Hiển thị các bài đăng có nhãn KiemtoanDL. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KiemtoanDL. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

“…Kỳ vọng về sự phát triển mạnh mẽ của ngành kiểm toán độc lập, ngang tầm với các nước trong khu vực sau khi Luật kiểm toán độc lập đi vào cuộc sống…”

“…Kỳ vọng về sự phát triển mạnh mẽ của ngành kiểm toán độc lập, ngang tầm với các nước trong khu vực sau khi Luật kiểm toán độc lập đi vào cuộc sống…”

Phỏng vấn PGS.TS Đặng Thái Hùng – Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chế độ Kế toán và kiểm toán - Bộ Tài chính (*)

Ông Đặng Thái Hùng

Tạp chí kế toán: Thưa ông, được biết, trong năm 2010, dự thảo Luật Kiểm toán độc lập (KTĐL) sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến. Xin ông giới thiệu sơ bộ về bản dự thảo này?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Theo chương trình xây dựng pháp luật, dự thảo Luật KTĐL sẽ trình Chính phủ xem xét vào tháng 4/2010 và trình Quốc hội thảo luận tại kỳ họp tháng 10/2010 và nếu thuận lợi sẽ được thông qua vào kỳ họp Quốc hội tháng 5 năm 2011. Bản dự thảo hiện nay được coi là dự thảo lần 1 của Bộ Tài chính (trên cơ sở dự thảo lần 8 của Ban soạn thảo đã được chỉnh sửa sau khi Bộ trưởng và tập thể lãnh đạo Bộ Tài chính cho ý kiến).

Dự thảo này hướng vào việc đáp ứng được 3 mục tiêu, yêu cầu. Một là, nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động KTĐL trong nền kinh tế quốc dân. Hai là, quy định rõ (ở tầm Luật) các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật như kiểm toán viên (KTV), doanh nghiệp kiểm toán (DNKT), đơn vị được kiểm toán …v.v. Ba là, tăng cường mở rộng) phạm vi các đối tượng kiểm toán theo luật định.

Dự thảo gồm 8 chương với 85 Điều: Chương 1- Những quy định chung gồm 12 Điều, quy định những vấn đề có tính chất nguyên tắc chung, chi phối toàn bộ nội dung của Luật. Chương 2- KTV hành nghề, trợ lý kiểm toán gồm 10 Điều, quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến trợ lý kiểm toán, KTV. Chương 3- DNKT gồm 31 Điều quy định cụ thể các nội dung liên quan đến DNKT. Chương 4- Quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán gồm 3 Điều, quy định đơn vị được kiểm toán thuộc đối tượng bắt buộc hoặc tự nguyện. Chương 5- Hoạt động hành nghề KTĐL gồm 5 mục với 15 Điều, quy định về hoạt động hành nghề của DNKT. Chương 6- Các quy định đối với kiểm toán BCTC của đơn vị có lợi ích công chúng gồm 6 Điều, quy định bổ sung đối với kiểm toán BCTC của các đơn vị có lợi ích công chúng. Chương 7- Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại gồm 3 mục với 15 Điều. Chương 8- Điều khoản thi hành gồm 2 Điều, quy định về hiệu lực thi hành; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Tạp chí kế toán: Thưa ông, trong quá trình soạn thảo, quy trình lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng điều chỉnh trong Luật được tiến hành như thế nào để đảm bảo Luật khi được ban hành sẽ bám sát thực tiễn hoạt động KTĐL và tạo điều kiện cho các đối tượng cạnh tranh bình đẳng?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Trong quá trình soạn thảo Luật KTĐL, Ban soạn thảo ngoài việc tuân thủ quy trình chung có lưu ý cả những tính đặc thù của lĩnh vực KTĐL. Quy trình soạn thảo và lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng được điều chỉnh có thể quy về sáu bước như sau:

Bước 1: Ban soạn thảo (với đầy đủ các thành phần liên quan) tiến hành dự thảo Luật, tổ chức thảo luận trong Ban soạn thảo kết hợp tổ chức trao đổi lấy ý kiến hợp tổ chức trao đổi lấy ý kiến các bên có liên quan;

Bước 2: Báo cáo tập thể lãnh đạo Bộ Tài chính xin ý kiến chỉ đạo những quan điểm tư tưởng và hướng soạn thảo;

Bước 3: Gửi dự thảo xin ý kiến tham gia và tổ chức hội thảo mở rộng theo từng nhóm đơn vị có liên quan như khối Bộ, ngành, cơ quan nhà nước; khối các DNKT và các đơn vị được kiểm toán; khối các cơ quan quản lý, nghiên cứu, đào tạo;… trong đó, đặc biệt là thông qua các hội nghề nghiệp (VAA, VACPA) để tổ chức lấy ý kiến rộng rãi các DNKT, đảm bảo đủ đại diện các DNKT có quy mô khác nhau, loại doanh nghiệp (DN) khác nhau (công ty TNHH; công ty hợp danh; DN tư nhân; DN theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đối với khối các đơn vị được kiểm toán, cũng tổ chức hội thảo lấy ý kiến tham gia của đầy đủ các đối tượng có liên quan (đối tượng bắt buộc và khuyên khích kiểm toán; DN có quy mô, sở hữu, lĩnh vực hoạt động khác nhau; đặc biệt là các DN đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, các đơn vị có lợi ích công chúng);

Bước 4: Tập hợp ý kiến tham gia để tiếp tục hoàn thiện dự thảo;

Bước 5: Tiếp tục xin ý kiến đối với các vấn đề, nội dung cần làm sáng tỏ hơn;

Bước 6: Lấy ý kiến thẩm định trình Chính phủ, Quốc hội.

Tạp chí kế toán: So với các văn bản dưới Luật (Nghị định của Chính phủ về KTĐL) đã ban hành trước đây, bản dự thảo này có những quy định mới gì?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: So với nội dung của các Nghị định của Chính phủ về KTĐL hiện hành, dự thảo Luật đã có sự bổ sung một số nội dung mới, như: Quy định việc cấp, đình chỉ giấy phép thành lập, hoạt động của DNKT và chứng chỉ KTV do Bộ Tài chính đản nhận nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ, phù hợp với loại hình DN có điều kiện này, tương tự như DN chứng khoán, DN bảo hiểm; Quy định tiêu chuẩn, quy định vốn tối thiểu của DNKT; Quy định kiểm toán báo cáo tài chính các đơn vị có lợi ích công chúng; Bổ sung đối tượng thuộc diện kiểm toán bắt buộc; Quy định về hoạt động kiểm toán có yếu tố nước ngoài; Quy định về thanh tra, xử phạt, giải quyết tranh chấp,…

Tạp chí kế toán: Được biết, dự thảo Luật KTĐL gần đây nhất có quy định về điều kiện thành lập DNKT, trong đó, phải có ít nhất năm người có chứng chỉ KTV, bao gồm cả giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và Chủ tịch Hội đồng thành viên. So với quy định trước đây ít nhất có ba người có chứng chỉ KTV), quy định tại dự thảo này gây nên quan ngại về việc sẽ hạn chế các DNKT có quy mô nhỏ, tạo ưu thế cạnh tranh cho các DN có quy mô lớn trong khi Việt Nam hiện chỉ có chưa đến 2.000 người có chứng chỉ KTV và nhu cầu dịch vụ KTĐL ngày càng lớn. Ông giải thích thế nào về sự thay đổi (nâng cao) tiêu chuẩn thành lập DNKT này?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Việc quy định quy mô DNKT tối thiểu có 5 KTV là phù hợp với thông lệ của nhiều nước trên thế giới. Quy định này đảm bảo cho DNKT có đủ lực lượng tối thiểu để quản lý, điều hành, phê duyệt báo cáo kiểm toán và thực thi công việc kiểm toán. Khi nghiên cứu, xây dựng, ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP về KTĐL (văn bản pháp lý cao nhất hiện hành về KTĐL) cũng đã tính đến vấn đề này, song do cần có thời gian hoàn thiện các điều kiện thực hiện (như tăng số lượng KTV có chứng chỉ; nâng cao trình độ quản lý, thực hiện kiểm toán,…) nên ở thời điểm đó chưa quy định như vậy. Hơn nữa, vì đây là văn bản Luật nên phải đảm bảo quy định mang tính ổn định lâu dài. Sau khi Luật được ban hành, công bố, có hiệu lực thi hành, sẽ xem xét cụ thể sẽ quy định một khoảng thời gian cần thiết cho việc chuyển đổi.

Tạp chí kế toán: Trong dự thảo Luật KTĐL, Nhà nước vẫn đảm nhiệm hầu hết các công việc đăng ký và quản lý hành nghề KTĐL, hội nghề nghiệp chủ yếu có vai trò cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, đạo đức của KTV hành nghề, giám sát và giúp đỡ hội viên hành nghề theo đúng quy định của pháp luật… Trong khi, theo thông lệ quốc tế, việc quản lý và đăng ký hành nghề kế toán, kiểm toán do hội nghề nghiệp đảm nhiệm. Liệu với quy định như vậy, Nhà nước có “bao sân” quá lớn đối với việc quản lý hành nghề KTĐL không?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Quan điểm chỉ đạo là trách nhiệm quản lý nhà nước là toàn diện và đầy đủ mọi mặt hoạt động trong lĩnh vực KTĐL. Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động nghề nghiệp trong một số lĩnh vực (trong đó có KTĐL) thì một số công việc nếu giao cho tổ chức nghề nghiệp quản lý và thực hiện sẽ phù hợp, thuận lợi và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc uỷ quyền những công việc gì sẽ tuỳ thuộc vào khả năng (nối dài cánh tay quản lý của Nhà nước) của Tổ chức nghề nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể.

