Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiểm toán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiểm toán. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

Kiểm toán một số hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản

(Chinhphu.vn) - Kiểm toán Nhà nước sẽ tiến hành kiểm toán các nội dung thuộc hoạt động xuất nhập khẩu tại một số cơ quan của Việt Nam để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm theo chương trình hợp tác với Kiểm toán Nhà nước Liên bang Nga,

Kiểm toán việc sử dụng kinh phí hoạt động kiểm tra nhà nước đối với chất lượng thủy sản

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã đồng ý với đề nghị của Kiểm toán Nhà nước về việc kiểm toán nêu trên.

Đồng thời yêu cầu Kiểm toán Nhà nước cần chủ động phối hợp với các cơ quan thanh tra, kiểm tra để tránh chồng chéo về đối tượng và nội dung; tạo được căn cứ để đánh giá đúng, sát với tình hình thực tế của Việt Nam.

Được biết, nội dung kiểm toán sẽ tập trung vào hai vấn đề, thứ nhất là việc sử dụng kinh phí hoạt động kiểm tra nhà nước đối với chất lượng các mặt hàng cá, hải sản và các sản phẩm chế biến từ loại này (thủy sản); thứ hai là về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm của hàng xuất nhập khẩu này giữa Việt Nam và Liên bang Nga.

Trong số 127 quốc gia và vùng lãnh thổ đang là thị trường tiêu thụ thủy sản của Việt Nam, Liên bang Nga là một thị trường tiềm năng. Nước ta xuất khẩu sang Nga chủ yếu là các mặt hàng đông lạnh, đặc biệt là cá tra.

Năm 2008, xuất khẩu thủy sản của nước ta vào Nga đạt 216,39 triệu USD đứng thứ 4 trong các thị trường xuất khẩu chỉ sau Nhật, Mỹ và Hàn Quốc. Sau 4 tháng đầu năm 2009 Nga đóng cửa việc xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam với lý do Nga đưa ra liên quan đến an toàn vệ sinh, bao bì sản phẩm chưa đảm bảo một số tiêu chuẩn kỹ thuật, thị trường đã được thông quan trở lại từ tháng 5/2009. Kết quả từ tháng 5 đến tháng 11/2009, Việt Nam đã xuất vào Nga gần 40.000 tấn thủy sản, đạt doanh thu hơn 64 triệu USD.

Hiện nay, mặc dù kinh tế Nga chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng Nga vẫn là một đối tác thương mại tiềm năng của Việt Nam, thị trường Nga tiếp tục hứa hẹn có những bước tăng trưởng cao, đặc biệt là với các mặt hàng thủy sản. Bởi vậy, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam có rất nhiều cơ hội để xuất khẩu vào thị trường này trong năm 2010, đặc biệt là với các sản phẩm từ cá tra và basa.

Vi Anh

(Nguồn: Công văn 1315/VPCP-KTTH)-Chinhphu.vn

“…Kỳ vọng về sự phát triển mạnh mẽ của ngành kiểm toán độc lập, ngang tầm với các nước trong khu vực sau khi Luật kiểm toán độc lập đi vào cuộc sống…”

“…Kỳ vọng về sự phát triển mạnh mẽ của ngành kiểm toán độc lập, ngang tầm với các nước trong khu vực sau khi Luật kiểm toán độc lập đi vào cuộc sống…”

Phỏng vấn PGS.TS Đặng Thái Hùng – Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chế độ Kế toán và kiểm toán - Bộ Tài chính (*)

Ông Đặng Thái Hùng

Tạp chí kế toán: Thưa ông, được biết, trong năm 2010, dự thảo Luật Kiểm toán độc lập (KTĐL) sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến. Xin ông giới thiệu sơ bộ về bản dự thảo này?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Theo chương trình xây dựng pháp luật, dự thảo Luật KTĐL sẽ trình Chính phủ xem xét vào tháng 4/2010 và trình Quốc hội thảo luận tại kỳ họp tháng 10/2010 và nếu thuận lợi sẽ được thông qua vào kỳ họp Quốc hội tháng 5 năm 2011. Bản dự thảo hiện nay được coi là dự thảo lần 1 của Bộ Tài chính (trên cơ sở dự thảo lần 8 của Ban soạn thảo đã được chỉnh sửa sau khi Bộ trưởng và tập thể lãnh đạo Bộ Tài chính cho ý kiến).

Dự thảo này hướng vào việc đáp ứng được 3 mục tiêu, yêu cầu. Một là, nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động KTĐL trong nền kinh tế quốc dân. Hai là, quy định rõ (ở tầm Luật) các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật như kiểm toán viên (KTV), doanh nghiệp kiểm toán (DNKT), đơn vị được kiểm toán …v.v. Ba là, tăng cường mở rộng) phạm vi các đối tượng kiểm toán theo luật định.

Dự thảo gồm 8 chương với 85 Điều: Chương 1- Những quy định chung gồm 12 Điều, quy định những vấn đề có tính chất nguyên tắc chung, chi phối toàn bộ nội dung của Luật. Chương 2- KTV hành nghề, trợ lý kiểm toán gồm 10 Điều, quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến trợ lý kiểm toán, KTV. Chương 3- DNKT gồm 31 Điều quy định cụ thể các nội dung liên quan đến DNKT. Chương 4- Quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán gồm 3 Điều, quy định đơn vị được kiểm toán thuộc đối tượng bắt buộc hoặc tự nguyện. Chương 5- Hoạt động hành nghề KTĐL gồm 5 mục với 15 Điều, quy định về hoạt động hành nghề của DNKT. Chương 6- Các quy định đối với kiểm toán BCTC của đơn vị có lợi ích công chúng gồm 6 Điều, quy định bổ sung đối với kiểm toán BCTC của các đơn vị có lợi ích công chúng. Chương 7- Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại gồm 3 mục với 15 Điều. Chương 8- Điều khoản thi hành gồm 2 Điều, quy định về hiệu lực thi hành; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Tạp chí kế toán: Thưa ông, trong quá trình soạn thảo, quy trình lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng điều chỉnh trong Luật được tiến hành như thế nào để đảm bảo Luật khi được ban hành sẽ bám sát thực tiễn hoạt động KTĐL và tạo điều kiện cho các đối tượng cạnh tranh bình đẳng?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Trong quá trình soạn thảo Luật KTĐL, Ban soạn thảo ngoài việc tuân thủ quy trình chung có lưu ý cả những tính đặc thù của lĩnh vực KTĐL. Quy trình soạn thảo và lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng được điều chỉnh có thể quy về sáu bước như sau:

Bước 1: Ban soạn thảo (với đầy đủ các thành phần liên quan) tiến hành dự thảo Luật, tổ chức thảo luận trong Ban soạn thảo kết hợp tổ chức trao đổi lấy ý kiến hợp tổ chức trao đổi lấy ý kiến các bên có liên quan;

Bước 2: Báo cáo tập thể lãnh đạo Bộ Tài chính xin ý kiến chỉ đạo những quan điểm tư tưởng và hướng soạn thảo;

Bước 3: Gửi dự thảo xin ý kiến tham gia và tổ chức hội thảo mở rộng theo từng nhóm đơn vị có liên quan như khối Bộ, ngành, cơ quan nhà nước; khối các DNKT và các đơn vị được kiểm toán; khối các cơ quan quản lý, nghiên cứu, đào tạo;… trong đó, đặc biệt là thông qua các hội nghề nghiệp (VAA, VACPA) để tổ chức lấy ý kiến rộng rãi các DNKT, đảm bảo đủ đại diện các DNKT có quy mô khác nhau, loại doanh nghiệp (DN) khác nhau (công ty TNHH; công ty hợp danh; DN tư nhân; DN theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đối với khối các đơn vị được kiểm toán, cũng tổ chức hội thảo lấy ý kiến tham gia của đầy đủ các đối tượng có liên quan (đối tượng bắt buộc và khuyên khích kiểm toán; DN có quy mô, sở hữu, lĩnh vực hoạt động khác nhau; đặc biệt là các DN đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, các đơn vị có lợi ích công chúng);

Bước 4: Tập hợp ý kiến tham gia để tiếp tục hoàn thiện dự thảo;

Bước 5: Tiếp tục xin ý kiến đối với các vấn đề, nội dung cần làm sáng tỏ hơn;

Bước 6: Lấy ý kiến thẩm định trình Chính phủ, Quốc hội.

