng thứ 5 liên tiếp trong tháng 1/2010 do giá hàng tiêu dùng tăng 7,62% so với cùng thời gian này năm ngoái. Tuy nhiên sau khi tăng lãi suất tháng 12 năm ngoái lên 8%, Ngân hàng nhà nước Việt Nam tuyên bố sẽ giữ lãi suất như vậy trong tháng 2.
Nguồn: Theo TTXVN/Vietnam+

Cựu CEO ngân hàng lớn nhất nước Mỹ có nguy cơ ra hầu tòa

picture

Năm nay 62 tuổi, Lewis từ chức CEO của BofA vào cuối năm ngoái sau khi chịu sự chỉ trích mạnh mẽ về việc BofA mua lại Merrill.

Kenneth Lewis bị buộc tội gian lận trong thời gian xảy ra khủng hoảng tài chính


Cựu giám đốc điều hành (CEO) Kenneth Lewis của ngân hàng Bank of America (BofA) vừa trở thành lãnh đạo ngân hàng cao cấp nhất ở Mỹ bị buộc tội có những hành vi sai trái trong thời gian xảy ra khủng hoảng tài chính.

Ngày 4/2, Tổng chưởng lý New York Andrew Cuomo đã phát đơn kiện, cáo buộc Lewis và cựu giám đốc tài chính Joe Price cũng của BofA đã gian lận dân sự khi còn đương chức. Lewis đã thôi chức CEO của BofA vào tháng 12/2009, sau khi ngân hàng này tiếp nhận hàng chục tỷ USD tiền cứu trợ từ Chính phủ Mỹ.

Cùng với Lewis, hàng loạt CEO khác trong ngành tài chính Mỹ đã “về vườn” giữa lúc ngành này thua lỗ 1.700 tỷ USD vì khủng hoảng. Trong số này có cựu CEO Charles Prince của Citigroup, cựu CEO Stanley O’Neal của Merrill Lynch, cựu CEO Richard Fuld của Lehman Brothers, và cựu CEO Kennedy Thompson của Wachovia. Tuy nhiên, trong số các cựu giám đốc này, không ai bị cáo buộc có hành vi sai trái như Lewis.

Theo đơn kiện của Tổng chưởng lý, Lewis và Price đã lừa dối các nhà đầu tư và người dân đóng thuế của nước Mỹ bằng cách bưng bít thông tin thua lỗ tại ngân hàng Merrill Lynch. Việc ém nhẹm thông tin này xảy ra trước khi cổ đông bỏ phiếu thông qua việc BofA mua lại Merrill Lynch.

Sau đó, theo cáo buộc, dưới sự lãnh đạo của Lewis, BofA đã sử dụng tình trạng thua lỗ này để xin các nhà chức trách Mỹ rót vốn cứu trợ. Con số thua lỗ của Merrill trong quý 4/2008 là trên 15 tỷ USD.

Ngoài ra, đơn kiện còn cho rằng Lewis không công bố thông tin về việc bộ phận môi giới của Merrill chi thưởng tới 3,57 tỷ USD ngay trong năm tồi tệ nhất trong lịch sử của ngân hàng này.

Trước Lewis, vào tháng 6/2009, một cựu CEO khác của ngành tài chính Mỹ là Angelo Mozilo của tập đoàn cho vay địa ốc Countrywide Financial cũng đã bị Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Mỹ (SEC) buộc tội gian lận. Theo cáo buộc của SEC, Mozillo đã tìm cách trấn an các nhà đầu tư, trong khi nội bộ lo lắng về mức độ rủi ro cao của các khoản đầu tư.

Năm nay 62 tuổi, Lewis từ chức CEO của BofA vào cuối năm ngoái, sau khi chịu sự chỉ trích mạnh mẽ về việc BofA mua lại Merrill. Luật sư của Lewis cho rằng, việc Tổng chưởng lý Cuomo kiện Lewis là sai lầm và vô căn cứ.

Tuy nhiên, trước khi Tổng chưởng lý Cuomo vào cuộc, SEC cũng đã cáo buộc BofA lừa dối cổ đông về những khoản tiền thưởng và thua lỗ ở Merrill. BofA đã chấp nhận nộp phạt 150 triệu USD cho SEC và cam kết tăng cường quản lý để tránh bị đưa ra tòa.