Tạp chí kế toán: Ở vị trí đại diện cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực KTĐL, cơ quan soạn thảo Luật KTĐL, ông kỳ vọng gì khi Luật KTĐL đi vào cuộc sống?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Hoạt động KTĐL ở Việt Nam đã có quá trình 18 năm hình thành và phát triển, một quãng thời gian chưa hẳn là dài so với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển song cũng đã hội đủ các yếu tố để đánh giá, xem xét cho việc xây dựng, hình thành Luật KTĐL. Với những quy định điều chỉnh hoạt động KTĐL trong nền kinh tế thị trường ở tầng pháp lý cao nhất và đầy đủ, phù hợp nhất. Hơn nữa, mức độ hội nhập trong lĩnh vực KTĐL ở Việt Nam với quốc tế cũng đã dần tới mức hoàn thiện.

Vì những lý do đó, tôi cũng như những người quan tâm đến ngành KTĐL của Việt Nam có quyền kỳ vọng về sự phát triển ổn định, vững chắc, mạnh mẽ của ngành KTĐL ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một ngày không xa sau khi Luật KTĐL đi vào cuộc sống.

(*) Ông Đặng Thái Hùng đã chính thức được bổ nhiệm Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán Bộ Tài chính từ 10/02/2010 (BBT)

Theo Tạp Chí Kế Toán

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

Kiểm toán ở đâu trước khả năng dấu lãi, chuyển lỗ của DN?

Xem hình
Năm 2009, CTCP Gemadept (mã GMD) điều chỉnh số liệu kết quả kinh doanh (KQKD) cuối năm 2008 với lý do năm 2008, Công ty chưa hợp nhất đầy đủ KQKD của các công ty con. Sẽ không có gì để nói nếu việc điều chỉnh này không gây ảnh hưởng lớn đến KQKD năm trước, và không ít NĐT cho rằng: nếu biết có việc này, sẽ không bao giờ họ bán rẻ cổ phiếu của mình giai đoạn đầu năm 2009.

Năm 2009, trên sàn HOSE có 2 DN thực hiện điều chỉnh kết quả kinh doanh, làm số liệu năm 2008 có sự thay đổi lớn là CTCP Gemadept và CTCP Sonadezi Long Thành (mã SZL). Với trường hợp của GMD, lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ năm 2008 đã được điều chỉnh thay đổi từ lỗ 166,984 tỷ đồng sang lãi 31,807 tỷ đồng, do năm 2009, Công ty mới hợp nhất kết quả kinh doanh của CTCP Gemadept Vũng Tàu. Trường hợp của CTCP Sonadezi Long Thành, quỹ lợi nhuận sau thuế thời điểm cuối năm 2008 cũng được điều chỉnh tăng từ 55,115 tỷ đồng theo BCTC đã kiểm toán cũ sang 262,673 tỷ đồng, do Công ty thực hiện tạm phân bổ chi phí đầu tư kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Long Thành.

Với trường hợp của SZL, việc thay đổi chính sách hạch toán, ghi nhận doanh thu, chi phí… tạm thời có thể chấp nhận được, do có thể coi là việc phát sinh sau ngày lập BCTC. Tuy nhiên, với trường hợp của GMD, một số ý kiến cho rằng, việc điều chỉnh hồi tố như trên đã gây ảnh hưởng trọng yếu đến KQKD năm 2008, nhưng lại không được đề cập hoặc lượng hóa trong Báo cáo kiểm toán năm 2008 của GMD. Đây là điều là khó chấp nhận được.

Cụ thể, trong Thuyết minh BCTC kiểm toán năm 2008 của Gemadept, các công ty con chưa hợp nhất BCTC là: CTCP Cảng Quốc tế Gemadept Nhơn Hội, Công ty TNHH MTV Tiếp vận Gemadept, CTCP Gemadept Vũng Tàu, CTCP Tiếp vận và Cảng Quốc tế Hoa Sen Gemadept và CTCP Đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Gemadept. Trong đó, tính đến thời điểm này, yếu tố gây thay đổi lớn, mang tính ảnh hưởng trọng yếu đến KQKD năm 2008 của GMD chính là Gemadept Vũng Tàu. Theo giải thích của GMD, tại thời điểm lập BCTC năm, Gemadept Vũng Tàu chưa có BCTC năm do mới đi vào hoạt động và một số khoản mục phải chờ hướng dẫn của cơ quan chức năng. Giải thích này, xét dưới góc độ quyền lợi của DN thì không bị ảnh hưởng, nhưng dưới góc độ quyền lợi của NĐT, những người chịu ảnh hưởng khá nhiều bởi thông tin công bố về KQKD của DN thì lại phải chịu thiệt hại rất lớn. Theo phản ánh của một số NĐT, chính vì quá tin tưởng Báo cáo kiểm toán của DN, lại không được tiếp xúc đầy đủ hoạt động các công ty con của GMD nên họ đã phải chịu nhiều thiệt thòi.

ĐTCK đã ghi nhận phản ánh của một số NĐT về trường hợp kiểm toán của GMD với thái độ không mấy hài lòng sau khi GMD thông báo điều chỉnh lợi nhuận năm 2008. Theo họ, cổ đông chính là những người trả tiền cho kiểm toán, nhưng kiểm toán đã không làm hết trách nhiệm của mình, khiến họ không tiếp cận đầy đủ và chính xác tình hình tài chính DN lúc đó. Việc chưa hợp nhất KQKD năm 2008 của Gemadept Vũng Tàu có thể chấp nhận được, nếu thay vì chỉ đưa ra nhận xét hết sức chung chung như đã làm, kiểm toán đưa ra những con số và lượng hóa các tác động (nếu có, theo chuẩn mực kế toán) của các yếu tố chưa hợp nhất. Làm như vậy, những NĐT bình thường có thể có cái nhìn chính xác hơn về cổ phiếu GMD, chứ không phải bán tháo cố phiếu ở mức giá thậm chí dưới 20.000 đồng/cổ phiếu (cuối tháng 2/2009). Tất nhiên, không thể ngoại trừ tác động từ yếu tố thị trường chung (do VN-Index cũng ở trong thời kỳ giảm sâu), nhưng rõ ràng, sau khi thông tin về việc hạch toán lợi nhuận tại Gemadept Vũng Tàu được công bố tại phiên họp ĐHCĐ năm 2008 diễn ra sau đó, giá cổ phiếu GMD đã tăng khá mạnh, gây thiệt thòi cho những cổ đông cũ đã bán mất cổ phiếu GMD.

Quay trở lại với một trường hợp cũng khá điển hình về vấn đề này (nhưng ở khía cạnh tích cực hơn) là Báo cáo kiểm toán của VCG năm 2008 do Công ty TNHH Định giá và Kiểm toán Việt Nam (AVA) thực hiện. Với từng điểm ngoại trừ trong BCTC năm 2008 của VCG, AVA đều có lượng hóa chi tiết và giải thích về những tác động của các điểm ngoại trừ (nếu có) đến từng khoản mục trong BCTC của VCG. Đây chính là điểm khác biệt giữa 2 BCTC được lập bởi 2 công ty kiểm toán khác nhau. Không ít NĐT đặt câu hỏi: trách nhiệm của kiểm toán trong trường hợp của GMD đến đâu, và những NĐT đã chấp nhận bán giá thấp (do quá tin tưởng Báo cáo kiểm toán) liệu có được đền bù thiệt hại nếu họ kiện lại chính công ty kiểm toán?

Vấn đề NĐT bức xúc một lần nữa đòi hỏi chất lượng của các công ty kiểm toán cần được nâng cao hơn nữa. Trên thực tế, nếu kiểm toán không đưa ra được đánh giá của mình về các yếu tố có thể tác động làm thay đổi lợi nhuận (đặc biệt là tác động trọng yếu) thì rất có thể, sẽ gián tiếp tạo cơ hội cho chính DN “điều khiển” giá cổ phiếu do liên tục công bố con số lợi nhuận (lỗ) bất thường. Bởi vì, khi thông tin không hoàn chỉnh, ai có thể giúp cổ đông, NĐT biết và ngăn chặn tình trạng DN muốn điều khiển giá cổ phiếu bằng giấu lãi/ lỗ thông qua việc… chưa hợp nhất BCTC của một vài công ty con?

(Theo Đầu tư Chứng khoán)

Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

CHÚC MỪNG ÔNG ĐẶNG THÁI HÙNG ĐƯỢC BỔ NHIỆM VỤ TRƯỞNG VỤ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN BỘ TÀI CHÍNH


Ngày 12/02/2010, Thứ trưởng Bộ Tài chính ông Trần Xuân Hà đã thay mặt Bộ trưởng Bộ Tài chính, trao quyết định bổ nhiệm PGS.TS Đặng Thái Hùng, giữ chức Vụ trưởng Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán Bộ Tài chính.