Tạp chí kế toán: So với các văn bản dưới Luật (Nghị định của Chính phủ về KTĐL) đã ban hành trước đây, bản dự thảo này có những quy định mới gì?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: So với nội dung của các Nghị định của Chính phủ về KTĐL hiện hành, dự thảo Luật đã có sự bổ sung một số nội dung mới, như: Quy định việc cấp, đình chỉ giấy phép thành lập, hoạt động của DNKT và chứng chỉ KTV do Bộ Tài chính đản nhận nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ, phù hợp với loại hình DN có điều kiện này, tương tự như DN chứng khoán, DN bảo hiểm; Quy định tiêu chuẩn, quy định vốn tối thiểu của DNKT; Quy định kiểm toán báo cáo tài chính các đơn vị có lợi ích công chúng; Bổ sung đối tượng thuộc diện kiểm toán bắt buộc; Quy định về hoạt động kiểm toán có yếu tố nước ngoài; Quy định về thanh tra, xử phạt, giải quyết tranh chấp,…

Tạp chí kế toán: Được biết, dự thảo Luật KTĐL gần đây nhất có quy định về điều kiện thành lập DNKT, trong đó, phải có ít nhất năm người có chứng chỉ KTV, bao gồm cả giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và Chủ tịch Hội đồng thành viên. So với quy định trước đây ít nhất có ba người có chứng chỉ KTV), quy định tại dự thảo này gây nên quan ngại về việc sẽ hạn chế các DNKT có quy mô nhỏ, tạo ưu thế cạnh tranh cho các DN có quy mô lớn trong khi Việt Nam hiện chỉ có chưa đến 2.000 người có chứng chỉ KTV và nhu cầu dịch vụ KTĐL ngày càng lớn. Ông giải thích thế nào về sự thay đổi (nâng cao) tiêu chuẩn thành lập DNKT này?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Việc quy định quy mô DNKT tối thiểu có 5 KTV là phù hợp với thông lệ của nhiều nước trên thế giới. Quy định này đảm bảo cho DNKT có đủ lực lượng tối thiểu để quản lý, điều hành, phê duyệt báo cáo kiểm toán và thực thi công việc kiểm toán. Khi nghiên cứu, xây dựng, ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP về KTĐL (văn bản pháp lý cao nhất hiện hành về KTĐL) cũng đã tính đến vấn đề này, song do cần có thời gian hoàn thiện các điều kiện thực hiện (như tăng số lượng KTV có chứng chỉ; nâng cao trình độ quản lý, thực hiện kiểm toán,…) nên ở thời điểm đó chưa quy định như vậy. Hơn nữa, vì đây là văn bản Luật nên phải đảm bảo quy định mang tính ổn định lâu dài. Sau khi Luật được ban hành, công bố, có hiệu lực thi hành, sẽ xem xét cụ thể sẽ quy định một khoảng thời gian cần thiết cho việc chuyển đổi.

Tạp chí kế toán: Trong dự thảo Luật KTĐL, Nhà nước vẫn đảm nhiệm hầu hết các công việc đăng ký và quản lý hành nghề KTĐL, hội nghề nghiệp chủ yếu có vai trò cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, đạo đức của KTV hành nghề, giám sát và giúp đỡ hội viên hành nghề theo đúng quy định của pháp luật… Trong khi, theo thông lệ quốc tế, việc quản lý và đăng ký hành nghề kế toán, kiểm toán do hội nghề nghiệp đảm nhiệm. Liệu với quy định như vậy, Nhà nước có “bao sân” quá lớn đối với việc quản lý hành nghề KTĐL không?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Quan điểm chỉ đạo là trách nhiệm quản lý nhà nước là toàn diện và đầy đủ mọi mặt hoạt động trong lĩnh vực KTĐL. Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động nghề nghiệp trong một số lĩnh vực (trong đó có KTĐL) thì một số công việc nếu giao cho tổ chức nghề nghiệp quản lý và thực hiện sẽ phù hợp, thuận lợi và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc uỷ quyền những công việc gì sẽ tuỳ thuộc vào khả năng (nối dài cánh tay quản lý của Nhà nước) của Tổ chức nghề nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể.

Tạp chí kế toán: Ở vị trí đại diện cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực KTĐL, cơ quan soạn thảo Luật KTĐL, ông kỳ vọng gì khi Luật KTĐL đi vào cuộc sống?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Hoạt động KTĐL ở Việt Nam đã có quá trình 18 năm hình thành và phát triển, một quãng thời gian chưa hẳn là dài so với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển song cũng đã hội đủ các yếu tố để đánh giá, xem xét cho việc xây dựng, hình thành Luật KTĐL. Với những quy định điều chỉnh hoạt động KTĐL trong nền kinh tế thị trường ở tầng pháp lý cao nhất và đầy đủ, phù hợp nhất. Hơn nữa, mức độ hội nhập trong lĩnh vực KTĐL ở Việt Nam với quốc tế cũng đã dần tới mức hoàn thiện.

Vì những lý do đó, tôi cũng như những người quan tâm đến ngành KTĐL của Việt Nam có quyền kỳ vọng về sự phát triển ổn định, vững chắc, mạnh mẽ của ngành KTĐL ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một ngày không xa sau khi Luật KTĐL đi vào cuộc sống.

(*) Ông Đặng Thái Hùng đã chính thức được bổ nhiệm Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán Bộ Tài chính từ 10/02/2010 (BBT)

Theo Tạp Chí Kế Toán

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

Kiểm toán ở đâu trước khả năng dấu lãi, chuyển lỗ của DN?

Xem hình
Năm 2009, CTCP Gemadept (mã GMD) điều chỉnh số liệu kết quả kinh doanh (KQKD) cuối năm 2008 với lý do năm 2008, Công ty chưa hợp nhất đầy đủ KQKD của các công ty con. Sẽ không có gì để nói nếu việc điều chỉnh này không gây ảnh hưởng lớn đến KQKD năm trước, và không ít NĐT cho rằng: nếu biết có việc này, sẽ không bao giờ họ bán rẻ cổ phiếu của mình giai đoạn đầu năm 2009.

Năm 2009, trên sàn HOSE có 2 DN thực hiện điều chỉnh kết quả kinh doanh, làm số liệu năm 2008 có sự thay đổi lớn là CTCP Gemadept và CTCP Sonadezi Long Thành (mã SZL). Với trường hợp của GMD, lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ năm 2008 đã được điều chỉnh thay đổi từ lỗ 166,984 tỷ đồng sang lãi 31,807 tỷ đồng, do năm 2009, Công ty mới hợp nhất kết quả kinh doanh của CTCP Gemadept Vũng Tàu. Trường hợp của CTCP Sonadezi Long Thành, quỹ lợi nhuận sau thuế thời điểm cuối năm 2008 cũng được điều chỉnh tăng từ 55,115 tỷ đồng theo BCTC đã kiểm toán cũ sang 262,673 tỷ đồng, do Công ty thực hiện tạm phân bổ chi phí đầu tư kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Long Thành.

Với trường hợp của SZL, việc thay đổi chính sách hạch toán, ghi nhận doanh thu, chi phí… tạm thời có thể chấp nhận được, do có thể coi là việc phát sinh sau ngày lập BCTC. Tuy nhiên, với trường hợp của GMD, một số ý kiến cho rằng, việc điều chỉnh hồi tố như trên đã gây ảnh hưởng trọng yếu đến KQKD năm 2008, nhưng lại không được đề cập hoặc lượng hóa trong Báo cáo kiểm toán năm 2008 của GMD. Đây là điều là khó chấp nhận được.

Cụ thể, trong Thuyết minh BCTC kiểm toán năm 2008 của Gemadept, các công ty con chưa hợp nhất BCTC là: CTCP Cảng Quốc tế Gemadept Nhơn Hội, Công ty TNHH MTV Tiếp vận Gemadept, CTCP Gemadept Vũng Tàu, CTCP Tiếp vận và Cảng Quốc tế Hoa Sen Gemadept và CTCP Đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Gemadept. Trong đó, tính đến thời điểm này, yếu tố gây thay đổi lớn, mang tính ảnh hưởng trọng yếu đến KQKD năm 2008 của GMD chính là Gemadept Vũng Tàu. Theo giải thích của GMD, tại thời điểm lập BCTC năm, Gemadept Vũng Tàu chưa có BCTC năm do mới đi vào hoạt động và một số khoản mục phải chờ hướng dẫn của cơ quan chức năng. Giải thích này, xét dưới góc độ quyền lợi của DN thì không bị ảnh hưởng, nhưng dưới góc độ quyền lợi của NĐT, những người chịu ảnh hưởng khá nhiều bởi thông tin công bố về KQKD của DN thì lại phải chịu thiệt hại rất lớn. Theo phản ánh của một số NĐT, chính vì quá tin tưởng Báo cáo kiểm toán của DN, lại không được tiếp xúc đầy đủ hoạt động các công ty con của GMD nên họ đã phải chịu nhiều thiệt thòi.

ĐTCK đã ghi nhận phản ánh của một số NĐT về trường hợp kiểm toán của GMD với thái độ không mấy hài lòng sau khi GMD thông báo điều chỉnh lợi nhuận năm 2008. Theo họ, cổ đông chính là những người trả tiền cho kiểm toán, nhưng kiểm toán đã không làm hết trách nhiệm của mình, khiến họ không tiếp cận đầy đủ và chính xác tình hình tài chính DN lúc đó. Việc chưa hợp nhất KQKD năm 2008 của Gemadept Vũng Tàu có thể chấp nhận được, nếu thay vì chỉ đưa ra nhận xét hết sức chung chung như đã làm, kiểm toán đưa ra những con số và lượng hóa các tác động (nếu có, theo chuẩn mực kế toán) của các yếu tố chưa hợp nhất. Làm như vậy, những NĐT bình thường có thể có cái nhìn chính xác hơn về cổ phiếu GMD, chứ không phải bán tháo cố phiếu ở mức giá thậm chí dưới 20.000 đồng/cổ phiếu (cuối tháng 2/2009). Tất nhiên, không thể ngoại trừ tác động từ yếu tố thị trường chung (do VN-Index cũng ở trong thời kỳ giảm sâu), nhưng rõ ràng, sau khi thông tin về việc hạch toán lợi nhuận tại Gemadept Vũng Tàu được công bố tại phiên họp ĐHCĐ năm 2008 diễn ra sau đó, giá cổ phiếu GMD đã tăng khá mạnh, gây thiệt thòi cho những cổ đông cũ đã bán mất cổ phiếu GMD.