(Theo Bloomberg)-Vneconomy

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

Kỳ vọng nào vào thông tin kinh tế Mỹ tuần này?

Các chuyên gia kinh tế tham gia khảo sát của Bloomberg cho rằng doanh số bán lẻ tại Mỹ tháng 1/2010 đã tăng 0,3% và có tháng tăng thứ 3 trong 4 tháng liên tiếp.

Đà phục hồi chi tiêu đã giúp các công ty bán lẻ Mỹ kinh doanh tốt trong thời điểm kỳ nghỉ nhiều khả năng đã kéo dài sang năm mới, đây là dấu hiệu cho thấy người tiêu dùng Mỹ đang đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng kinh tế.

Các chuyên gia kinh tế tham gia khảo sát của Bloomberg cho rằng doanh số bán lẻ tại Mỹ tháng 1/2010 đã tăng 0,3% và có tháng tăng thứ 3 trong 4 tháng liên tiếp. Số liệu về thị trường bán lẻ được công bố ngày 11/02/2010. Báo cáo khác có thể cho thấy thâm hụt thương mại tháng 12/2009 giảm.

Tỷ lệ thất nghiệp tháng 1/2010 giảm, kết hợp với việc thời gian làm việc dài hơn, lương tăng lên. Tất cả những yếu tố trên cho thấy kinh tế nhiều khả năng sẽ tạo được thêm việc làm, thu nhập người dân tăng có thể khiến doanh số tại hãng bán lẻ như Macy hay Gap tăng trưởng.

Sản xuất tăng trưởng, nguyên nhân chính là bởi doanh nghiệp tăng đầu tư vào thiết bị mới và hoạt động tại nước ngoài, nhiều khả năng đã giúp xuất khẩu Mỹ hòi phục. Thâm hụt thương mại vì thế giảm bớt. Mức thâm hụt tháng 12/2009 được dự báo giảm xuống 35,5 tỷ USD từ mức 36,4 tỷ USD tháng trước đó.

Hàng tồn kho tại Mỹ cũng được cho là đã tăng trưởng đến tháng thứ 3 liên tiếp. Các chuyên gia cho rằng hàng tồn kho tăng 0,3% trong tháng 12/2009 sau khi tăng 0,4% trong tháng 11/2009, doanh nghiệp tin tưởng hơn vào đà phục hồi của kinh tế Mỹ.

Người tiêu dùng cũng được cho là đã lạc quan hơn. Khảo sát cho thấy chỉ số niềm tin người tiêu dùng tháng 2/2010 được công bố ngày 12/02 có thể đã tăng lên mức 75, mức cao nhất từ tháng 1/2009. Mức của tháng 1/2010 là 74,4.

Thông tin kinh tế Mỹ trong tuần

Ngày thứ Hai

Không có thông tin kinh tế quan trọng nào được công bố

Ngày thứ Ba

Không có thông tin kinh tế quan trọng nào được công bố

Ngày thứ Tư

8h30 sáng: Số liệu về thương mại quốc tế

10h30 sáng: Báo cáo về dự trữ năng lượng Mỹ

Ngày thứ Năm

8h30 sáng: Doanh số bán lẻ

8h30 sáng: Số lượng người thất nghiệp lần đầu theo tuần

Ngày thứ Sáu

9h55 sáng: Chỉ số niềm tin người tiêu dùng


(Theo Dân Trí/Bloomberg/Reuters)-Efinance

Nước Mỹ sẽ không bao giờ bị hạ xếp hạng nợ?

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy F. Geithner tuyên bố nước Mỹ không thể mất được xếp hạng Aaa bất chấp thâm hụt ngân sách cao.

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy F. Geithner tuyên bố nước Mỹ không thể mất được xếp hạng Aaa ngay cả khi chính quyền Tổng thống Obama dự báo mức thâm hụt ngân sách năm 2010 là 1,6 nghìn tỷ USD.

Trong bài phỏng vấn với ABC News, ông nói: “Điều đó sẽ hoàn toàn không xảy ra. Điều đó sẽ không bao giờ đến với nước Mỹ.”

Ông Geithner nhận xét nhà đầu tư khắp thế giới luôn tìm đến trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ và tài sản định giá bằng đồng USD khi họ cảm thấy lo lắng về sự mất ổn định của kinh tế toàn cầu. Điều này phản ánh niềm tin vào Mỹ và khả năng hồi phục từ suy thoái của kinh tế Mỹ.