Thay mặt BCH Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), ông Bùi Văn Mai–Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký VACPA cùng cán bộ văn phòng Hội đã tặng hoa chúc mừng ông Đặng Thái Hùng và chúc tết Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ viên chức Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán nhân dịp đón mừng tin vui và mừng xuân mới 2010!


BBT-Web


Theo VACPA

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

“Kỳ vọng về sự phát triển mạnh mẽ của ngành kiểm toán độc lập, ngang tầm với các nước trong khu vực sau khi Luật kiểm toán độc lập đi vào cuộc sống”


Phỏng vấn PGS.TS Đặng Thái Hùng – Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chế độ Kế toán và kiểm toán - Bộ Tài chính

Tạp chí kế toán: Thưa ông, được biết, trong năm 2010, dự thảo Luật Kiểm toán độc lập (KTĐL) sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến. Xin ông giới thiệu sơ bộ về bản dự thảo này?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Theo chương trình xây dựng pháp luật, dự thảo Luật KTĐL sẽ trình Chính phủ xem xét vào tháng 4/2010 và trình Quốc hội thảo luận tại kỳ họp tháng 10/2010 và nếu thuận lợi sẽ được thông qua vào kỳ họp Quốc hội tháng 5 năm 2011. Bản dự thảo hiện nay được coi là dự thảo lần 1 của Bộ Tài chính (trên cơ sở dự thảo lần 8 của Ban soạn thảo đã được chỉnh sửa sau khi Bộ trưởng và tập thể lãnh đạo Bộ Tài chính cho ý kiến).

Dự thảo này hướng vào việc đáp ứng được 3 mục tiêu, yêu cầu. Một là, nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động KTĐL trong nền kinh tế quốc dân. Hai là, quy định rõ (ở tầm Luật) các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật như kiểm toán viên (KTV), doanh nghiệp kiểm toán (DNKT), đơn vị được kiểm toán …v.v. Ba là, tăng cường mở rộng) phạm vi các đối tượng kiểm toán theo luật định.

Dự thảo gồm 8 chương với 85 Điều: Chương 1- Những quy định chung gồm 12 Điều, quy định những vấn đề có tính chất nguyên tắc chung, chi phối toàn bộ nội dung của Luật. Chương 2- KTV hành nghề, trợ lý kiểm toán gồm 10 Điều, quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến trợ lý kiểm toán, KTV. Chương 3- DNKT gồm 31 Điều quy định cụ thể các nội dung liên quan đến DNKT. Chương 4- Quyền và nghĩa vụ của đơn vị được kiểm toán gồm 3 Điều, quy định đơn vị được kiểm toán thuộc đối tượng bắt buộc hoặc tự nguyện. Chương 5- Hoạt động hành nghề KTĐL gồm 5 mục với 15 Điều, quy định về hoạt động hành nghề của DNKT. Chương 6- Các quy định đối với kiểm toán BCTC của đơn vị có lợi ích công chúng gồm 6 Điều, quy định bổ sung đối với kiểm toán BCTC của các đơn vị có lợi ích công chúng. Chương 7- Thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và bồi thường thiệt hại gồm 3 mục với 15 Điều. Chương 8- Điều khoản thi hành gồm 2 Điều, quy định về hiệu lực thi hành; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Tạp chí kế toán: Thưa ông, trong quá trình soạn thảo, quy trình lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng điều chỉnh trong Luật được tiến hành như thế nào để đảm bảo Luật khi được ban hành sẽ bám sát thực tiễn hoạt động KTĐL và tạo điều kiện cho các đối tượng cạnh tranh bình đẳng?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Trong quá trình soạn thảo Luật KTĐL, Ban soạn thảo ngoài việc tuân thủ quy trình chung có lưu ý cả những tính đặc thù của lĩnh vực KTĐL. Quy trình soạn thảo và lấy ý kiến đóng góp của các đối tượng được điều chỉnh có thể quy về sáu bước như sau:

Bước 1: Ban soạn thảo (với đầy đủ các thành phần liên quan) tiến hành dự thảo Luật, tổ chức thảo luận trong Ban soạn thảo kết hợp tổ chức trao đổi lấy ý kiến hợp tổ chức trao đổi lấy ý kiến các bên có liên quan;

Bước 2: Báo cáo tập thể lãnh đạo Bộ Tài chính xin ý kiến chỉ đạo những quan điểm tư tưởng và hướng soạn thảo;

Bước 3: Gửi dự thảo xin ý kiến tham gia và tổ chức hội thảo mở rộng theo từng nhóm đơn vị có liên quan như khối Bộ, ngành, cơ quan nhà nước; khối các DNKT và các đơn vị được kiểm toán; khối các cơ quan quản lý, nghiên cứu, đào tạo;… trong đó, đặc biệt là thông qua các hội nghề nghiệp (VAA, VACPA) để tổ chức lấy ý kiến rộng rãi các DNKT, đảm bảo đủ đại diện các DNKT có quy mô khác nhau, loại doanh nghiệp (DN) khác nhau (công ty TNHH; công ty hợp danh; DN tư nhân; DN theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Đối với khối các đơn vị được kiểm toán, cũng tổ chức hội thảo lấy ý kiến tham gia của đầy đủ các đối tượng có liên quan (đối tượng bắt buộc và khuyên khích kiểm toán; DN có quy mô, sở hữu, lĩnh vực hoạt động khác nhau; đặc biệt là các DN đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, các đơn vị có lợi ích công chúng);

Bước 4: Tập hợp ý kiến tham gia để tiếp tục hoàn thiện dự thảo;

Bước 5: Tiếp tục xin ý kiến đối với các vấn đề, nội dung cần làm sáng tỏ hơn;

Bước 6: Lấy ý kiến thẩm định trình Chính phủ, Quốc hội.

Tạp chí kế toán: So với các văn bản dưới Luật (Nghị định của Chính phủ về KTĐL) đã ban hành trước đây, bản dự thảo này có những quy định mới gì?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: So với nội dung của các Nghị định của Chính phủ về KTĐL hiện hành, dự thảo Luật đã có sự bổ sung một số nội dung mới, như: Quy định việc cấp, đình chỉ giấy phép thành lập, hoạt động của DNKT và chứng chỉ KTV do Bộ Tài chính đản nhận nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ, phù hợp với loại hình DN có điều kiện này, tương tự như DN chứng khoán, DN bảo hiểm; Quy định tiêu chuẩn, quy định vốn tối thiểu của DNKT; Quy định kiểm toán báo cáo tài chính các đơn vị có lợi ích công chúng; Bổ sung đối tượng thuộc diện kiểm toán bắt buộc; Quy định về hoạt động kiểm toán có yếu tố nước ngoài; Quy định về thanh tra, xử phạt, giải quyết tranh chấp,…

Tạp chí kế toán: Được biết, dự thảo Luật KTĐL gần đây nhất có quy định về điều kiện thành lập DNKT, trong đó, phải có ít nhất năm người có chứng chỉ KTV, bao gồm cả giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và Chủ tịch Hội đồng thành viên. So với quy định trước đây ít nhất có ba người có chứng chỉ KTV), quy định tại dự thảo này gây nên quan ngại về việc sẽ hạn chế các DNKT có quy mô nhỏ, tạo ưu thế cạnh tranh cho các DN có quy mô lớn trong khi Việt Nam hiện chỉ có chưa đến 2.000 người có chứng chỉ KTV và nhu cầu dịch vụ KTĐL ngày càng lớn. Ông giải thích thế nào về sự thay đổi (nâng cao) tiêu chuẩn thành lập DNKT này?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Việc quy định quy mô DNKT tối thiểu có 5 KTV là phù hợp với thông lệ của nhiều nước trên thế giới. Quy định này đảm bảo cho DNKT có đủ lực lượng tối thiểu để quản lý, điều hành, phê duyệt báo cáo kiểm toán và thực thi công việc kiểm toán. Khi nghiên cứu, xây dựng, ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP về KTĐL (văn bản pháp lý cao nhất hiện hành về KTĐL) cũng đã tính đến vấn đề này, song do cần có thời gian hoàn thiện các điều kiện thực hiện (như tăng số lượng KTV có chứng chỉ; nâng cao trình độ quản lý, thực hiện kiểm toán,…) nên ở thời điểm đó chưa quy định như vậy. Hơn nữa, vì đây là văn bản Luật nên phải đảm bảo quy định mang tính ổn định lâu dài. Sau khi Luật được ban hành, công bố, có hiệu lực thi hành, sẽ xem xét cụ thể sẽ quy định một khoảng thời gian cần thiết cho việc chuyển đổi.

Tạp chí kế toán: Trong dự thảo Luật KTĐL, Nhà nước vẫn đảm nhiệm hầu hết các công việc đăng ký và quản lý hành nghề KTĐL, hội nghề nghiệp chủ yếu có vai trò cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, đạo đức của KTV hành nghề, giám sát và giúp đỡ hội viên hành nghề theo đúng quy định của pháp luật… Trong khi, theo thông lệ quốc tế, việc quản lý và đăng ký hành nghề kế toán, kiểm toán do hội nghề nghiệp đảm nhiệm. Liệu với quy định như vậy, Nhà nước có “bao sân” quá lớn đối với việc quản lý hành nghề KTĐL không?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Quan điểm chỉ đạo là trách nhiệm quản lý nhà nước là toàn diện và đầy đủ mọi mặt hoạt động trong lĩnh vực KTĐL. Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động nghề nghiệp trong một số lĩnh vực (trong đó có KTĐL) thì một số công việc nếu giao cho tổ chức nghề nghiệp quản lý và thực hiện sẽ phù hợp, thuận lợi và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc uỷ quyền những công việc gì sẽ tuỳ thuộc vào khả năng (nối dài cánh tay quản lý của Nhà nước) của Tổ chức nghề nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể.