Quay trở lại với một trường hợp cũng khá điển hình về vấn đề này (nhưng ở khía cạnh tích cực hơn) là Báo cáo kiểm toán của VCG năm 2008 do Công ty TNHH Định giá và Kiểm toán Việt Nam (AVA) thực hiện. Với từng điểm ngoại trừ trong BCTC năm 2008 của VCG, AVA đều có lượng hóa chi tiết và giải thích về những tác động của các điểm ngoại trừ (nếu có) đến từng khoản mục trong BCTC của VCG. Đây chính là điểm khác biệt giữa 2 BCTC được lập bởi 2 công ty kiểm toán khác nhau. Không ít NĐT đặt câu hỏi: trách nhiệm của kiểm toán trong trường hợp của GMD đến đâu, và những NĐT đã chấp nhận bán giá thấp (do quá tin tưởng Báo cáo kiểm toán) liệu có được đền bù thiệt hại nếu họ kiện lại chính công ty kiểm toán?

Vấn đề NĐT bức xúc một lần nữa đòi hỏi chất lượng của các công ty kiểm toán cần được nâng cao hơn nữa. Trên thực tế, nếu kiểm toán không đưa ra được đánh giá của mình về các yếu tố có thể tác động làm thay đổi lợi nhuận (đặc biệt là tác động trọng yếu) thì rất có thể, sẽ gián tiếp tạo cơ hội cho chính DN “điều khiển” giá cổ phiếu do liên tục công bố con số lợi nhuận (lỗ) bất thường. Bởi vì, khi thông tin không hoàn chỉnh, ai có thể giúp cổ đông, NĐT biết và ngăn chặn tình trạng DN muốn điều khiển giá cổ phiếu bằng giấu lãi/ lỗ thông qua việc… chưa hợp nhất BCTC của một vài công ty con?

(Theo Đầu tư Chứng khoán)

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

CHÚC MỪNG ÔNG ĐẶNG THÁI HÙNG ĐƯỢC BỔ NHIỆM VỤ TRƯỞNG VỤ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN BỘ TÀI CHÍNH


Ngày 12/02/2010, Thứ trưởng Bộ Tài chính ông Trần Xuân Hà đã thay mặt Bộ trưởng Bộ Tài chính, trao quyết định bổ nhiệm PGS.TS Đặng Thái Hùng, giữ chức Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán Bộ Tài chính.

Thay mặt BCH Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), ông Bùi Văn Mai–Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký VACPA cùng cán bộ văn phòng Hội đã tặng hoa chúc mừng ông Đặng Thái Hùng và chúc tết Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ viên chức Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán nhân dịp đón mừng tin vui và mừng xuân mới 2010!


BBT-Web


Theo VACPA

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

“Kỳ vọng về sự phát triển mạnh mẽ của ngành kiểm toán độc lập, ngang tầm với các nước trong khu vực sau khi Luật kiểm toán độc lập đi vào cuộc sống”


Phỏng vấn PGS.TS Đặng Thái Hùng – Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chế độ Kế toán và kiểm toán - Bộ Tài chính

Tạp chí kế toán: Thưa ông, được biết, trong năm 2010, dự thảo Luật Kiểm toán độc lập (KTĐL) sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến. Xin ông giới thiệu sơ bộ về bản dự thảo này?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Theo chương trình xây dựng pháp luật, dự thảo Luật KTĐL sẽ trình Chính phủ xem xét vào tháng 4/2010 và trình Quốc hội thảo luận tại kỳ họp tháng 10/2010 và nếu thuận lợi sẽ được thông qua vào kỳ họp Quốc hội tháng 5 năm 2011. Bản dự thảo hiện nay được coi là dự thảo lần 1 của Bộ Tài chính (trên cơ sở dự thảo lần 8 của Ban soạn thảo đã được chỉnh sửa sau khi Bộ trưởng và tập thể lãnh đạo Bộ Tài chính cho ý kiến).

Dự thảo này hướng vào việc đáp ứng được 3 mục tiêu, yêu cầu. Một là, nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động KTĐL trong nền kinh tế quốc dân. Hai là, quy định rõ (ở tầm Luật) các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật như kiểm toán viên (KTV), doanh nghiệp kiểm toán (DNKT), đơn vị được kiểm toán …v.v. Ba là, tăng cường mở rộng) phạm vi các đối tượng kiểm toán theo luật định.

Dự thảo gồm 8 chương với 85 Điều: Chương 1- Những quy định chung gồm 12 Điều, quy định những vấn đề có tính chất nguyên tắc chung, chi phối toàn bộ nội dung của Luật. Chương 2- KTV hành nghề, trợ lý kiểm toán gồm 10 Điều, quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến trợ lý kiểm toán, KTV. Chương 3- DNKT gồm 31 Điều quy định cụ thể các nội dung liên quan đến DNKT. Chương 4- Quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán gồm 3 Điều, quy định đơn vị được kiểm toán thuộc đối tượng bắt buộc hoặc tự nguyện. Chương 5- Hoạt động hành nghề KTĐL gồm 5 mục với 15 Điều, quy định về hoạt động hành nghề của DNKT. Chương 6- Các quy định đối với kiểm toán BCTC của đơn vị có lợi ích công chúng gồm 6 Điều, quy định bổ sung đối với kiểm toán BCTC của các đơn vị có lợi ích công chúng. Chương 7- Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại gồm 3 mục với 15 Điều. Chương 8- Điều khoản thi hành gồm 2 Điều, quy định về hiệu lực thi hành; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Tạp chí kế toán: Thưa ông, trong quá trình soạn thảo, quy trình lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng điều chỉnh trong Luật được tiến hành như thế nào để đảm bảo Luật khi được ban hành sẽ bám sát thực tiễn hoạt động KTĐL và tạo điều kiện cho các đối tượng cạnh tranh bình đẳng?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Trong quá trình soạn thảo Luật KTĐL, Ban soạn thảo ngoài việc tuân thủ quy trình chung có lưu ý cả những tính đặc thù của lĩnh vực KTĐL. Quy trình soạn thảo và lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng được điều chỉnh có thể quy về sáu bước như sau:

Bước 1: Ban soạn thảo (với đầy đủ các thành phần liên quan) tiến hành dự thảo Luật, tổ chức thảo luận trong Ban soạn thảo kết hợp tổ chức trao đổi lấy ý kiến hợp tổ chức trao đổi lấy ý kiến các bên có liên quan;

Bước 2: Báo cáo tập thể lãnh đạo Bộ Tài chính xin ý kiến chỉ đạo những quan điểm tư tưởng và hướng soạn thảo;

Bước 3: Gửi dự thảo xin ý kiến tham gia và tổ chức hội thảo mở rộng theo từng nhóm đơn vị có liên quan như khối Bộ, ngành, cơ quan nhà nước; khối các DNKT và các đơn vị được kiểm toán; khối các cơ quan quản lý, nghiên cứu, đào tạo;… trong đó, đặc biệt là thông qua các hội nghề nghiệp (VAA, VACPA) để tổ chức lấy ý kiến rộng rãi các DNKT, đảm bảo đủ đại diện các DNKT có quy mô khác nhau, loại doanh nghiệp (DN) khác nhau (công ty TNHH; công ty hợp danh; DN tư nhân; DN theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đối với khối các đơn vị được kiểm toán, cũng tổ chức hội thảo lấy ý kiến tham gia của đầy đủ các đối tượng có liên quan (đối tượng bắt buộc và khuyên khích kiểm toán; DN có quy mô, sở hữu, lĩnh vực hoạt động khác nhau; đặc biệt là các DN đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, các đơn vị có lợi ích công chúng);

Bước 4: Tập hợp ý kiến tham gia để tiếp tục hoàn thiện dự thảo;

Bước 5: Tiếp tục xin ý kiến đối với các vấn đề, nội dung cần làm sáng tỏ hơn;

Bước 6: Lấy ý kiến thẩm định trình Chính phủ, Quốc hội.

Tạp chí kế toán: So với các văn bản dưới Luật (Nghị định của Chính phủ về KTĐL) đã ban hành trước đây, bản dự thảo này có những quy định mới gì?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: So với nội dung của các Nghị định của Chính phủ về KTĐL hiện hành, dự thảo Luật đã có sự bổ sung một số nội dung mới, như: Quy định việc cấp, đình chỉ giấy phép thành lập, hoạt động của DNKT và chứng chỉ KTV do Bộ Tài chính đản nhận nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ, phù hợp với loại hình DN có điều kiện này, tương tự như DN chứng khoán, DN bảo hiểm; Quy định tiêu chuẩn, quy định vốn tối thiểu của DNKT; Quy định kiểm toán báo cáo tài chính các đơn vị có lợi ích công chúng; Bổ sung đối tượng thuộc diện kiểm toán bắt buộc; Quy định về hoạt động kiểm toán có yếu tố nước ngoài; Quy định về thanh tra, xử phạt, giải quyết tranh chấp,…

Tạp chí kế toán: Được biết, dự thảo Luật KTĐL gần đây nhất có quy định về điều kiện thành lập DNKT, trong đó, phải có ít nhất năm người có chứng chỉ KTV, bao gồm cả giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và Chủ tịch Hội đồng thành viên. So với quy định trước đây ít nhất có ba người có chứng chỉ KTV), quy định tại dự thảo này gây nên quan ngại về việc sẽ hạn chế các DNKT có quy mô nhỏ, tạo ưu thế cạnh tranh cho các DN có quy mô lớn trong khi Việt Nam hiện chỉ có chưa đến 2.000 người có chứng chỉ KTV và nhu cầu dịch vụ KTĐL ngày càng lớn. Ông giải thích thế nào về sự thay đổi (nâng cao) tiêu chuẩn thành lập DNKT này?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Việc quy định quy mô DNKT tối thiểu có 5 KTV là phù hợp với thông lệ của nhiều nước trên thế giới. Quy định này đảm bảo cho DNKT có đủ lực lượng tối thiểu để quản lý, điều hành, phê duyệt báo cáo kiểm toán và thực thi công việc kiểm toán. Khi nghiên cứu, xây dựng, ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP về KTĐL (văn bản pháp lý cao nhất hiện hành về KTĐL) cũng đã tính đến vấn đề này, song do cần có thời gian hoàn thiện các điều kiện thực hiện (như tăng số lượng KTV có chứng chỉ; nâng cao trình độ quản lý, thực hiện kiểm toán,…) nên ở thời điểm đó chưa quy định như vậy. Hơn nữa, vì đây là văn bản Luật nên phải đảm bảo quy định mang tính ổn định lâu dài. Sau khi Luật được ban hành, công bố, có hiệu lực thi hành, sẽ xem xét cụ thể sẽ quy định một khoảng thời gian cần thiết cho việc chuyển đổi.