Tuần trước, Moody cho rằng xếp hạng trái phiếu của Mỹ chịu nhiều áp lực trong tương lai trừ khi chính phủ đưa ra thêm nhiều biện pháp để giảm thâm hụt ngân sách trong thập kỷ tới.

Ông Geithner tuyên bố chính phủ Mỹ có kế hoạch hạn chế thâm hụt ngân sách một khi thị trường lao động hồi phục. Trong ngắn hạn, tuyên bố này đồng nghĩa với trọng tâm đảm bảo kinh tế sẽ tăng trưởng. Chính quyền Tổng thống Obama tuyên bố thâm hụt sẽ giảm trong khoảng thời gian 4 năm tới khi ngày một nhiều người Mỹ tìm được việc làm khi kinh tế tăng tốc.

Chính quyền Tổng thống Obama đã cam kết tiếp tục giảm thuế và tăng cường hỗ trợ cho doang nghiệp nhỏ để cố gắng kích thích kinh tế Mỹ tăng trưởng. Bộ trưởng Tài chính Mỹ và một số quan chức khác đã tuyên bố hiện còn quá sớm để giảm chi tiêu bởi việc chấm dứt kế hoạch kích thích kinh tế hiện nay sẽ có thể cản đà phục hồi của nền kinh tế.

(Theo Dân Trí/Bloomberg)

Cựu CEO ngân hàng lớn nhất nước Mỹ có nguy cơ ra hầu tòa

picture

Năm nay 62 tuổi, Lewis từ chức CEO của BofA vào cuối năm ngoái sau khi chịu sự chỉ trích mạnh mẽ về việc BofA mua lại Merrill.

Kenneth Lewis bị buộc tội gian lận trong thời gian xảy ra khủng hoảng tài chính


Cựu giám đốc điều hành (CEO) Kenneth Lewis của ngân hàng Bank of America (BofA) vừa trở thành lãnh đạo ngân hàng cao cấp nhất ở Mỹ bị buộc tội có những hành vi sai trái trong thời gian xảy ra khủng hoảng tài chính.

Ngày 4/2, Tổng chưởng lý New York Andrew Cuomo đã phát đơn kiện, cáo buộc Lewis và cựu giám đốc tài chính Joe Price cũng của BofA đã gian lận dân sự khi còn đương chức. Lewis đã thôi chức CEO của BofA vào tháng 12/2009, sau khi ngân hàng này tiếp nhận hàng chục tỷ USD tiền cứu trợ từ Chính phủ Mỹ.

Cùng với Lewis, hàng loạt CEO khác trong ngành tài chính Mỹ đã “về vườn” giữa lúc ngành này thua lỗ 1.700 tỷ USD vì khủng hoảng. Trong số này có cựu CEO Charles Prince của Citigroup, cựu CEO Stanley O’Neal của Merrill Lynch, cựu CEO Richard Fuld của Lehman Brothers, và cựu CEO Kennedy Thompson của Wachovia. Tuy nhiên, trong số các cựu giám đốc này, không ai bị cáo buộc có hành vi sai trái như Lewis.

Theo đơn kiện của Tổng chưởng lý, Lewis và Price đã lừa dối các nhà đầu tư và người dân đóng thuế của nước Mỹ bằng cách bưng bít thông tin thua lỗ tại ngân hàng Merrill Lynch. Việc ém nhẹm thông tin này xảy ra trước khi cổ đông bỏ phiếu thông qua việc BofA mua lại Merrill Lynch.

Sau đó, theo cáo buộc, dưới sự lãnh đạo của Lewis, BofA đã sử dụng tình trạng thua lỗ này để xin các nhà chức trách Mỹ rót vốn cứu trợ. Con số thua lỗ của Merrill trong quý 4/2008 là trên 15 tỷ USD.

Ngoài ra, đơn kiện còn cho rằng Lewis không công bố thông tin về việc bộ phận môi giới của Merrill chi thưởng tới 3,57 tỷ USD ngay trong năm tồi tệ nhất trong lịch sử của ngân hàng này.

Trước Lewis, vào tháng 6/2009, một cựu CEO khác của ngành tài chính Mỹ là Angelo Mozilo của tập đoàn cho vay địa ốc Countrywide Financial cũng đã bị Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Mỹ (SEC) buộc tội gian lận. Theo cáo buộc của SEC, Mozillo đã tìm cách trấn an các nhà đầu tư, trong khi nội bộ lo lắng về mức độ rủi ro cao của các khoản đầu tư.