Tạp chí kế toán: Ở vị trí đại diện cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực KTĐL, cơ quan soạn thảo Luật KTĐL, ông kỳ vọng gì khi Luật KTĐL đi vào cuộc sống?

PGS.TS Đặng Thái Hùng: Hoạt động KTĐL ở Việt Nam đã có quá trình 18 năm hình thành và phát triển, một quãng thời gian chưa hẳn là dài so với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển song cũng đã hội đủ các yếu tố để đánh giá, xem xét cho việc xây dựng, hình thành Luật KTĐL. Với những quy định điều chỉnh hoạt động KTĐL trong nền kinh tế thị trường ở tầng pháp lý cao nhất và đầy đủ, phù hợp nhất. Hơn nữa, mức độ hội nhập trong lĩnh vực KTĐL ở Việt Namvới quốc tế cũng đã dần tới mức hoàn thiện.

Vì những lý do đó, tôi cũng như những người quan tâm đến ngành KTĐL của Việt Nam có quyền kỳ vọng về sự phát triển ổn định, vững chắc, mạnh mẽ của ngành KTĐL ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới trong một ngày không xa sau khi Luật KTĐL đi vào cuộc sống.

(Theo Tạp chí Kế toán)

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2010

Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế: Việt Nam và sự khác biệt


Trong những năm gần đây, chế độ kế toán và chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) đã có những thay đổi rất lớn, thậm chí chúng ta đã dùng một số chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/ IFRS) áp dụng cho Việt Nam.

Tuy nhiên, vẫn còn có những điểm khác nhau rất đáng kể giữa VAS và IFRS. Trong bài viết này tác giả chỉ đề cập những khác nhau mà chúng có thể ảnh hưởng lớn đến các quyết định của nhà đầu tư.

Trần Xuân Nam (MBA)

1.Các vấn đề chung và báo cáo kết quả kinh doanh

1.1 Các báo cáo tài chính giữa niên độ. Trong các chuẩn mực VAS 02, 07, 23 liên quan đến việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng giảm giá chứng khoán, hay các điều chỉnh lãi lỗ, phần của nhà đầu tư trong các công ty liên kết, liên doanh và các sự kiện phát sinh sau ngày của bảng cân đối kế toán chỉ điều chỉnh cho báo cáo cuối niên độ. Nghĩa là nếu các sự kiện này phát sinh trong các kỳ giữa niên độ, sẽ không được ghi nhận trong các báo cáo giữa niên độ mà chỉ trình bày ở các báo cáo cuối năm. Trong các tình huống này, IAS yêu cầu phải điều chỉnh vào ngày của bảng cân đối kế toán (giữa và cuối niên độ).

1.2. Báo cáo tài chính hợp nhất.

Theo VAS, các báo cáo tài chính hợp nhất chỉ bắt buộc vào cuối năm, các báo cáo giữa niên độ không bắt buộc mà chỉ khuyến khích lập báo cáo tài chính hợp nhất, các tập đoàn chỉ phải công bố báo cáo riêng của công ty mẹ. Thực tế, năm 2008 đã phát sinh trường hợp công ty mẹ VinashinPetro có kết quả kinh doanh rất tốt, nhưng công ty con Đại Nam 100% vốn của VinashinPetro lại bị lỗ rất nặng. Theo VAS, trong năm tập đoàn này chỉ công bố các báo cáo tài chính giữa niên độ của công ty mẹ với kết quả kinh doanh rất tốt. Giá cổ phiếu của VinashinPetro đã tăng rất mạnh. Khi báo cáo tài chính hợp nhất với kết quả rất xấu được công bố, giá cổ phiếu của Công ty đã giảm gần như rơi tự do. Theo IAS/IFRS, các doanh nghiệp phải điều chỉnh, lập và công bố các báo cáo tài chính hợp nhất cho các báo cáo tài chính năm cũng như giữa niên độ.

1.3. Đo lường và trình bày lãi trên mỗi cổ phiến (EPS). EPS là một trong những chi tiêu rất quan trọng và phổ biến mà nó ảnh hưởng rất lớn đến giá cổ phiếu của công ty. Theo VAS, lãi được dùng để tính EPS bao gồm cả các khoản lãi khoản lãi không dành cho các cổ đông phổ thông như lãi để trích quỹ khen thưởng, phúc lợi cho nhân viên và các quỹ khen thưởng không phải cho các cổ đông. Quy định này của VAS không phản ánh trung thực và hợp lý kết quả và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Theo IAS, những khoản thưởng này sẽ được ánh vào chi phí để trừ ra khỏi lãi cho việc tính EPS.

Ví dụ, năm 2008, Công ty Vinamilk và Than Núi Béo đã trích lập quỹ khen thưởng phúc lợi tương ứng 10% và 30% lợi nhuận thuần sau thuế, do vậy EPS của các công ty này công bố trên các báo cáo tài chính theo VAS là cao hơn so với EPS tính theo IFRS tương ứng là 10% và 30%.

1.4. EPS pha loãng (Diluted EPS) là một chỉ tiêu rất quan trọng cho các nhà đầu tư để dự đoán EPS của doanh nghiệp trong những năm tới. Mặc dù trong VAS 30 có yêu cầu chỉ tiêu EPS suy giảm (pha loãng) nhưng trong thông tư hướng dẫn không quy định rõ ràng và trong biểu mẫu thống nhất của báo cáo kết quả kinh doanh không có chỉ tiêu này, nên các doanh nghiệp không trình bày EPS pha loãng. IAS quy định EPS cơ bản và EPS pha loãng phải được trình bày trên bề mặt của Báo cáo kết quả với mức độ nổi bật như nhau.

1.5. Chia cổ tức bằng cổ phiếu, khác với IAS, VAS và thực tế các công ty không điều chỉnh hồi tố EPS cho những năm trước đó. Trong những trường hợp này, việc phân tích xu hướng EPS qua các năm theo số liệu EPS gốc (không điều chỉnh) sẽ bị sai lệnh rất nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến các quyết định của nhà đầu tư.

1.6. Nhận cổ tức bằng cổ phiếu. VAS ghi là một khoản thu nhập theo mệnh giá khoản cổ tức được nhận. Tuy nhiên, theo IAS, kế toán không ghi tăng thu nhập vì bản chất của nó không hề tăng thu nhập (giá tham chiếu giảm tương ứng), IAS chỉ ghi một bút toán ghi nhớ để ghi tăng số lượng cổ phiếu đầu tư tăng lên và ghi giảm giá vốn của mỗi cổ phiếu đầu tư xuống tương ứng, nhưng tổng giá vốn cổ phiếu không đổi.

1.7. Khái niệm lãi hoạt động kinh doanh (Operating income). Để việc so sánh và quản trị được tốt hơn, IAS định nghĩa lãi hoạt động kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, nó không bao gồm các khoản thu nhập và chi phí tài chính như của VAS.

2. So Sánh giũa VAS và IAS trong các khoản mục của bảng cân đối kế toán

2.1. Thành phẩm, theo IAS và VAS được tính theo phương pháp giá thành thông thường (Normal costing) nghĩa là chi phí sản xuất chung phân bổ theo mức độ hoạt động bình thường của doanh nghiệp nhưng trên thực tế đa phần công ty Việt Nam vẫn tính giá thành theo phương pháp thực tế, phân bổ chi phí chung theo thực tế hàng tháng. Điều này làm cho giá thành sản phẩm có thể biến động rất lớn giữa các tháng, nên tác dụng của giá thành trong việc tham chiếu cho việc định giá bán bị hạn chế.

2.2. Tài sản sinh vật và các sản phẩm nông nghiệp thu hoạch từ các tài sản sinh vật của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông (lâm, ngư) nghiệp, theo VAS chỉ được tính theo giá phí, nhưng IAS 41 quy định tính theo giá trị hợp lý (giá thị trường) trừ đi chi phí điểm bán.

2.3.Tài sản cố định hữu hình: IAS cho phép sử dụng mô hình giá trị hợp lý của tài sản cố định nếu nó có thể đo lường một cách đáng tin cậy hoặc sử dụng mô hình giá vốn như VAS. Nếu sử dụng mô hình giá trị hợp lý, giá trị thay đổi của tài sản cố định được ghi tăng, giảm vốn chủ sở hữu, không ghi vào lãi lỗ. Tuy nhiên, nếu dùng mô hình giá trị hợp lý, doanh nghiệp vẫn phải báo cáo cả giá vốn để nhà đầu tư có thêm thông tin tham chiếu.

2.4. Bất động sản đầu tư, IAS quy định doanh nghiệp có thể dùng mô hình giá trị hợp lý để đo lường giá trị bất động sản đầu tư trừ khi nó không thể đo lường một cách đáng tin cậy, do vậy phải dùng mô hình giá phí như VAS.