Tạp chí kế toán: Trong dự thảo Luật KTĐL, Nhà nước vẫn đảm nhiệm hầu hết các công việc đăng ký và quản lý hành nghề KTĐL, hội nghề nghiệp chủ yếu có vai trò cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, đạo đức của KTV hành nghề, giám sát và giúp đỡ hội viên hành nghề theo đúng quy định của pháp luật… Trong khi, theo thông lệ quốc tế, việc quản lý và đăng ký hành nghề kế toán, kiểm toán do hội nghề nghiệp đảm nhiệm. Liệu với quy định như vậy, Nhà nước có “bao sân” quá lớn đối với việc quản lý hành nghề KTĐL không?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Quan điểm chỉ đạo là trách nhiệm quản lý nhà nước là toàn diện và đầy đủ mọi mặt hoạt động trong lĩnh vực KTĐL. Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động nghề nghiệp trong một số lĩnh vực (trong đó có KTĐL) thì một số công việc nếu giao cho tổ chức nghề nghiệp quản lý và thực hiện sẽ phù hợp, thuận lợi và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc uỷ quyền những công việc gì sẽ tuỳ thuộc vào khả năng (nối dài cánh tay quản lý của Nhà nước) của Tổ chức nghề nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể.

Tạp chí kế toán: Ở vị trí đại diện cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực KTĐL, cơ quan soạn thảo Luật KTĐL, ông kỳ vọng gì khi Luật KTĐL đi vào cuộc sống?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Hoạt động KTĐL ở Việt Nam đã có quá trình 18 năm hình thành và phát triển, một quãng thời gian chưa hẳn là dài so với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển song cũng đã hội đủ các yếu tố để đánh giá, xem xét cho việc xây dựng, hình thành Luật KTĐL. Với những quy định điều chỉnh hoạt động KTĐL trong nền kinh tế thị trường ở tầng pháp lý cao nhất và đầy đủ, phù hợp nhất. Hơn nữa, mức độ hội nhập trong lĩnh vực KTĐL ở Việt Namvới quốc tế cũng đã dần tới mức hoàn thiện.

Vì những lý do đó, tôi cũng như những người quan tâm đến ngành KTĐL của Việt Nam có quyền kỳ vọng về sự phát triển ổn định, vững chắc, mạnh mẽ của ngành KTĐL ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một ngày không xa sau khi Luật KTĐL đi vào cuộc sống.

(Theo Tạp chí Kế toán)

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2010

Phân biệt Kiểm toán độc lập-Kiểm toán Nhà nước-Kiểm toán nội bộ

Kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ tư vấn được pháp luật thừa nhận và quản lý chặt chẽ. Quan hệ giữa các chủ thể kiểm toán (kiểm toán viên/tổ chức kiểm toán và đơn vị kinh tế được kiểm toán) là quan hệ mua bán dịch vụ, đơn vị kinh tế được kiểm toán trả phí dịch vụ cho các kiểm toán viên theo thoả thuận trong hợp đồng kiểm toán. Các kiểm toán viên độc lập là những người hội đủ các tiêu chuẩn theo chuẩn mực kiểm toán và các qui định pháp lý về hành nghề kiểm toán.
Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính, thực hiện các dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán. Ngoài ra, tuỳ từng thời kỳ kinh tế và yêu cầu cụ thể của khách hàng, kiểm toán viên độc lập còn thực hiện các dịch vụ khác như kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và đặc biệt là kiểm toán các quyết toán giá trị công trình xây dựng cơ bản hoàn thành, xác định giá trị vốn góp.
Hoạt động kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán rất phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển, vì thế hoạt động kiểm toán nói chung thường được coi là hoạt động kiểm toán độc lập. Trong hoạt động kiểm toán độc lập thì kiểm toán báo cáo tài chính là chủ yếu, theo đó đề cập về kiểm toán độc lập tức là kiểm toán độc lập báo cáo tài chính.
Kiểm toán Nhà nước
Nếu kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ và thu phí thì kiểm toán nhà nước lại là công việc kiểm toán do cơ quan kiểm toán nhà nước tiến hành theo luật định và không thu phí kiểm toán.
Nội dung của Kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp hành các chính sách luật lệ và các chế độ của Nhà nước và đánh giá sự hữu hiệu, hiệu quả hoạt động tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước. Cơ quan kiểm toán nhà nước là một tổ chức trong bộ máy quản lý của Nhà nước. Kiểm toán viên Nhà nước là các viên chức Nhà nước.
Kiểm toán nhà nước nhận xét, đánh giá và xác nhận việc chấp hành các chính sách, chế độ tài chính, kế toán ở đơn vị. Bên cạnh đó kiểm toán Nhà nước còn có quyền góp ý và yêu cầu các đơn vị được kiểm toán sửa chữa sai phạm và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý tài chính kế toán cần thiết.
Kiểm toán nội bộ
Là loại kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành theo yêu cầu của Giám đốc doanh nghiệp hoặc thủ trưởng đơn vị. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 610 thì kiểm toán nội bộ “Là bộ phận kiểm soát trong đơn vị, thực hiện kiểm tra vì lợi ích của đơn vị này. Trong số các công việc thực hiện, chủ yếu gồm kiểm tra, đánh giá và kiểm soát tính thích đáng và hiệu quả của các hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”
Chức năng của kiểm toán nội bộ bao gồm kiểm tra, xác nhân và đánh giá. Nội dung kiểm toán có thể một số hoặc các nội dung như kiểm toán báo cáo tài chính; kiểm toán báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp và các đơn vị thành viên; kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Trên thực tế phạm vi của kiểm toán nội bộ thay đổi và tuỳ thuộc vào qui mô, cơ cấu của đơn vị cũng như yêu cầu của các nhà quản lý doanh nghiệp.
Phân biệt ba loại kiểm toán này theo chủ thể kiểm toán.

Ngoài ra, còn có một cách phân loại kiểm toán khác là phân loại theo chức năng, theo cách phân loại này thì sẽ có 3 loại kiểm toán là kiểm toán báo cáo tài chình, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ.

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2010

Nhật truất ngôi Trung Quốc về trái phiếu của Mỹ

picture

Tính đến tháng 12/2009, tổng giá trị trái phiếu Mỹ mà Nhật Bản nắm giữ đã lên tới 768,8 tỷ USD.

Tính đến cuối năm 2009, Nhật Bản đã thay thế Trung Quốc trở thành nước nắm giữ nhiều nhất trái phiếu của Mỹ

Tính đến cuối năm 2009, Nhật Bản đã thay thế Trung Quốc trở thành nước nắm giữ nhiều nhất trái phiếu của Mỹ.

Đây là lần đầu tiên Nhật Bản giành lại vị trí số một sau khi để rơi vào tay Trung Quốc tháng 9/2008.

Báo cáo của Bộ Tài chính Mỹ cho biết tính đến tháng 12/2009, tổng giá trị trái phiếu Mỹ mà Nhật Bản nắm giữ đã lên tới 768,8 tỷ USD, tăng 11,5 tỷ USD so với tháng trước, trong khi lượng trái phiếu Mỹ do Trung Quốc nắm giữ trị giá 755,4 tỷ USD, giảm 34,2 tỷ USD.

Theo các nhà phân tích, có thể Trung Quốc giảm bớt việc nắm giữ các khoản nợ của Mỹ nhằm phản ứng lại những nỗ lực của Washington điều chỉnh cán cân thương mại với Trung Quốc thông qua việc đánh thuế chống bán phá giá trong một số lĩnh vực thương mại nhất định.

Nếu Trung Quốc tiếp tục giảm lượng trái phiếu Mỹ mà nước này nắm giữ, điều đó có thể ảnh hưởng tới chính sách của Washington tăng phát hành trái phiếu để hỗ trợ nguồn tài chính cho các biện pháp kích thích.

(TTXVN)

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2010

Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế: Việt Nam và sự khác biệt


Trong những năm gần đây, chế độ kế toán và chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) đã có những thay đổi rất lớn, thậm chí chúng ta đã dùng một số chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/ IFRS) áp dụng cho Việt Nam.

Tuy nhiên, vẫn còn có những điểm khác nhau rất đáng kể giữa VAS và IFRS. Trong bài viết này tác giả chỉ đề cập những khác nhau mà chúng có thể ảnh hưởng lớn đến các quyết định của nhà đầu tư.

Trần Xuân Nam (MBA)

1.Các vấn đề chung và báo cáo kết quả kinh doanh

1.1 Các báo cáo tài chính giữa niên độ. Trong các chuẩn mực VAS 02, 07, 23 liên quan đến việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá chứng khoán, hay các điều chỉnh lãi lỗ, phần của nhà đầu tư trong các công ty liên kết, liên doanh và các sự kiện phát sinh sau ngày của bảng cân đối kế toán chỉ điều chỉnh cho báo cáo cuối niên độ. Nghĩa là nếu các sự kiện này phát sinh trong các kỳ giữa niên độ, sẽ không được ghi nhận trong các báo cáo giữa niên độ mà chỉ trình bày ở các báo cáo cuối năm. Trong các tình huống này, IAS yêu cầu phải điều chỉnh vào ngày của bảng cân đối kế toán (giữa và cuối niên độ).