Năm nay 62 tuổi, Lewis từ chức CEO của BofA vào cuối năm ngoái, sau khi chịu sự chỉ trích mạnh mẽ về việc BofA mua lại Merrill. Luật sư của Lewis cho rằng, việc Tổng chưởng lý Cuomo kiện Lewis là sai lầm và vô căn cứ.

Tuy nhiên, trước khi Tổng chưởng lý Cuomo vào cuộc, SEC cũng đã cáo buộc BofA lừa dối cổ đông về những khoản tiền thưởng và thua lỗ ở Merrill. BofA đã chấp nhận nộp phạt 150 triệu USD cho SEC và cam kết tăng cường quản lý để tránh bị đưa ra tòa.

(Theo Bloomberg)-Vneconomy

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

Những công ty Mỹ “mất giá” nhất thập kỷ

Phía trước đại bản doanh của Cisco - cái tên đứng đầu danh sách công ty Mỹ “mất giá” nhất thập kỷ - Ảnh: Reuters.
Trong thập kỷ qua, nhiều doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ đã mất hàng trăm tỷ USD giá trị vốn hóa trên thị trường chứng khoán. Chiếm đa số trong nhóm 10 doanh nghiệp “mất giá” nhất này là các hãng công nghệ.
1. Cisco

Giá trị vốn hóa mất mát: 425 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 557 tỷ USD (tháng 3/2000)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 132 tỷ USD

Cùng với Microsoft và Intel, Cisco là một trong những công ty được lợi nhất trong thời kỳ bong bóng dotcom ở Mỹ hồi cuối những năm 1990. Mặc dù Cisco hiện vẫn là nhà cung cấp thiết bị mạng hàng đầu thế giới, nhưng giá cổ phiếu của tập đoàn này chưa thể phục hồi hoàn toàn từ mức đáy khi bong bóng công nghệ vỡ tung. Tuy nhiên, Giám đốc điều hành (CEO) John Chambers của Cisco vẫn kiếm bộn. Năm ngoái, ông bỏ túi 11 triệu USD nhờ bán cổ phiếu.

2. General Electric (GE)

Giá trị vốn hóa mất mát: 423 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 601 tỷ USD (tháng 8/2000)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 178 tỷ USD

Trong thời kỳ bong bóng kinh tế ở Mỹ vào cuối những năm 1990, giá cổ phiếu của GE đã tăng chóng mặt. Tuy nhiên, kể từ khi CEO Jeff Immelt nhậm chức thay cho người tiền nhiệm Jack Welch vào năm 2001, giá cổ phiếu của GE đã đảo chiều và lao dốc liên tục, tới nay mất đã mất 70% giá trị.

3. Intel

Giá trị vốn hóa mất mát: 400 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 509 tỷ USD (tháng 8/2000)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 109 tỷ USD

Tương tự như Cisco và Microsoft, Intel từ lâu đã là một doanh nghiệp thành công, dù không phải lúc nào cũng đáp ứng được những kỳ vọng cao của thị trường. Khi giá cổ phiếu của Intel đạt đỉnh vào tháng 8/2000, nhiều nhà phân tích đã lo ngại một kịch bản xấu có thể xảy ra đối với cổ phiếu này. Một tháng sau đó, Intel cắt giảm dự báo tăng trưởng doanh số của hãng, khiến giá cổ phiếu này rơi tự do và tới nay vẫn chưa thể lấy lại được những gì đã mất.

4. Microsoft

Giá trị vốn hóa mất mát: 390 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 642 tỷ USD (tháng 9/2000)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 252 tỷ USD

Microsoft hiện đang là doanh nghiệp lớn thứ hai của Mỹ xét về giá trị vốn hóa thị trường, sau Exxon Mobil, mặc dù giá cổ phiếu của “đại gia” phần mềm này đã sụt giảm chóng mặt so với thời kỳ đỉnh cao. Giá cổ phiếu của Microsoft giảm dù hãng đã chi hàng chục tỷ USD đểm ua lại cổ phiếu. Năm 2008, Microsoft cho hay, trong vòng 5 năm, họ đã chi 115 tỷ USD để mua lại cổ phiếu và trả cổ tức. Trong khoảng thời gian đó, bất chấp nỗ lực này của Microsoft, giá cổ phiếu của hãng đi ngang.