Theo mô hình giá trị hợp lý, sự thay đổi của giá trị hợp lý của bất động sản đầu tư được ghi vào lãi lỗ trong báo cáo kết quả. Tuy nhiên, khi dùng mô hình giá trị hợp lý, trong phần thuyết minh, doanh nghiệp phải thuyết minh giá gốc của nó để nhà đầu tư có thể tự đánh giá và so sánh.

2.5. Các khoản lỗ giảm giá trị tài sản (Impairment loss): IAS quy định đối với tài sản cố định hữu hình, vô hình hay tài sản tài chính khi có khoản giảm giá trị tài sản phát sinh (do tài sản bị hư hỏng, do tiến bộ của kỹ thuật...), nó phải được ghi nhận ngay vào báo cáo tài chính kỳ đó. VAS không yêu cầu ghi nhận các sự kiện này. Điều này làm báo cáo tài chính theo VAS giảm đi tính đáng tin cậy, do nó không phản ánh đúng giá trị của doanh nghiệp.

2.6. Các quỹ không thuộc vốn chủ sở hữu: Khác với VAS, IAS yêu cầu vốn chủ sở hữu không bao gồm các quỹ không thuộc các cổ đông như quỹ khen thưởng phúc lợi. Các khoản khen thưởng phúc lợi, kể cả các chương trình thưởng cổ phiếu cho nhân viên cũng được ghi nhận và báo cáo là chi phí nhân viên và ghi nợ phải trả cho nhân viên chứ không ghi tăng vốn chủ sở hữu. Vì các quỹ khen thưởng, phúc lợi nhân viên thường khá lớn chiếm từ 5 -15% tổng số lãi thuần sau thuế nên việc báo cáo các quỹ này trong vốn chủ sở hữu làm cho các báo cáo tài chính theo VAS bị méo mó rất nhiều, ảnh hưởng lớn đến các chỉ số tài chính quan trọng như ROE và do vậy có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định của nhà đầu tư.

Theo ĐTCK

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2010

Soi kỹ BCTC để đo sức khỏe doanh nghiệp

Xem hìnhNhiều NĐT chỉ nhìn lướt con số doanh thu, lợi nhuận của các DN niêm yết, nhất là những DN có cổ phiếu được coi là ''hàng nóng'' trên thị trường càng dễ bị ''bỏ qua''.

Trong khi đó, chính sách điều hành, diễn biến kinh tế trong và ngoài nước năm qua biến động nhanh, tác động rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp, để nắm bắt và phán đoán được sức khỏe DN năm 2010, “soi” kỹ báo cáo tài chính năm 2009 là điều được ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó tổng giám đốc Công ty kiểm toán AASC - đơn vị kiểm toán cho nhiều DN niêm yết khuyến nghị.

Năm 2009 một số DN (nhất là DN bất động sản) có xu hướng đẩy mạnh lợi nhuận để hưởng giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), kiểm toán chấp nhận trong những trường hợp nào, trường hợp nào NĐT cần chú ý?

Theo hướng dẫn tại Thông tư 03/2009/TT-BTC ngày 13/01/2009 của BTC, các DN nhỏ và vừa (vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân trong năm không quá 300 người) được giảm thuế 30% thuế TNDN phải nộp trong năm 2009. Để có thể tối đa hóa lợi ích từ chính sách ưu đãi này của Chính phủ, một số DN đã cố gắng điều chỉnh kết quả kinh doanh của mình để có được số thuế phải nộp thấp nhất. Hình thức điều chỉnh phổ biến mà các DN thường sử dụng là tối đa hóa doanh thu và/hoặc tối thiểu hóa chi phí để lợi nhuận năm 2009 đạt mức cao nhất. Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên (KTV) chỉ chấp nhận các khoản doanh thu có đầy đủ cơ sở ghi nhận theo các chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành và đề nghị DN điều chỉnh các khoản doanh thu ghi nhận trước không có căn cứ. Đồng thời, KTV cũng xem xét các khoản chi phí liên quan đến năm 2009, nhưng chưa ghi nhận trong BCTC năm 2009, nhất là các khoản chi phí trích lập dự phòng, trích trước chi phí lãi vay… và đề nghị DN điều chỉnh.

Một số DN thực hiện việc san bớt lợi nhuận sang các quý trong năm 2010, , nhất là khi cuối năm TTCK không máy thuận lợi cho giá cổ phiếu, khi đọc BCTC, NĐT nên lưu tâm vấn đề gì, thưa ông?

Một số DN không được miễn giảm thuế TNDN và có kết quả kinh doanh đột biến trong năm 2009 lại muốn chuyển bớt lợi nhuận sang năm sau để có được bức tranh tài chính đẹp qua các năm thường có xu hướng ghi nhận không hết doanh thu trong năm hoặc ghi tăng chi phí không liên quan đến năm 2009. KTV sẽ phải tìm ra các khoản doanh thu năm 2009 chưa được hạch toán và các khoản chi phí không liên quan đến năm 2009 hoặc không đảm bảo nguyên tắc phù hợp và đề nghị DN điều chỉnh trên BCTC. Nếu phát hiện các sai sót là trọng yếu và ảnh hưởng tới quyết định của người đọc BCTC, nhưng DN không điều chỉnh, thì KTV sẽ đưa ra ý kiến ngoại trừ đối với BCTC của DN. Trong các trường hợp Báo cáo kiểm toán (BCKT) có ý kiến ngoại trừ, NĐT cần xem xét mức độ ảnh hưởng của nội dung ngoại trừ đến BCTC của DN.

Đối với các NĐT, có một vấn đề mà chúng tôi cũng hết sức lưu ý người đọc BCTC là việc áp dụng nhất quán các chính sách kế toán của DN năm 2009 so với năm 2008, do việc thay đổi chính sách kế toán áp dụng có thể sẽ làm ảnh hưởng đáng kể tới các con số được phản ánh trên BCTC. Do vậy, NĐT nên giành sự quan tâm đáng kể cho phần Thuyết minh BCTC hơn là chỉ quan tâm đến các con số trên BCTC.

Trong các BCTC năm 2009, lợi nhuận quý III, quý IV của nhiều DN chênh nhau rất xa, NĐT nên lưu ý những gì?

Thông thường có một số DN có kết quả kinh doanh không đồng đều giữa các quý, nhất là các DN có chu kỳ kinh doanh mang tính thời vụ như: DN kinh doanh sản phẩm ngành nông nghiệp, DN bánh kẹo, DN thủy điện… NĐT cần xem xét đến chu kỳ kinh doanh của DN thông qua việc xem xét BCTC từng quý của các năm trước trên các website của DN hoặc các CTCK.

Tuy nhiên, NĐT cũng cần phải xem xét sự tác động của các yếu tố môi trường kinh doanh tới hoạt động của DN như giá cả vật tư, hàng hóa, tỷ giá ngoại tệ và biến động của TTCK, nhất là trong năm 2008 và 2009, khi mà nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến một số DN phải trích lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Dầu thực vật Tường An, DN kinh doanh thép), trích lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư (các CTCK và các DN có tham gia đầu tư tài chính lớn). Từ đó, dẫn đến kết quả kinh doanh giữa các quý và giữa các năm của DN không đồng đều. Trong các trường hợp này, NĐT cần xem xét về biến động giá của vật tư, hàng hóa, tỷ giá trên các trang thông tin về giá cả thị trường và tìm hiểu rõ giá gốc của các khoản đầu tư tài chính mà DN đang nắm giữ trong thuyết minh BCTC của DN để xác định mức độ ảnh hưởng của các biến động nêu trên đến BCTC của DN.

Xin ông cho biết, những vấn đề kiểm toán thường gặp và phải ngoại trừ trong BCTC 2009?

Trong quá trình kiểm toán, một số vấn đề chúng tôi thường phải ngoại trừ gồm DN có kết quả kinh doanh không như mong muốn, không trích lập dự phòng các khoản đầu tư chứng khoán, dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng giảm giá hàng tồn kho vào chi phí trong năm. Một số khoản đầu tư chứng khoán không có giá giao dịch trên thị trường theo quy định thì DN không phải trích lập dự phòng, nhưng KTV nhận thấy, giá trị thực tế của khoản đầu tư (vào giai đoạn thị trường sôi động) nhỏ hơn rất nhiều so với giá ghi sổ kế toán. Một số công ty đại chúng phát hành tăng vốn điều lệ không được UBCK cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng. Một số DN hạch toán doanh thu không theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.

(Theo tinnhanhchungkhoan.vn)

Đơn vị kiểm toán không được mua chứng khoán của đối tượng kiểm toán

Doanh nghiệp kiểm toán mua, bán cổ phiếu, trái phiếu, tài sản của đơn vị được kiểm toán thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.