1.2. Báo cáo tài chính hợp nhất.

Theo VAS, các báo cáo tài chính hợp nhất chỉ bắt buộc vào cuối năm, các báo cáo giữa niên độ không bắt buộc mà chỉ khuyến khích lập báo cáo tài chính hợp nhất, các tập đoàn chỉ phải công bố báo cáo riêng của công ty mẹ. Thực tế, năm 2008 đã phát sinh trường hợp công ty mẹ VinashinPetro có kết quả kinh doanh rất tốt, nhưng công ty con Đại Nam 100% vốn của VinashinPetro lại bị lỗ rất nặng. Theo VAS, trong năm tập đoàn này chỉ công bố các báo cáo tài chính giữa niên độ của công ty mẹ với kết quả kinh doanh rất tốt. Giá cổ phiếu của VinashinPetro đã tăng rất mạnh. Khi báo cáo tài chính hợp nhất với kết quả rất xấu được công bố, giá cổ phiếu của Công ty đã giảm gần như rơi tự do. Theo IAS/IFRS, các doanh nghiệp phải điều chỉnh, lập và công bố các báo cáo tài chính hợp nhất cho các báo cáo tài chính năm cũng như giữa niên độ.

1.3. Đo lường và trình bày lãi trên mỗi cổ phiến (EPS). EPS là một trong những chi tiêu rất quan trọng và phổ biến mà nó ảnh hưởng rất lớn đến giá cổ phiếu của công ty. Theo VAS, lãi được dùng để tính EPS bao gồm cả các khoản lãi khoản lãi không dành cho các cổ đông phổ thông như lãi để trích quỹ khen thưởng, phúc lợi cho nhân viên và các quỹ khen thưởng không phải cho các cổ đông. Quy định này của VAS không phản ánh trung thực và hợp lý kết quả và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Theo IAS, những khoản thưởng này sẽ được ánh vào chi phí để trừ ra khỏi lãi cho việc tính EPS.

Ví dụ, năm 2008, Công ty Vinamilk và Than Núi Béo đã trích lập quỹ khen thưởng phúc lợi tương ứng 10% và 30% lợi nhuận thuần sau thuế, do vậy EPS của các công ty này công bố trên các báo cáo tài chính theo VAS là cao hơn so với EPS tính theo IFRS tương ứng là 10% và 30%.

1.4. EPS pha loãng (Diluted EPS) là một chỉ tiêu rất quan trọng cho các nhà đầu tư để dự đoán EPS của doanh nghiệp trong những năm tới. Mặc dù trong VAS 30 có yêu cầu chỉ tiêu EPS suy giảm (pha loãng) nhưng trong thông tư hướng dẫn không quy định rõ ràng và trong biểu mẫu thống nhất của báo cáo kết quả kinh doanh không có chỉ tiêu này, nên các doanh nghiệp không trình bày EPS pha loãng. IAS quy định EPS cơ bản và EPS pha loãng phải được trình bày trên bề mặt của Báo cáo kết quả với mức độ nổi bật như nhau.

1.5. Chia cổ tức bằng cổ phiếu, khác với IAS, VAS và thực tế các công ty không điều chỉnh hồi tố EPS cho những năm trước đó. Trong những trường hợp này, việc phân tích xu hướng EPS qua các năm theo số liệu EPS gốc (không điều chỉnh) sẽ bị sai lệnh rất nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến các quyết định của nhà đầu tư.

1.6. Nhận cổ tức bằng cổ phiếu. VAS ghi là một khoản thu nhập theo mệnh giá khoản cổ tức được nhận. Tuy nhiên, theo IAS, kế toán không ghi tăng thu nhập vì bản chất của nó không hề tăng thu nhập (giá tham chiếu giảm tương ứng), IAS chỉ ghi một bút toán ghi nhớ để ghi tăng số lượng cổ phiếu đầu tư tăng lên và ghi giảm giá vốn của mỗi cổ phiếu đầu tư xuống tương ứng, nhưng tổng giá vốn cổ phiếu không đổi.

1.7. Khái niệm lãi hoạt động kinh doanh (Operating income). Để việc so sánh và quản trị được tốt hơn, IAS định nghĩa lãi hoạt động kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, nó không bao gồm các khoản thu nhập và chi phí tài chính như của VAS.

2. So Sánh giũa VAS và IAS trong các khoản mục của bảng cân đối kế toán

2.1. Thành phẩm, theo IAS và VAS được tính theo phương pháp giá thành thông thường (Normal costing) nghĩa là chi phí sản xuất chung phân bổ theo mức độ hoạt động bình thường của doanh nghiệp nhưng trên thực tế đa phần công ty Việt Nam vẫn tính giá thành theo phương pháp thực tế, phân bổ chi phí chung theo thực tế hàng tháng. Điều này làm cho giá thành sản phẩm có thể biến động rất lớn giữa các tháng, nên tác dụng của giá thành trong việc tham chiếu cho việc định giá bán bị hạn chế.

2.2. Tài sản sinh vật và các sản phẩm nông nghiệp thu hoạch từ các tài sản sinh vật của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông (lâm, ngư) nghiệp, theo VAS chỉ được tính theo giá phí, nhưng IAS 41 quy định tính theo giá trị hợp lý (giá thị trường) trừ đi chi phí điểm bán.

2.3.Tài sản cố định hữu hình: IAS cho phép sử dụng mô hình giá trị hợp lý của tài sản cố định nếu nó có thể đo lường một cách đáng tin cậy hoặc sử dụng mô hình giá vốn như VAS. Nếu sử dụng mô hình giá trị hợp lý, giá trị thay đổi của tài sản cố định được ghi tăng, giảm vốn chủ sở hữu, không ghi vào lãi lỗ. Tuy nhiên, nếu dùng mô hình giá trị hợp lý, doanh nghiệp vẫn phải báo cáo cả giá vốn để nhà đầu tư có thêm thông tin tham chiếu.

2.4. Bất động sản đầu tư, IAS quy định doanh nghiệp có thể dùng mô hình giá trị hợp lý để đo lường giá trị bất động sản đầu tư trừ khi nó không thể đo lường một cách đáng tin cậy, do vậy phải dùng mô hình giá phí như VAS.

Theo mô hình giá trị hợp lý, sự thay đổi của giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư được ghi vào lãi lỗ trong báo cáo kết quả. Tuy nhiên, khi dùng mô hình giá trị hợp lý, trong phần thuyết minh, doanh nghiệp phải thuyết minh giá gốc của nó để nhà đầu tư có thể tự đánh giá và so sánh.

2.5. Các khoản lỗ giảm giá trị tài sản (Impairment loss): IAS quy định đối với tài sản cố định hữu hình, vô hình hay tài sản tài chính khi có khoản giảm giá trị tài sản phát sinh (do tài sản bị hư hỏng, do tiến bộ của kỹ thuật...), nó phải được ghi nhận ngay vào báo cáo tài chính kỳ đó. VAS không yêu cầu ghi nhận các sự kiện này. Điều này làm báo cáo tài chính theo VAS giảm đi tính đáng tin cậy, do nó không phản ánh đúng giá trị của doanh nghiệp.

2.6. Các quỹ không thuộc vốn chủ sở hữu: Khác với VAS, IAS yêu cầu vốn chủ sở hữu không bao gồm các quỹ không thuộc các cổ đông như quỹ khen thưởng phúc lợi. Các khoản khen thưởng phúc lợi, kể cả các chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên cũng được ghi nhận và báo cáo là chi phí nhân viên và ghi nợ phải trả cho nhân viên chứ không ghi tăng vốn chủ sở hữu. Vì các quỹ khen thưởng, phúc lợi nhân viên thường khá lớn chiếm từ 5 -15% tổng số lãi thuần sau thuế nên việc báo cáo các quỹ này trong vốn chủ sở hữu làm cho các báo cáo tài chính theo VAS bị méo mó rất nhiều, ảnh hưởng lớn đến các chỉ số tài chính quan trọng như ROE và do vậy có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định của nhà đầu tư.

Theo ĐTCK

Phác hoạ cuộc kiểm toán và các vấn đề về kiểm toán doanh thu và hệ thống kiểm soát nội bộ

Phỏng vấn Mike Schamberger - Giám đốc quản lý rủi ro của Grant Thornton LLP chuyên về cung cấp dịch vụ cho các Doanh nghiệp hoạt động trong thị trường Công nghệ cao, gồm cả Doanh nghiệp Khối Nhà nước và tư nhân thuộc ngành Bưu chính viễn thông, Phần mềm, Phần cứng, Dịch vụ tư vấn Công nghệ thông tin và Công nghệ Sinh học.

Ông là người đứng đầu của Văn phòng “Technology Industry Practice” tại Chicago, và là một trong 4 thành viên của “ Grant Thornton’s National Technology Industry Practice Leadership Team”.

Sau đây là Bài phỏng vấn của RevenueRecognition.com liên quan đến các vấn đề chung của cuộc kiểm toán, kiểm toán doanh thu và hệ thống kiếm soát nội bộ.

Câu hỏi: Khách hàng cần chuẩn bị những gì trước khi các Kiểm toán viên tới làm việc?