5. Nortel

Giá trị vốn hóa mất mát: 283 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 283 tỷ USD (tháng 7/2000)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 0 USD (Nortel đã phá sản vào tháng 1/2009)

Cổ phiếu của hãng sản xuất thiết bị viễn thông Nortel đã từng là một trong những cổ phiếu “nóng” nhất trên thị trường chứng khoán Phố Wall. Tuy nhiên, không giống như đối thủ Cisco, do hàng loạt sai sót trong công tác kế toán và những quyết định kinh doanh sai lầm, Nortel đã làm ăn bết bát trong suốt thời gian kể từ sau khi bong bóng công nghệ xì hơi. Đầu năm ngoái, Nortel đã nộp đơn xin bảo hộ phá sản và bán lại toàn bộ tài sản.

6. Lucent

Giá trị vốn hóa mất mát: 274 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 285 tỷ USD (tháng 12/1999)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 11 tỷ USD (vào năm 2006, Lucent đã sáp nhập vào Alcatel)

Lucent là một trong những doanh nghiệp thành công nhất trong lĩnh vực viễn thông vào cuối những năm 1990. Tuy nhiên, sự thật đã nhanh chóng được phơi bày: Lucent chỉ dùng các “thủ thuật” kế toán để thổi phồng kết quả kinh doanh. Các nhà chức trách Mỹ đã vào cuộc và Lucent phải nộp phạt 25 triệu USD vì tội gian lận.

7. AIG

Giá trị vốn hóa mất mát: 239 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 242 tỷ USD (tháng 12/2000)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 3 tỷ USD

Hiện nay, hiếm có một danh sách nào về các doanh nghiệp “bại trận” không có sự góp mặt của bảo hiểm khổng lồ này. Trong thời gian khủng hoảng vừa qua, AIG đã được Chính phủ Mỹ bơm cho 180 tỷ USD để tránh sự sụp đổ. Dưới thời của cựu CEO Hank Greenberg, người ngoài nhìn vào cứ nghĩ AIG bình yên, dù tập đoàn tích cực vay nợ để thực hiện những vụ đầu tư đầy may rủi. Hiện AIG đang nỗ lực kiếm tiền để trả nợ Chính phủ Mỹ, và không mấy ai tin là AIG có thể sớm hoàn thành nhiệm vụ này.

8. AOL

Giá trị vốn hóa mất mát: 219 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 222 tỷ USD (tháng 12/1999)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 3 tỷ USD

Dưới sự lãnh đạo của người sáng lập Steve Case, AOL đã thu hút được một số lượng người sử dụng khổng lồ, trở thành biểu tượng của Internet tiêu dùng. Tuy nhiên, vụ sáp nhập vào năm 2000 giữa AOL và Time Warner đã được giới phân tích xem là một trong những “cuộc hôn nhân doanh nghiệp” dở tệ nhất trong lịch sử, đồng thời khiến giá cổ phiếu của hai công ty sau khi sáp nhập bốc hơi thê thảm. Hiện AOL đã tách khỏi Time Warner.

9. Exxon Mobil

Giá trị vốn hóa mất mát: 192 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 509 tỷ USD (tháng 12/2007)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 317 tỷ USD

Từ năm 2006, Exxon Mobil đã thay thế GE ở ngôi vị công ty Mỹ có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất. Không chịu sự sụt giảm giá trị vốn hóa mạnh như những công ty công nghệ lớn hồi đầu thập kỷ, nhưng mức độ mất giá của Exxon cũng đủ để công ty rơi vào danh sách này. Nhìn chung, giá cổ phiếu của Exxon giảm theo thị trường chứng khoán Mỹ nói chung, số lượng cổ phiếu lưu hành cũng giảm do hoạt động mua lại mạnh mẽ cổ phiếu của hãng.

10. WorldCom

Giá trị vốn hóa mất mát: 186 tỷ USD
Giá trị vốn hóa trị trường ở thời kỳ đỉnh cao: 186 tỷ USD (tháng 4/1999)
Giá trị vốn hóa thị trường gần đây: 0 USD (Enron đã phá sản vào tháng 7/2002)

Dưới sự lãnh đạo của Bernie Ebbers, một cựu huấn luyện viên bóng rổ trường phổ thông, WorldCom đã gian lận sổ sách kế toán để thổi phồng giá trị. Năm 2002, WorldCom phá sản, 3 năm sau, Ebbers cũng hầu tòa.