Nội dung theo dự thảo Luật Liểm toán độc lập từ Bộ Tài Chính vừa ban hành.
Theo đó, doanh nghiệp kiểm toán mua, bán cổ phiếu, trái phiếu, tài sản của đơn vị được kiểm toán thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; trường hợp vi phạm nhiều lần thì bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

Nếu CTKT thông tin, phóng đại, quảng cáo sai sự thật về trình độ, kinh nghiệm và khả năng cung cấp dịch vụ của kiểm toán viên và DN kiểm toán… thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; trường hợp vi phạm nhiều lần thì bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

Kiểm toán viên tự mình hoặc thay mặt bên thứ ba thực hiện các dịch vụ mà DN kiểm toán của mình đã đăng ký kinh doanh vì lợi ích cá nhân mà không được phép của DN kiểm toán; hoặc thực hiện kiểm toán cho đơn vị được kiểm toán mà mình đã từng là người có trách nhiệm quản lý, điều hành, thành viên ban kiểm soát hoặc là kế toán trưởng của đơn vị đó trong vòng 3 năm trước thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; trường hợp vi phạm nhiều lần thì bị thu hồi chứng chỉ kiểm toán viên.
Dự Thảo Luật kiểm toán quy định, doanh nghiệp kiểm toán chấm dứt hoạt động trong các trường hợp:
Tự chấm dứt hoạt động; Bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động; Công ty kiểm toán bị hợp nhất, bị sáp nhập; Giám đốc doanh nghiệp tư nhân kiểm toán chết mà không có người thay thế; Trường hợp khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
V.Minh
Theo Mof

Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2010

Kiểm toán độc lập: Vướng vì thiếu luật


Lãnh đạo Bộ Tài chính, VACPA, các doanh nghiệp kiểm toán tại buổi hội thảo ngày 5/2.

Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay đang gặp không ít khó khăn bởi thiếu những quy định mang tính pháp lý cụ thể
Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay đang gặp không ít khó khăn bởi thiếu những quy định mang tính pháp lý cụ thể.

Chính vì thế, việc ban hành Luật Kiểm toán độc lập đang là đòi hỏi cấp thiết nhằm điều chỉnh hoạt động kiểm toán độc lập cũng như việc đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm nghĩa vụ của các bên liên quan.

Tại hội thảo lấy ý kiến cho dự thảo Luật Kiểm toán độc lập do Bộ Tài chính tổ chức ngày 5/2, đa số các đại biểu đều cho rằng, với những quy định chỉ dừng ở cấp độ nghị định như hiện nay, hoạt động kiểm toán độc lập đã gặp không ít những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là những chế tài hướng dẫn, xử lý những vấn đề nảy sinh và các hành vi vi phạm trong hoạt động kiểm toán độc lập.

Nghị định “ôm” không xuể

Theo TS Hà Thị Thu Hà, Phó vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán - kiểm toán (Bộ Tài chính), hiện hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam tuy đã xuất hiện được gần 20 năm, song do trong suốt quá trình đó, nền kinh tế vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, nên các yếu tố của thị trường dịch vụ tài chính, trong đó có dịch vụ kiểm toán vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh.

Mặt khác, thực tế thì các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn chưa chú trọng công tác quản trị công ty, trong đó có việc sử dụng công cụ kiểm toán độc lập để soát xét việc tuân thủ quy định pháp luật cũng như đảm bảo khách quan, trung thực và công khai hóa thông tin.

Tuy nhiên, yếu tố có vai trò quyết định trong những tồn tại và hạn chế của hoạt động kiểm toán độc lập hiện nay là vấn đề pháp luật. Nghị định về kiểm toán độc lập là văn bản pháp lý cao nhất hiện nay của hoạt động này, song nó lại chưa tương xứng với vai trò, vị trí hoạt động kiểm toán độc lập trong nền kinh tế.

Theo TS. Hà, kiểm toán độc lập là dịch vụ đặc biệt vì nó cung cấp sự “chứng thực” thông tin kinh tế, tài chính cho xã hội. Trong khi đó, chất lượng dịch vụ kiểm toán độc lập lại phụ thuộc vào trình độ, năng lực của đội ngũ kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán.

Chính vì vậy, yêu cầu đòi hỏi phải quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các đối tượng trên là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng kiểm toán.

Thế nhưng, với việc chỉ có nghị định là văn bản pháp lý cao nhất để điều chỉnh các vấn đề liên quan trên, đã không đảm bảo được hiệu lực pháp lý đầy đủ để những tổ chức, cá nhân liên quan thực thi quyền và trách nhiệm của mình.

Bên cạnh đó, hiện nghị định về kiểm toán độc lập lại không quy định đầy đủ các nội dung cần thiết để tăng cường chất lượng dịch vụ kiểm toán và đáp ứng yêu cầu hội nhâp. Chẳng hạn, nghị định quy định chưa quy định rõ về việc nghiêm cấm, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp và khách hàng kiểm toán.

“Điều này đã dẫn đến thực tế là khó quy trách nhiệm để xử lý những vi phạm nảy sinh trong quá trình kiểm toán độc lâp”, TS. Hà cho biết.

Còn theo bà Hà Thị Thu Thanh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Deloitte Việt Nam, nghị định về kiểm toán độc lập hiện nay chưa quy định cơ quan đầu mối quản lý đối với hoạt động kiểm toán độc lập từ khi cấp phép cũng như quản lý trong quá trình hoạt động, hay việc bổ sung, thay đổi hồ sơ, điều chỉnh, thu hồi giấy phép, xử lý vi phạm... nên chưa thể đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các tiêu chuẩn, điều kiện thành lập doanh nghiệp.

Ngay cả việc không quy định về vốn tối thiểu đối với công ty kiểm toán TNHH cũng gây nên những bất cập trong việc thực hiện bồi thường thiệt hại khi có rủi ro trong quá trình kiểm toán cho khách hàng, đồng thời chưa tạo được động lực buộc doanh nghiệp kiểm toán phải rất cẩn trọng khi cung cấp dịch vụ kiểm toán cho xã hội.

Bà Thanh cho hay, trong nghị định hiện nay cũng chưa quy định đầy đủ về quyền và nghĩa vụ, ngăn cấm hành vi của những doanh nghiệp kiểm toán. Do vậy đã dẫn đến việc có nhiều doanh nghiệp trong giai đoạn đầu mới thành lập đã nặng về doanh thu và thị trường hơn là yếu tố chất lượng.

“Điều này đã ảnh hưởng đến nhiều trường hợp thông tin sai lệch, trong khi chúng ta lại chưa có cơ chế xử lý”, bà Thanh nói.

Bên cạnh đó, họ không đáp ứng đủ được những yêu cầu tối thiểu, chẳng hạn như số lượng kiểm toán viên hành nghề, thuê mượn chứng chỉ, sử dụng kết quả báo cáo kiểm toán...

Ngoài ra, theo bà Thanh, nhiều vấn đề về kỹ thuật kiểm toán như: quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán, báo cáo kiểm toán, kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán... cũng chưa được quy định trong nghị định.

“Hiện nghị định cũng chưa quy định đầy đủ, chặt chẽ về hoạt động kiểm toán độc lập có yếu tố nước ngoài như: điều kiện hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, về vấn đề liên doanh liên kết, cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ có liên quan qua biên giới, về công nhận bằng cấp, chứng chỉ kiểm toán viên nước ngoài”, bà Thanh cho hay.

Cần nâng lên thành luật hóa

Theo bà Thanh, chính những bất cập trên đã dẫn tới điều đáng tiếc là, đúng vào lúc cộng đồng đang cần và tin tưởng vào hoạt động kiểm toán độc lập thì cũng là lúc nảy sinh những nghi ngờ về chất lượng, tính trung thực của các báo cáo kiểm toán.

“Những thiếu sót trên không chỉ dừng lại ở cấp độ bổ sung mà cần phải được nâng lên thành luật hóa”, bà Thanh đưa ra quan điểm.

Trong khi đó, theo ông Bùi Văn Mai, Phó chủ tịch thường trực Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), kiểm toán độc lập xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1991, trong khi thế giới có từ trên 100 năm, nên việc xây dựng luật cũng cần phải có một quá trình. Chúng ta không thể mang nguyên luật của thế giới áp dụng cho thực tiễn Việt Nam.

Trong 19 năm qua, chúng ta mới chỉ dừng lại ở cấp độ nghị định về kiểm toán độc lập. Hiện hoạt động kiểm toán độc lập đã được xã hội thừa nhận và khi thị trường chứng khoán phát triển thì nó đã có tác dụng rõ rệt.

Ông Mai cho biết, thực tế, Bộ Tài chính đã đề cập đến việc xây dựng luật kiểm toán độc lập từ 6 – 7 năm trước, nhưng khi đó chúng ta phải tập trung cho việc xây dựng Luật Kiểm toán Nhà nước, nên Quốc hội đã chỉ đạo phải căn cứ trên sự triển khai Luật Kiểm toán Nhà nước để tránh những chồng chéo và rút ra được những vướng mắc trong thực tế để xây dựng luật hoàn chỉnh.

Hơn nữa, theo ông Mai, kiểm toán độc lập trước hết vì lợi ích chung của toàn xã hội, nên mục tiêu của nó là phải xác minh tính trung thực trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp trước khi công khai, giúp cho các tổ chức, cá nhân có quyền lợi liên quan đến doanh nghiệp đó.

“Chính vì vậy, nếu tự mình phát triển thì rất khó để đạt được trình độ phát triển cao. Việc mở cửa hội nhập của nền kinh tế sẽ mang lại nhiều lợi ích thông qua việc tiếp cận các cơ hội học hỏi, tiếp cận những kinh nghiệm của thế giới, giúp chúng ta hoàn thiện dần các vấn đề mang tính pháp lý của hoạt động kiểm toán độc lập", ông Mai cho biết.


Tuy nhiên, theo ông Mai, nếu việc ban hành luật kiểm toán độc lập bị chậm trễ theo kế hoạch sẽ gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp kiểm toán và các bên liên quan.