Trả lời: Trước khi Kiểm toán viên tới, thì điều đầu tiên là khách hàng cần có một hệ thống Kiểm soát nội bộ đủ mạnh để đảm bảo rằng các Báo cáo tài chính không bao gồm các sai sót trọng yếu. Thứ hai, lập Kế hoạch là nhân tố chính dẫn tới sự thành công của quá trình Kiểm toán. Trước khi bắt đầu Công việc Kiểm toán (Fieldwork), Khách hàng phải chắc chắn rằng Kiểm toán viên của họ sẽ gặp gỡ Ban giám đốc và các thành viên phòng Kế toán để xác định thời gian hoàn thành Công việc Kiểm toán. Trong suốt quá trình Họp để lập Kế hoạch Kiểm toán, Kiểm toán viên trình Ban giám đốc Bản Kế hoạch làm việc (Listing of schedules) mà khách hàng cần chuẩn bị.

Bản Kế hoạch này phải được hoàn thành trước khi cuộc Kiểm toán bắt đầu và sẽ bao gồm: Các bảng tính (spreadsheets), Chứng từ gốc (source documents), Biên bản Họp Hội đồng quản trị, các hợp đồng quan trọng - Toàn bộ các tài liệu dùng để lập Báo cáo Tài chính. Đây là bản danh sách rất dài và đòi hỏi khách hàng rất nhiều thời gian để hoàn thành.

Câu hỏi: Những lỗi nào Khách hàng dễ mắc phải nhất khi bắt đầu cuộc Kiểm toán?

Trả lời: Lỗi phổ biến nhất là Khách hàng chưa khoá sổ Kế toán và hoàn thành các điều chỉnh liên quan tới tài khoản Kế toán. Dẫn tới, quá trình Kiểm toán trở nên thiếu hiệu quả và thông thường là mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành so với ước tính ban đầu. Và khi có sự hiện diện của Kiểm toán, khách hàng có thể sẽ khoá sổ kế toán một cách vội vàng, đồng thời cũng chưa hoàn thành các điều chỉnh để xác định số dư tài khoản cuối cùng một cách chặt chẽ. Khi điều này xảy ra, thì khả năng sẽ có các điều chỉnh trọng yếu liên quan tới Báo cáo tài chính là cần thiết.

Một lỗi thứ hai là khách hàng không đáp ứng hết các Kế hoạch về thời gian biểu làm việc ban đầu như yêu cầu của Kiểm toán viên. Theo kinh nghiệm, tôi đã gặp rất nhiều trường hợp, khi công việc Kiểm toán bắt đầu thì khách hàng mới chỉ hoàn thành một phần tư yêu cầu, phần còn lại được cung cấp thêm trong quá trình kiểm toán. Chúng tôi thường kết thúc các công việc kiểm toán ban đầu và sau đó phải đợi khách hàng hoàn thiện nốt các phần việc còn lại. Điều này, lại một lần nữa, làm cho chúng tôi trở nên thiếu hiệu quả và cuộc kiểm toán sẽ kéo dài hơn. Các doanh nghiệp cần lưu ý rằng trong suốt mùa kiểm toán bận rộn, các Kiểm toán viên sẽ phải làm việc trong khoản từ 60 đến 80 giờ một tuần và thường kết thúc công việc kiểm toán tại khách hàng sớm hơn so với khách hàng dự kiến.


Câu hỏi: Kiểm toán viên thường quan tâm đến vấn đề nào, và vấn đề nào thường cần nhiều thời gian nhất?

Trả lời: Hai vấn đề cần nhiều thời gian nhất khi Kiểm toán các Công ty về Công nghệ là Doanh thu và nợ/vốn. Doanh thu cần nhiều thời gian để kiểm toán là do khách hàng phải công bố chính thức và giải thích các vấn đề liên quan đến xử lý doanh thu ra công chúng dẫn tới rủi ro trong việc có sai sót trọng yếu tăng lên. Kiểm tra thông thường bao gồm việc chọn một số hợp đồng có trên sổ sách trong năm và xem xét tính đúng đắn của việc ghi nhận doanh thu của các hợp đồng này. Việc kiểm tra doanh thu bao gồm: Đọc kỹ hợp đồng và thu thập các tài liệu hỗ trợ. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng ở các công ty Công nghệ cao cấu trúc vốn/nợ đặc biệt phức tạp hơn là ở các ngành khác - điều này làm tăng khả năng dẫn tới các sai sót. Các công ty Công nghệ có khuynh hướng sử dụng cả vốn vay và vốn huy động để đầu tư, có thể bao gồm các công cụ phái sinh, hợp đồng quyền chọn, chứng chỉ quỹ và hợp đồng quyền bán/mua. Kế toán trong lĩnh vực này là rất phức tạp - chúng tôi gọi nó là kế toán siêu cao cấp (hyper-complex accounting).

Câu hỏi: Ngài có thể kể một chút về quy trình kiểm toán việc ghi nhận doanh thu?

Trả lời: Việc đầu tiên là xem xét chính sách và thủ tục ghi nhận doanh thu của Công ty để đảm bảo rằng chúng phù hợp với các quy định kế toán đang được áp dụng. Một khi kiểm toán viên cảm thấy yên tâm rằng các chính sách và các thủ tục trên là phù hợp, việc kiểm tra chi tiết tới hợp đồng sẽ được thực hiện. Thông thường Kiểm toán viên sẽ chọn lựa các hợp đồng mà theo họ là trọng yếu - khái niệm này thay đổi tuỳ vào từng công ty. Và sau đó, Kiểm toán viên sẽ đọc các hợp đồng này cộng thêm cả các phụ lục hợp đồng được lập trong suốt năm. Kiểm toán viên sẽ kiểm tra để đảm bảo rằng doanh thu được ghi nhận trên Báo cáo tài chính một cách đúng đắn. Kiểm toán viên cũng kiểm toán luôn cả các doanh thu chưa thực hiện được ghi nhận vào doanh thu trong năm.

Thêm vào đó, KTV cũng sẽ lựa chọn các hợp đồng nhỏ hơn để kiểm tra, mặc dù chúng không phải là trọng yếu, để đảm bảo rằng doanh thu của các hợp đồng này cũng được ghi nhận một cách chính xác.

Câu hỏi: Điều luật Sarbanes-Oxley (SOX) (Đạo luật yêu cầu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Mỹ) làm cho quá trình này đơn giản hơn hay phức tạp hơn, thưa ông?

Trả lời: Với điều luật Sarbanes-Oxley quá trình này trở lên đơn giản hơn một chút vì các Công ty hiện nay đã phác thảo các chính sách và thủ tục ghi nhận doanh thu và các quy định liên quan đến từng trường hợp ghi nhận doanh thu cụ thể. Những điều này đã làm tăng các bằng chứng trợ giúp cho việc đảm bảo rằng doanh thu đã được ghi nhận đúng đắn. Hơn nữa, chính sách ghi nhận doanh thu đã được truyền đạt cho bộ phận bán hàng. Điều tôi nhận thấy trong các thông lệ tốt nhất ngày nay là các nhân viên bán hàng hiểu được việc ghi nhận doanh thu và thậm chí các thay đổi nhỏ trong hợp đồng có thể có ảnh hưởng lớn tới việc ghi nhận doanh thu như thế nào?

Câu hỏi: Tại sao Ông lại nghĩ vậy?

Trả lời: Tôi nghĩ đó là kết quả của điều luật Sarbanes-Oxley. Rất nhiều Công ty đại chúng đang nỗ lực để đào tạo lực lượng bán hàng của họ.

Câu hỏi: Vấn đề nào thường là phức tạp nhất trong cuộc kiểm toán?

Trả lời: Không có vấn đề nào cụ thể, mà cuộc kiểm toán có thể trở lên phức tạp một cách bất ngờ. Ví dụ, một công ty tham gia một hợp đồng đặc biệt mà không hiểu thấu đáo các hệ quả kế toán của hợp đồng này. Không may, thường là sự cố chỉ xảy ra khi bộ phận quản lý khoá sổ và đột nhiên phát hiện ra vấn đề - hoặc tồi tệ hơn - các Kiểm toán viên phát hiện ra vấn đề mà khách hàng không biết là vấn đề này tồn tại. Khi điều này xảy ra, các Kiểm toán viên cấp cao, các trưởng đoàn hoặc giám đốc cuộc kiểm toán (Audit partner) cần dành nhiều thời gian hơn để tìm hiểu và giải quyết tình huống này. Các vấn đề này cần đặc biệt chú ý đối với các nhà đầu tư áp dụng phương pháp phân tích kỹ thuật, làm tốn thêm nhiều thời gian và công sức.

Câu hỏi: Kiểm toán viên có vai trò gì trong việc giúp khách hàng cải thiện quy trình làm việc của họ hay không?

Trả lời: Có chứ. Khi chúng tôi bắt gặp các chính sách và thủ tục cần phải cập nhật, hoặc chúng tôi thấy có các thông lệ tốt có thể đem lại lợi ích cho khách hàng, thì chúng tôi sẽ đưa các vấn đề này vào thư quản lý trình cho Ban giám đốc của Công ty. Đó là một phần công việc bình thường trong quá trình của Kiểm toán.

Câu hỏi: Với điều luật Sarbanes-Oxley thì vai trò của kiểm toán viên có sự thay đổi căn bản nào?

Trả lời: Với điều luật Sarbanes-Oxley thì vai trò của kiểm toán viên có sự thay đổi căn bản là ở chỗ, đối với các khách hàng sớm áp dụng điều luật , các kiểm toán viên cần phải đưa ra ý kiến về các đánh giá của Ban giám đốc và ý kiến về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng. Điều luật Sarbanes-Oxley trước đây thì không quy định điều này.