(Theo CNN, VnEconomy)

Trung Quốc xóa 80% nợ cho I-rắc

Ảnh minh hoạ.
Trung Quốc đã quyết định xóa 80% khoản tiền 8,5 tỷ USD mà I-rắc nợ nước này. Năm 2007, Bắc Kinh cũng đã xóa tất cả các khoản tiền mà I-rắc nợ Chính phủ Trung Quốc.

Năm 2009, hai nước đã ký các hợp đồng thương mại trị giá 3,8 tỷ USD. Tập đoàn dầu mỏ quốc gia Trung Quốc (CNPC) cũng đã ký kết một số hợp đồng dầu khí lớn nhất tại I-rắc kể từ khi chính quyền Xát-đam Hút-xen (Saddam Hussein) sụp đổ năm 2003, trong đó có hợp đồng khai thác mỏ dầu Han-phay-a (Halfaya) ở miền Nam, cùng với Tập đoàn BP khai thác mỏ dầu Ru-mai-la lớn nhất I-rắc. Với những hợp đồng này, CNPC trở thành một trong những công ty năng lượng nước ngoài có nhiều hoạt động nhất tại I-rắc.

(Theo Quân Đội Nhân Dân)

Năm 2010, kinh tế Nga có thể tăng 3,1%

Tổng thống Nga Dmitry Medvedev cũng vừa chỉ ra rằng, thất nghiệp sẽ là một trong những vấn đề nan giải, đồng thời là vấn đề phức tạp nhất trong lĩnh vực xã hội của Nga trong năm 2010 - Ảnh: Reuters.

Kinh tế Nga đã thoát khỏi khủng hoảng và có thể đạt mức tăng trưởng 3,1% trong năm nay, sau khi suy giảm gần 8% trong năm 2009
Kinh tế Nga đã thoát khỏi khủng hoảng và có thể đạt mức tăng trưởng 3,1% trong năm nay, sau khi suy giảm gần 8% trong năm 2009. Tuy nhiên, thất nghiệp sẽ tiếp tục là vấn đề nan giải Tổng thống Nga Medvedev vừa kêu gọi chú trọng chống nạn thất nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư trong.

Các số liệu thống kê được công bố ngày 1/2 cho thấy, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nga năm 2009 đã giảm 7,9% so với năm 2008 (tăng 5,6%), do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Nền kinh tế đã thoát khỏi khủng hoảng

Theo Tổng thống Nga Dmitry Medvedev, Nga là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Nga cũng đã không thành công trong việc chuyển đổi mô hình kinh tế trong những năm qua, khi nền kinh tế Nga vẫn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu dầu mỏ.

Mức suy giảm kinh tế năm 2009 là mức sụt giảm mạnh nhất của kinh tế Nga kể từ năm 1994 (giảm 12,7% so với năm 1993). Tuy nhiên, bất chấp những kết quả kinh tế ảm đạm của năm 2009, cơ quan xếp hạng có uy tín toàn cầu (Fitch) và Bộ Phát triển Kinh tế Nga dự báo, kinh tế Nga đã thoát khỏi khủng hoảng và sẽ tăng trưởng khá trong năm nay. Bộ Phát triển Kinh tế Nga cho rằng năm 2010 kinh tế nước này có thể đạt mức tăng trưởng 3,1%.

Trong khi đó, hai cơ quan xếp hạng tín dụng Standard and Poor's và Fitch cho rằng năm 2010, kinh tế Nga có thể phục hồi ngang với mức trước khủng hoảng (năm 2008). Fitch cũng vừa "trả lại" mức đánh giá nền kinh tế Nga về vị trí trước khủng hoảng khi nâng dự báo xếp hạng lâu dài về kinh tế Nga từ mức “tiêu cực” lên “ổn định”.

Để có kết quả này, Fitch căn cứ vào hiệu quả từ các biện pháp khắc phục khủng hoảng mà Chính phủ Nga đã áp dụng: Nga đã khôi phục luồng vốn đầu tư trong khu vực tư nhân, hoạt động kinh tế tích cực, tỉ lệ lạm phát hạ, giảm thiểu rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng và kết quả thâm hụt ngân sách năm 2009 thấp hơn so với dự kiến.