Theo Vneconomy

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

Cần có Luật Kiểm toán độc lập

Bà Hà Thị Thu Thanh - Tổng giám đốc Công ty TNHH Deloitte Việt Nam.

Kiểm toán độc lập là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường với vai trò mang lại độ tin cậy cho các thông tin tài chính
Kiểm toán độc lập là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường với vai trò mang lại độ tin cậy cho các thông tin tài chính thông qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán, qua đó tạo cơ sở cho các bên tiến hành các giao dịch kinh tế.

Kiểm toán độc lập ở Việt Nam hình thành và phát triển bằng việc thành lập công ty kiểm toán đầu tiên vào tháng 5/1991. Sau 18 năm hoạt động với những thay đổi và yêu cầu mới về kiểm toán độc lập ở Việt Nam, trong yêu cầu hội nhập và thực hiện các cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì khung pháp lý về kiểm toán độc lập tại Việt Nam cần được hoàn thiện và nâng cấp.

Đánh giá về khung pháp lý của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam, bà Hà Thị Thu Thanh - Tổng giám đốc Công ty TNHH Deloitte Việt Nam, nói:

- Sau 18 năm hoạt động, kiểm toán độc lập đã phát triển nhanh về số lượng và quy mô cũng như nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ cung cấp. Đến nay cả nước đã có 165 doanh nghiệp dịch vụ kế toán, kiểm toán với trên 6.400 người làm việc, có gần 1.500 người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên.

Được hình thành và phát triển từ năm 1991 nhưng đến năm 1994 thì Chính phủ mới chính thức ban hành Nghị định 07/CP ngày 29/01/1994 về “kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân”. Sau 10 năm thực hiện Nghị định 07, đến tháng 3/2004 Chính phủ ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP thay thế Nghị định 07. Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung tại các Nghị định 133/2005/NĐ-CP ngày 31/10/2005 và Nghị định 30/2009/NĐ-CP ngày 30/03/2009.

Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ tài chính và kiểm toán độc lập trong mấy năm gần đây, hiện Nghị định 105 cho thấy còn có những hạn chế. Bởi vì Nghị định về kiểm toán độc lập chưa tương xứng với vai trò, vị trí hoạt động kiểm toán độc lập trong nền kinh tế.

Hiện nay mới chỉ có nghị định là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh các vấn đề về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán, khách hàng, đơn vị được kiểm toán và các tổ chức, cá nhân sử dụng kết quả kiểm toán,…nên không đảm bảo được hiệu lực pháp lý đầy đủ để những tổ chức, cá nhân có liên quan thực thi quyền và trách nhiệm của mình.

Theo kinh nghiệm của bà, thực tế ban hành luật kiểm toán độc lập ở các nước hiện nay như thế nào?

Tất cả các nước phát triển như Anh, Mỹ, Canada, cộng đồng châu Âu đều có luật hoặc các điều khoản luật về kiểm toán độc lập hoặc luật kế toán viên công chứng.

Ví dụ tại Anh, Mỹ, việc quy định về báo cáo tài chính và kiểm toán được quy định cụ thể trong 1 chương của Luật Công ty. Tại Liên bang Nga có Luật Kiểm toán được Hội đồng Liên bang phê duyệt từ năm 2001. Ở Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore đều có Luật Kế toán viên công chứng được ban hành từ nhiều năm qua trong đó đều có các qui định chung về các qui tắc hoạt động của các kế toán viên công chứng.

Luật Kiểm toán viên công chứng của Trung Quốc được ban hành nhằm qui định vai trò của kế toán viên công chứng (CPA)- các kiểm toán viên độc lập - trong nền kinh tế và xã hội, tăng cường quản lý hoạt động của kiểm toán độc lập, qua đó bảo vệ lợi ích của cộng đồng cũng như quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.

Còn Luật Kiểm toán viên Công chứng của Hàn Quốc được ban hành nhằm xây dựng vững chắc một hệ thống cho các kế toán viên công chứng nhằm góp phần vào việc bảo vệ quyền và lợi ích của người dân, quản lý tốt các doanh nghiệp, và phát triển nền kinh tế quốc gia.

Từ thực tiễn ở Việt Nam và kinh nghiệm của thế giới, bà có thể cho biết tại sao Việt Nam cần ban hành Luật kiểm toán độc lập?

Việc ban hành Luật kiểm toán độc lập trong bối cảnh hiện nay là cần thiết, khách quan trên các phương diện sau:

Thứ nhất, việc ban hành luật sẽ tạo ra một khung pháp lý cao nhất về kiểm toán độc lập, luật này nếu được ban hành sẽ khắc phục được những hạn chế của Nghị định 105/2004/NĐ-CP về kiểm toán độc lập, tạo điều kiện cho dịch vụ kiểm toán phát triển cả về quy mô cũng như chất lượng.

Thứ hai, luật này sẽ quy định các nội dung chặt chẽ hơn về điều kiện thành lập và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán, điều kiện để cấp chứng chỉ kiểm toán viên, điều kiện hành nghề kiểm toán,… quy định về các nguyên tắc kiểm toán, nội dung kiểm toán, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán, của kiểm toán viên hành nghề và các điều bị cấm, hạn chế để đảm bảo nâng cao chất lượng dịch vụ và tính độc lập của ngành nghề này.

Những nội dung đó là hết sức cần thiết, nhằm điều chỉnh các hành vi của doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán viên trong suốt quá trình hoạt động. Đó cũng là tiêu chí, điều kiện để cơ quan quản lý nhà nước giám sát chất lượng đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện, phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Tôi cho rằng việc ban hành khuôn khổ pháp lý cao, chặt chẽ sẽ tạo điều kiện cho công tác giám sát chất lượng, phòng ngừa những thiệt hại có thể xảy ra với nền kinh tế cũng như các doanh nghiêp và các nhà đầu tư.

Thứ ba, việc ban hành Luật kiểm toán độc lập sẽ nâng cao vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động doanh nghiệp kiểm toán, cấp chứng chỉ kiểm toán viên và các biện pháp nhằm nâng cao năng lực giám sát, cưỡng chế thực thi, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kiểm toán.

Thứ tư, Luật kiểm toán độc lập ra đời sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với dịch vụ kiểm toán, trong đó có doanh nghiệp có lợi ích công chúng bắt buộc phải kiểm toán. Đồng thời cũng đáp ứng được yêu cầu hội nhập trong lĩnh vực này.

Hiện nay trong các cam kết quốc tế như WTO, ASEAN… lĩnh vực dịch vụ kiểm toán đã mở cửa không hạn chế. Việc ban hành Luật kiểm toán độc lập sẽ xác lập vị trí pháp lý tương đồng với quốc tế nhằm thúc đẩy hội nhập trong lĩnh vực này, đồng thời có đầy đủ quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hành vi.

Kế hoạch xây dựng dự thảo Luật kiểm toán độc lập hiện nay theo bà biết sẽ theo lộ trình như thế nào?

Theo thông tin từ Bộ Tài chính, trong tháng 4 năm nay Bộ này sẽ trình Chính phủ phê duyệt Dự án xây dựng Luật Kiểm toán độc lập. Nếu Chính phủ phê duyệt thì đến tháng 11 năm nay, dự luật này sẽ được trình ra Ủy ban thường vụ Quốc hội phê duyệt để có thể đưa vào kế hoạch ban hành trong năm 2011.

Theo Vneconomy

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010

Vai trò của công ty kiểm toán và hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) trong việc góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

VAI TRÒ CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ HỘI KIỂM TOÁN VIÊN HÀNH NGHỀ VIỆT NAM (VACPA) TRONG VIỆC GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

(Phát biểu tại hội nghị phát triển thị trường chứng khoán năm 2010 của UBCK Nhà nước)

Bùi Văn Mai

Phó Chủ tịch VACPA


1. Vai trò của thông tin và cơ sở tạo lập thông tin công khai trên thị trường chứng khoán

Việc công khai, minh bạch thông tin kinh tế, tài chính của các doanh nghiệp niêm yết có vai trò quan trọng, quyết định đến sự phát triển của thị trường chứng khoán. Chúng ta đều biết, các thông tin chính thức, kể cả thông tin không chính thức, tin đồn, đều có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý và quyết định của nhà đầu tư. Do đó, để thị trường phát triển ổn định thì phải bằng mọi cách cung cấp kịp thời, đầy đủ, trung thực các thông tin chính thức và hạn chế tối đa thông tin sai lệch, không chính thức.

Thông tin chính thức về Báo cáo tài chính do các công ty niêm yết công khai được tạo lập từ 02 cơ sở:

- Do công ty niêm yết tổ chức thu thập, ghi chép và tổng hợp;

- Do kiểm toán viên, công ty kiểm toán xác nhận…

Từ lâu chúng ta đã nhận thức được vai trò của công tác kế toán trong công ty niêm yết trong việc thực hiện công việc kế toán và lập báo cáo tài chính, báo cáo thường niên để công khai trên thị trường chứng khoán nhưng về vai trò của các kiểm toán viên và công ty kiểm toán trong việc xác nhận sự trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính trước khi công khai thì chưa được chúng ta đánh giá đầy đủ.