Câu hỏi: Ngài đã nói khá lâu về điều luật Sarbanes-Oxley, chúng ta sẽ kết thúc chủ đề này với một câu hỏi. Liệu các Công ty đại hiện nay có hoạt động tốt hơn với điều luật Sarbanes-Oxley và họ có cảm thấy thoải mái với điều luật này hay không?

Trả lời: Câu trả lời còn tuỳ thuộc vào các Công ty. Những Công ty đã nhanh chóng áp dụng các quy định điều luật SOX 404 trong vài năm cảm thấy khá thoải mái. Họ hiểu rõ các quy định, họ có sẵn hệ thống kiểm soát của mình và đã được lập thành văn bản. Và họ đã có thể giao trách nhiệm quy định trong SOX 404 tới các cấp quản lý và nhân viên một các thích hợp. Về tổng thể, các công ty sớm áp dụng đạo luật này thích ứng khá nhanh các yêu cầu của luật đối với Ban giám đốc, đối với Kiểm toán viên và mối liên hệ giữa kiểm toán viên với Ban giám đốc.

Sẽ có sự ngập ngừng và lo lắng đối với các Công ty chưa sớm áp dụng điều luật. Các công ty này sẽ phải tuân thủ điều luật Sarbanes-Oxley 404 lần đầu tiên vào năm 2007, và cho kỳ kiểm toán đầu tiên của họ vào năm 2008. Một số cơ quan Công vụ đã cùng làm việc nhằm đưa ra các chỉ dẫn cho các Công ty này. Uỷ ban chứng khoán quốc gia (SEC) và ban giám sát kế toán các công ty đại chúng (PCAOB – The Public Company Accounting Oversight Board) đang xem xét các hướng dẫn trên và Uỷ ban quốc tế về kiểm soát nội bộ (“COSO”) mới đây đã đưa ra một bản hướng dẫn thực hiện cho các doanh nghiệp nhỏ với tên gọi: “ Kiểm soát nội bộ dựa trên Báo cáo tài chính - hướng dẫn dành cho các Công ty Đại chúng loại nhỏ”.

Câu hỏi: Vậy rốt cuộc là có sự chỉ dẫn nào để các Công ty tư nhân làm theo hay không?

Trả lời: Một số doanh nghiệp tư nhân tình nguyện áp dụng SOX 404. tuy nhiện hiện chưa có một điều luật nào bắt buộc các Công ty này phải chấp hành SOX 404. Hiện nay, với các Công ty tư nhân điều luật này được xem là thông lệ tốt nhất.

Nguồn: Webketoan

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2010

Soi kỹ BCTC để đo sức khỏe doanh nghiệp

Xem hìnhNhiều NĐT chỉ nhìn lướt con số doanh thu, lợi nhuận của các DN niêm yết, nhất là những DN có cổ phiếu được coi là ''hàng nóng'' trên thị trường càng dễ bị ''bỏ qua''.

Trong khi đó, chính sách điều hành, diễn biến kinh tế trong và ngoài nước năm qua biến động nhanh, tác động rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp, để nắm bắt và phán đoán được sức khỏe DN năm 2010, “soi” kỹ báo cáo tài chính năm 2009 là điều được ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó tổng giám đốc Công ty kiểm toán AASC - đơn vị kiểm toán cho nhiều DN niêm yết khuyến nghị.

Năm 2009 một số DN (nhất là DN bất động sản) có xu hướng đẩy mạnh lợi nhuận để hưởng giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), kiểm toán chấp nhận trong những trường hợp nào, trường hợp nào NĐT cần chú ý?

Theo hướng dẫn tại Thông tư 03/2009/TT-BTC ngày 13/01/2009 của BTC, các DN nhỏ và vừa (vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân trong năm không quá 300 người) được giảm thuế 30% thuế TNDN phải nộp trong năm 2009. Để có thể tối đa hóa lợi ích từ chính sách ưu đãi này của Chính phủ, một số DN đã cố gắng điều chỉnh kết quả kinh doanh của mình để có được số thuế phải nộp thấp nhất. Hình thức điều chỉnh phổ biến mà các DN thường sử dụng là tối đa hóa doanh thu và/hoặc tối thiểu hóa chi phí để lợi nhuận năm 2009 đạt mức cao nhất. Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên (KTV) chỉ chấp nhận các khoản doanh thu có đầy đủ cơ sở ghi nhận theo các chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành và đề nghị DN điều chỉnh các khoản doanh thu ghi nhận trước không có căn cứ. Đồng thời, KTV cũng xem xét các khoản chi phí liên quan đến năm 2009, nhưng chưa ghi nhận trong BCTC năm 2009, nhất là các khoản chi phí trích lập dự phòng, trích trước chi phí lãi vay… và đề nghị DN điều chỉnh.

Một số DN thực hiện việc san bớt lợi nhuận sang các quý trong năm 2010, , nhất là khi cuối năm TTCK không máy thuận lợi cho giá cổ phiếu, khi đọc BCTC, NĐT nên lưu tâm vấn đề gì, thưa ông?

Một số DN không được miễn giảm thuế TNDN và có kết quả kinh doanh đột biến trong năm 2009 lại muốn chuyển bớt lợi nhuận sang năm sau để có được bức tranh tài chính đẹp qua các năm thường có xu hướng ghi nhận không hết doanh thu trong năm hoặc ghi tăng chi phí không liên quan đến năm 2009. KTV sẽ phải tìm ra các khoản doanh thu năm 2009 chưa được hạch toán và các khoản chi phí không liên quan đến năm 2009 hoặc không đảm bảo nguyên tắc phù hợp và đề nghị DN điều chỉnh trên BCTC. Nếu phát hiện các sai sót là trọng yếu và ảnh hưởng tới quyết định của người đọc BCTC, nhưng DN không điều chỉnh, thì KTV sẽ đưa ra ý kiến ngoại trừ đối với BCTC của DN. Trong các trường hợp Báo cáo kiểm toán (BCKT) có ý kiến ngoại trừ, NĐT cần xem xét mức độ ảnh hưởng của nội dung ngoại trừ đến BCTC của DN.

Đối với các NĐT, có một vấn đề mà chúng tôi cũng hết sức lưu ý người đọc BCTC là việc áp dụng nhất quán các chính sách kế toán của DN năm 2009 so với năm 2008, do việc thay đổi chính sách kế toán áp dụng có thể sẽ làm ảnh hưởng đáng kể tới các con số được phản ánh trên BCTC. Do vậy, NĐT nên giành sự quan tâm đáng kể cho phần Thuyết minh BCTC hơn là chỉ quan tâm đến các con số trên BCTC.

Trong các BCTC năm 2009, lợi nhuận quý III, quý IV của nhiều DN chênh nhau rất xa, NĐT nên lưu ý những gì?

Thông thường có một số DN có kết quả kinh doanh không đồng đều giữa các quý, nhất là các DN có chu kỳ kinh doanh mang tính thời vụ như: DN kinh doanh sản phẩm ngành nông nghiệp, DN bánh kẹo, DN thủy điện… NĐT cần xem xét đến chu kỳ kinh doanh của DN thông qua việc xem xét BCTC từng quý của các năm trước trên các website của DN hoặc các CTCK.

Tuy nhiên, NĐT cũng cần phải xem xét sự tác động của các yếu tố môi trường kinh doanh tới hoạt động của DN như giá cả vật tư, hàng hóa, tỷ giá ngoại tệ và biến động của TTCK, nhất là trong năm 2008 và 2009, khi mà nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến một số DN phải trích lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Dầu thực vật Tường An, DN kinh doanh thép), trích lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư (các CTCK và các DN có tham gia đầu tư tài chính lớn). Từ đó, dẫn đến kết quả kinh doanh giữa các quý và giữa các năm của DN không đồng đều. Trong các trường hợp này, NĐT cần xem xét về biến động giá của vật tư, hàng hóa, tỷ giá trên các trang thông tin về giá cả thị trường và tìm hiểu rõ giá gốc của các khoản đầu tư tài chính mà DN đang nắm giữ trong thuyết minh BCTC của DN để xác định mức độ ảnh hưởng của các biến động nêu trên đến BCTC của DN.

Xin ông cho biết, những vấn đề kiểm toán thường gặp và phải ngoại trừ trong BCTC 2009?

Trong quá trình kiểm toán, một số vấn đề chúng tôi thường phải ngoại trừ gồm DN có kết quả kinh doanh không như mong muốn, không trích lập dự phòng các khoản đầu tư chứng khoán, dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng giảm giá hàng tồn kho vào chi phí trong năm. Một số khoản đầu tư chứng khoán không có giá giao dịch trên thị trường theo quy định thì DN không phải trích lập dự phòng, nhưng KTV nhận thấy, giá trị thực tế của khoản đầu tư (vào giai đoạn thị trường sôi động) nhỏ hơn rất nhiều so với giá ghi sổ kế toán. Một số công ty đại chúng phát hành tăng vốn điều lệ không được UBCK cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng. Một số DN hạch toán doanh thu không theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.

(Theo tinnhanhchungkhoan.vn)

Đơn vị kiểm toán không được mua chứng khoán của đối tượng kiểm toán

Doanh nghiệp kiểm toán mua, bán cổ phiếu, trái phiếu, tài sản của đơn vị được kiểm toán thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.