Tìm giải pháp kích cầu đầu tư

Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế của Nga lưu ý rằng không nên "quá tự hào" trước đánh giá cao về nền kinh tế nước này. Theo họ, sự cải thiện này sẽ khiến nguồn vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Nga tăng, song đây là sự đầu cơ nhằm theo đuổi siêu lợi nhuận nguy hiểm. Họ cho rằng chỉ có thể thông qua hiện đại và đa dạng hóa nền kinh tế trong nước mới có thể biến nguồn vốn này thành nguồn đầu tư thật sự.

Tổng thống Nga Dmitry Medvedev cũng vừa chỉ ra rằng, thất nghiệp sẽ là một trong những vấn đề nan giải, đồng thời là vấn đề phức tạp nhất trong lĩnh vực xã hội của Nga trong năm 2010. Tính đến cuối năm 2009, số người Nga chính thức đăng ký thất nghiệp đã lên tới 2,05 triệu người (trên thực tế hơn 6,5 triệu người).

Trong cuộc gặp Chủ tịch Liên hiệp các công đoàn độc lập Nga, ông Mikhail Shmakov ngày 11/1, Tổng thống Medvedev đã kêu gọi chính quyền các cấp và các bộ-ngành của Nga cần nỗ lực và phối hợp hành động để giải quyết tình trạng thất nghiệp cao ở Nga cuối năm qua. Bên cạnh đó, trong năm nay, Nga cũng cần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm phụ thuộc vào ngành dầu mỏ, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư trong nước.

Ngày 2/2, Tổng thống Medvedev đã kêu gọi Chính phủ Nga thi hành các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư trong nước và cho biết, chỉ số về môi trường kinh doanh thuận lợi do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố xác nhận Nga đã tụt hai bậc và hiện xếp thứ 120 trong tổng số 183 nước và vùng lãnh thổ được xếp hạng. Đánh giá của các nhà đầu tư về môi trường kinh doanh tại Nga là rất thấp.

Trong năm 2009, đầu tư vào kinh tế Nga đã giảm 17%, đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 41% và chỉ đạt mức 3,6%, mặc dù Chính phủ Nga đã thực thi các biện pháp chống khủng hoảng, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và phát triển một nền kinh tế mở đối với đầu tư. Trong số những biện pháp thu hút đầu tư đã và đang thực thi có quyết định thôi điều tiết tiền tệ, hủy bỏ hạn chế về di chuyển vốn, giảm số lượng loại hoạt động cần được cấp phép, giảm kiểm tra kinh doanh nhỏ.


Theo Vneconomy

Doanh nghiệp Nhật Bản quan tâm đầu tư vào Việt Nam

Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản phối hợp với Ủy ban Văn hóa Kinh tế Nhật-Việt thuộc Hội đồng Thúc đẩy Ngoại giao Nhân dân (FEC) đã tổ chức hội thảo về xúc tiến thương mại-đầu tư giữa doanh nghiệp hai nước.

Nhật Bản là một trong những nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam. Ảnh minh họa

Hội thảo tổ chức trong ngày 2/2/2010 đã thu hút đại diện của 60 doanh nghiệp lớn Nhật Bản đang có quan hệ làm ăn với Việt Nam hoặc quan tâm tới việc đầu tư vào thị trường Việt Nam.

Tại hội thảo, Đại sứ Nguyễn Phú Bình kêu gọi các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục đầu tư vào Việt Nam để góp phần thắt chặt mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước.

Lãnh đạo các doanh nghiệp Nhật Bản cho biết họ rất quan tâm tới việc đầu tư vào Việt Nam và mong muốn thông qua hội thảo này tìm hiểu thêm thông tin về thực trạng kinh tế Việt Nam, nhất là các điều kiện ưu đãi về kinh doanh tại Việt Nam cũng như giải đáp các vướng mắc của doanh nghiệp Nhật Bản muốn đầu tư vào thị trường Việt Nam.

Phó Chủ tịch Ủy ban Văn hóa Kinh tế Nhật-Việt Hiroyuki Yushita khẳng định quan hệ với Việt Nam luôn là một ưu tiên của Nhật Bản và kêu gọi các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào Việt Nam.

Nguồn: Linh Đức - Chinhphu.vn