Tại hội nghị này, tôi xin khẳng định rằng: Các kiểm toán viên và công ty kiểm toán thực sự có vai trò quan trọng thứ 2, sau doanh nghiệp niêm yết trong việc tạo lập thông tin và công bố thông tin kinh tế tài chính cho thị trường chứng khoán.

2. Vai trò của các kiểm toán viên và công ty kiểm toán trong việc tạo lập và công khai thông tin kinh tế tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp niêm yết phải lập báo cáo tài chính và công khai là trách nhiệm đương nhiên, không thể không làm được. Tuy nhiên vì lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của cá nhân; vì ý thức cố hữu của con người trong kinh doanh; vì nhận thức và năng lực chuyên môn… nên Báo cáo tài chính có thể là cố tình hoặc vô tình đều có sai phạm hoặc nhầm lẫn. Do đó, trước khi công khai, thay thế bằng việc kiểm tra, xét duyệt Báo cáo tài chính của cơ quan Nhà nước như 20 năm trước đây, khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, theo quy định của Nhà nước đã được các kiểm toán viên, các công ty kiểm toán kiểm tra, xác nhận.

Vai trò của các kiểm toán viên và công ty kiểm toán thể hiện ở chỗ:

- Tư vấn cho doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán và lập Báo cáo tài chính đúng quy định và kịp thời gian, nhất là các doanh nghiệp mới chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần, các tổng công ty, công ty mẹ phải lập Báo cáo tài chính hợp nhất, hoặc tư vấn trong việc xử lý các tình huống kế toán phức tạp như: Chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản, thuế hoãn lại, dự phòng chi phí…

- Tư vấn thuế cho doanh nghiệp trong việc thực hiện đúng Luật thuế nhưng có lợi cho doanh nghiệp…

- Thực hiện kiểm tra, phát hiện các sai phạm và nhầm lẫn về kế toán và lập Báo cáo tài chính để giúp doanh nghiệp điều chỉnh để đảm bảo Báo cáo tài chính do doanh nghiệp lập là trung thực và hợp lý…

- Đưa ý kiến xác nhận về sự trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính, hoặc là ngoại trừ, từ chối hoặc không chấp nhận Báo cáo tài chính giúp nhà đầu tư có đủ thông tin khi đánh giá tình hình kinh tế, tài chính của doanh nghiệp trước khi quyết định đầu tư hoặc bán cổ phiếu.

Nhà đầu tư tiềm năng, nhà đầu tư riêng lẻ và kể cả nhà đầu tư chiến lược của doanh nghiệp niêm yết cũng không thể tự mình kiểm tra, đánh giá tài liệu, sổ sách kế toán của doanh nghiệp được nên chỉ có 1 cơ sở quan trọng là đặt niềm tin vào các kiểm toán viên và công ty kiểm toán.

3. Vai trò của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) trong việc tạo lập và công khai thông tin kinh tế, tài chính doanh nghiệp


Như chúng ta đã biết, kiểm toán viên và công ty kiểm toán độc lập hoạt động kiểm toán theo quy định của pháp luật và tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán, kiểm toán được quy định rất chặt chẽ, tuân thủ thông lệ quốc tế và phù hợp điều kiện Việt Nam.

Các kiểm toán viên và công ty kiểm toán chỉ được hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm toán khi có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ, phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, chịu sự kiểm tra, giám sát của thị trường và cơ quan quản lý Nhà nước, chỉ tồn tại và phát triển được trên cơ sở uy tín, chất lượng dịch vụ được xã hội chấp nhận.

Các quy định của pháp luật và thị trường đã ràng buộc công ty kiểm toán và kiểm toán viên thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, kiểm toán viên và công ty kiểm toán vẫn là doanh nghiệp; kiểm toán là dịch vụ; cũng chịu sự chi phối của thị trường, cạnh tranh… nên cũng không tránh khỏi các sai sót vô tình hoặc cố ý. Do đó, bên cạnh sự quản lý Nhà nước của Bộ Tài chính, theo thông lệ và kinh nghiệm quốc tế, các kiểm toán viên và công ty kiểm toán còn là hội viên của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), chịu sự kiểm tra, giám sát của Hội, cũng như được sự hỗ trợ, tư vấn của Hội.

Vai trò của VACPA trực tiếp đối với kiểm toán viên và công ty kiểm toán, và gián tiếp đối với thị trường chứng khoán như sau:

- Tổ chức đào tạo, cập nhật kiến thức thường niên cho các kiểm toán viên, trợ lý kiểm toán viên và Giám đốc các công ty kiểm toán: Về thời gian tối thiểu là 40 giờ/ 1 người/ 1 năm; Về nội dung, chủ yếu là cập nhật các văn bản mới ban hành của cơ quan Nhà nước về tài chính, kế toán, thuế và các vấn đề có liên quan. Tổ chức phổ biến, truyền đạt các kinh nghiệm trong nước và quốc tế, tạo điều kiện cho kiểm toán viên luôn có nhận thức, hiểu biết trước doanh nghiệp;

- Cung cấp thông tin và tư vấn chuyên môn cho Hội viên thông qua việc tổ chức hội thảo, tọa đàm, đối thoại, trả lời câu hỏi, giúp xử lý các tình huống mới phát sinh;

- Quản lý hành nghề, bảo đảm các kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện khi thành lập cũng như trong quá trình hoạt động, cũng chính là đảm bảo chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán thông qua việc xác nhận đủ điều kiện và công khai danh sách công ty kiểm toán đủ điều kiện hành nghề hàng năm;

- Kiểm soát chất lượng dịch vụ, đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên thông qua các đợt kiểm tra trực tiếp tại các công ty kiểm toán, thường niên 3 năm 1 lần hoặc bất thường khi có thông tin sai phạm… Kết quả này được cung cấp cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trước khi xem xét, xác nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ kiểm toán công ty niêm yết;

- Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam còn tham gia với cơ quan Nhà nước trong việc ban hành cơ chế chính sách, tạo lập thị trường hoạt động minh bạch, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam… Việc tham gia vào Hội nghị này chính là đóng góp của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và thị trường chứng khoán Việt Nam.

4. Một số kiến nghị

(1) Các doanh nghiệp niêm yết cần lựa chọn kiểm toán viên và công ty kiểm toán uy tín và chất lượng hơn là giá rẻ (Trong nền kinh tế thị trường khó tồn tại khái niệm “nhanh, nhiều, tốt, rẻ”); nên ký hợp đồng kiểm toán cho 2, 3 năm liền; ký trước kết thúc năm kiểm toán đầu tiên 30 ngày; Cần hợp tác với kiểm toán viên; Yêu cầu kiểm toán viên có Thư quản lý, tư vấn cho doanh nghiệp bên cạnh Báo cáo kiểm toán…

(2) Nhà đầu tư cần đòi hỏi doanh nghiệp niêm yết tuân thủ các quy định về kế toán, kiểm toán; đòi hỏi phải có toàn văn Báo cáo kiểm toán đính kèm Báo cáo tài chính khi công khai; Cần nghiên cứu kỹ ý kiến của kiểm toán viên; Cần yêu cầu doanh nghiệp niêm yết không để kiểm toán viên đưa ra ý kiến ngoại trừ khi cần thiết phải yêu cầu kiểm toán viên giải trình trước Đại hội cổ đông…

(3) Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần thực hiện hoặc phối hợp với VACPA để kiểm tra, giám sát chất lượng dịch vụ của các kiểm toán viên và công ty kiểm toán được chấp nhận kiểm toán công ty niêm yết; Cần phối hợp với VACPA tổ chức đào tạo, cập nhật kiến thức về kế toán, kiểm toán cho công ty niêm yết… và tuyên truyền quảng bá về hoạt động kiểm toán giúp nhà đầu tư và xã hội nâng cao hiểu biết hơn về kiểm toán; tạo điều kiện cho VACPA tham gia các hoạt động của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước góp phần phát triển thị trường…

(4) Bộ Tài chính cần đẩy nhanh tiến độ ban hành Luật Kiểm toán độc lập; Cập nhật và ban hành mới các chuẩn mực kế toán, kiểm toán; Tổ chức thêm kỳ thi kiểm toán viên để tăng thêm lao động kiểm toán có chất lượng cao; Bộ Tài chính cũng cần chủ động kiểm tra, giám sát chất lượng hoạt động và đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên; Hỗ trợ VACPA hoạt động tốt cũng chính là hỗ trợ Bộ Tài chính thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước của mình…

Để kết luận ý kiến của mình, tôi xin khẳng định lại: Nhờ có các kiểm toán viên và công ty kiểm toán mà công việc kế toán và lập Báo cáo tài chính của các Doanh nghiệp đã tốt lên rất nhiều, nhất là trong khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, cơ chế chính sách, chuẩn mực kế toán, kiểm toán thay đổi lớn và thường xuyên như những năm qua; Nhờ có kiểm toán viên và công ty kiểm toán mà các nhà đầu tư, cơ quan Nhà nước và xã hội được cung cấp hệ thống thông tin kinh tế, tài chính khá trung thực, hợp lý như hiện nay. Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam đã và đang cố gắng hỗ trợ kiểm toán viên và công ty kiểm toán cũng như cơ quan Nhà nước trong việc tạo lập ra hệ thống thông tin kinh tế, tài chính trung thực và công khai, minh bạch góp phần cho thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển trong năm 2010 cũng như các năm sau./.

MC - Web