Nội dung theo dự thảo Luật Liểm toán độc lập từ Bộ Tài Chính vừa ban hành.
Theo đó, doanh nghiệp kiểm toán mua, bán cổ phiếu, trái phiếu, tài sản của đơn vị được kiểm toán thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; trường hợp vi phạm nhiều lần thì bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

Nếu CTKT thông tin, phóng đại, quảng cáo sai sự thật về trình độ, kinh nghiệm và khả năng cung cấp dịch vụ của kiểm toán viên và DN kiểm toán… thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; trường hợp vi phạm nhiều lần thì bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

Kiểm toán viên tự mình hoặc thay mặt bên thứ ba thực hiện các dịch vụ mà DN kiểm toán của mình đã đăng ký kinh doanh vì lợi ích cá nhân mà không được phép của DN kiểm toán; hoặc thực hiện kiểm toán cho đơn vị được kiểm toán mà mình đã từng là người có trách nhiệm quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc là kế toán trưởng của đơn vị đó trong vòng 3 năm trước thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; trường hợp vi phạm nhiều lần thì bị thu hồi chứng chỉ kiểm toán viên.
Dự Thảo Luật kiểm toán quy định, doanh nghiệp kiểm toán chấm dứt hoạt động trong các trường hợp:
Tự chấm dứt hoạt động; Bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động; Công ty kiểm toán bị hợp nhất, bị sáp nhập; Giám đốc doanh nghiệp tư nhân kiểm toán chết mà không có người thay thế; Trường hợp khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
V.Minh
Theo Mof

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

Kiểm toán độc lập: Vướng vì thiếu luật


Lãnh đạo Bộ Tài chính, VACPA, các doanh nghiệp kiểm toán tại buổi hội thảo ngày 5/2.

Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay đang gặp không ít khó khăn bởi thiếu những quy định mang tính pháp lý cụ thể
Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay đang gặp không ít khó khăn bởi thiếu những quy định mang tính pháp lý cụ thể.

Chính vì thế, việc ban hành Luật Kiểm toán độc lập đang là đòi hỏi cấp thiết nhằm điều chỉnh hoạt động kiểm toán độc lập cũng như việc đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm nghĩa vụ của các bên liên quan.

Tại hội thảo lấy ý kiến cho dự thảo Luật Kiểm toán độc lập do Bộ Tài chính tổ chức ngày 5/2, đa số các đại biểu đều cho rằng, với những quy định chỉ dừng ở cấp độ nghị định như hiện nay, hoạt động kiểm toán độc lập đã gặp không ít những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là những chế tài hướng dẫn, xử lý những vấn đề nảy sinh và các hành vi vi phạm trong hoạt động kiểm toán độc lập.

Nghị định “ôm” không xuể

Theo TS Hà Thị Thu Hà, Phó vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán - kiểm toán (Bộ Tài chính), hiện hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam tuy đã xuất hiện được gần 20 năm, song do trong suốt quá trình đó, nền kinh tế vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, nên các yếu tố của thị trường dịch vụ tài chính, trong đó có dịch vụ kiểm toán vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh.

Mặt khác, thực tế thì các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn chưa chú trọng công tác quản trị công ty, trong đó có việc sử dụng công cụ kiểm toán độc lập để soát xét việc tuân thủ quy định pháp luật cũng như đảm bảo khách quan, trung thực và công khai hóa thông tin.

Tuy nhiên, yếu tố có vai trò quyết định trong những tồn tại và hạn chế của hoạt động kiểm toán độc lập hiện nay là vấn đề pháp luật. Nghị định về kiểm toán độc lập là văn bản pháp lý cao nhất hiện nay của hoạt động này, song nó lại chưa tương xứng với vai trò, vị trí hoạt động kiểm toán độc lập trong nền kinh tế.

Theo TS. Hà, kiểm toán độc lập là dịch vụ đặc biệt vì nó cung cấp sự “chứng thực” thông tin kinh tế, tài chính cho xã hội. Trong khi đó, chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập lại phụ thuộc vào trình độ, năng lực của đội ngũ kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán.

Chính vì vậy, yêu cầu đòi hỏi phải quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các đối tượng trên là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng kiểm toán.

Thế nhưng, với việc chỉ có nghị định là văn bản pháp lý cao nhất để điều chỉnh các vấn đề liên quan trên, đã không đảm bảo được hiệu lực pháp lý đầy đủ để những tổ chức, cá nhân liên quan thực thi quyền và trách nhiệm của mình.

Bên cạnh đó, hiện nghị định về kiểm toán độc lập lại không quy định đầy đủ các nội dung cần thiết để tăng cường chất lượng dịch vụ kiểm toán và đáp ứng yêu cầu hội nhâp. Chẳng hạn, nghị định quy định chưa quy định rõ về việc nghiêm cấm, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp và khách hàng kiểm toán.

“Điều này đã dẫn đến thực tế là khó quy trách nhiệm để xử lý những vi phạm nảy sinh trong quá trình kiểm toán độc lâp”, TS. Hà cho biết.

Còn theo bà Hà Thị Thu Thanh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Deloitte Việt Nam, nghị định về kiểm toán độc lập hiện nay chưa quy định cơ quan đầu mối quản lý đối với hoạt động kiểm toán độc lập từ khi cấp phép cũng như quản lý trong quá trình hoạt động, hay việc bổ sung, thay đổi hồ sơ, điều chỉnh, thu hồi giấy phép, xử lý vi phạm... nên chưa thể đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các tiêu chuẩn, điều kiện thành lập doanh nghiệp.

Ngay cả việc không quy định về vốn tối thiểu đối với công ty kiểm toán TNHH cũng gây nên những bất cập trong việc thực hiện bồi thường thiệt hại khi có rủi ro trong quá trình kiểm toán cho khách hàng, đồng thời chưa tạo được động lực buộc doanh nghiệp kiểm toán phải rất cẩn trọng khi cung cấp dịch vụ kiểm toán cho xã hội.

Bà Thanh cho hay, trong nghị định hiện nay cũng chưa quy định đầy đủ về quyền và nghĩa vụ, ngăn cấm hành vi của những doanh nghiệp kiểm toán. Do vậy đã dẫn đến việc có nhiều doanh nghiệp trong giai đoạn đầu mới thành lập đã nặng về doanh thu và thị trường hơn là yếu tố chất lượng.

“Điều này đã ảnh hưởng đến nhiều trường hợp thông tin sai lệch, trong khi chúng ta lại chưa có cơ chế xử lý”, bà Thanh nói.

Bên cạnh đó, họ không đáp ứng đủ được những yêu cầu tối thiểu, chẳng hạn như số lượng kiểm toán viên hành nghề, thuê mượn chứng chỉ, sử dụng kết quả báo cáo kiểm toán...

Ngoài ra, theo bà Thanh, nhiều vấn đề về kỹ thuật kiểm toán như: quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán, báo cáo kiểm toán, kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán... cũng chưa được quy định trong nghị định.

“Hiện nghị định cũng chưa quy định đầy đủ, chặt chẽ về hoạt động kiểm toán độc lập có yếu tố nước ngoài như: điều kiện hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, về vấn đề liên doanh liên kết, cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ có liên quan qua biên giới, về công nhận bằng cấp, chứng chỉ kiểm toán viên nước ngoài”, bà Thanh cho hay.

Cần nâng lên thành luật hóa

Theo bà Thanh, chính những bất cập trên đã dẫn tới điều đáng tiếc là, đúng vào lúc cộng đồng đang cần và tin tưởng vào hoạt động kiểm toán độc lập thì cũng là lúc nảy sinh những nghi ngờ về chất lượng, tính trung thực của các báo cáo kiểm toán.

“Những thiếu sót trên không chỉ dừng lại ở cấp độ bổ sung mà cần phải được nâng lên thành luật hóa”, bà Thanh đưa ra quan điểm.

Trong khi đó, theo ông Bùi Văn Mai, Phó chủ tịch thường trực Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), kiểm toán độc lập xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1991, trong khi thế giới có từ trên 100 năm, nên việc xây dựng luật cũng cần phải có một quá trình. Chúng ta không thể mang nguyên luật của thế giới áp dụng cho thực tiễn Việt Nam.

Trong 19 năm qua, chúng ta mới chỉ dừng lại ở cấp độ nghị định về kiểm toán độc lập. Hiện hoạt động kiểm toán độc lập đã được xã hội thừa nhận và khi thị trường chứng khoán phát triển thì nó đã có tác dụng rõ rệt.

Ông Mai cho biết, thực tế, Bộ Tài chính đã đề cập đến việc xây dựng luật kiểm toán độc lập từ 6 – 7 năm trước, nhưng khi đó chúng ta phải tập trung cho việc xây dựng Luật Kiểm toán Nhà nước, nên Quốc hội đã chỉ đạo phải căn cứ trên sự triển khai Luật Kiểm toán Nhà nước để tránh những chồng chéo và rút ra được những vướng mắc trong thực tế để xây dựng luật hoàn chỉnh.

Hơn nữa, theo ông Mai, kiểm toán độc lập trước hết vì lợi ích chung của toàn xã hội, nên mục tiêu của nó là phải xác minh tính trung thực trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp trước khi công khai, giúp cho các tổ chức, cá nhân có quyền lợi liên quan đến doanh nghiệp đó.

“Chính vì vậy, nếu tự mình phát triển thì rất khó để đạt được trình độ phát triển cao. Việc mở cửa hội nhập của nền kinh tế sẽ mang lại nhiều lợi ích thông qua việc tiếp cận các cơ hội học hỏi, tiếp cận những kinh nghiệm của thế giới, giúp chúng ta hoàn thiện dần các vấn đề mang tính pháp lý của hoạt động kiểm toán độc lập", ông Mai cho biết.


Tuy nhiên, theo ông Mai, nếu việc ban hành luật kiểm toán độc lập bị chậm trễ theo kế hoạch sẽ gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp kiểm toán và các bên liên quan.


Theo Vneconomy