Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2010

TP.HCM: Hóa đơn tiền điện trong tháng 3 sẽ có hai giá

Ngày 2/3, Công ty Điện lực TP HCM đã có thông báo về cách tính hoá đơn tiền điện theo giá mới.

Theo đó, tất cả các điện kế đang vận hành trên lưới (trừ khách hàng sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt), sẽ được tính theo phương pháp chốt chỉ số. Sản lượng điện tính giá cũ được căn cứ tại thời điểm chốt chỉ số (ngày 1/3) trở về trước, lượng điện được tính theo giá mới tại thời điểm chốt chỉ số trở về sau. Cùng ngày, Công ty đã cơ bản hoàn tất việc chốt chỉ số điện kế loại này trên toàn thành phố, với số lượng trên 127.000 điện kế.

Riêng khách hàng sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt (không thực hiện chốt chỉ số), sẽ dùng phương pháp nội suy. Cụ thể, sẽ lấy bình quân ngày sử dụng điện trong tháng, rồi căn cứ vào mốc 1/3 để xác định lượng điện theo giá cũ và giá mới.

Điện lực TP HCM cũng cho biết, do việc ghi chỉ số điện kế được chia thành nhiều phiên, mỗi phiên ghi 1 ngày, từ ngày 3 đến ngày 25 của tháng 3/2010. Vì thế, hóa đơn tiền điện của khách hàng trong tháng 3 đều có sản lượng điện tiêu thụ theo giá cũ và giá mới.

(Theo Đất Việt)

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

350.000 tỉ đồng xây hệ thống đường cao tốc Việt Nam

Số vốn đầu tư khổng lồ này để xây dựng hệ thống đường cao tốc Việt Nam theo quy hoạch đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 vừa được Thủ tướng phê duyệt. Trong đó hai tuyến cao tốc Bắc - Nam mở ra nhiều hứa hẹn phát triển.

Hiện nay, mỗi ngày có 40.000-50.000 ôtô lưu thông trên đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương, chiếm khoảng 70% số xe trước đây lưu thông trên quốc lộ 1A - Ảnh: MINH ĐỨC

Dưới cái nhìn của những người làm kinh tế, đường cao tốc rút ngắn thời gian lưu thông cũng chính là giúp quay nhanh đồng vốn làm tăng lợi nhuận.

Nhiều đường cao tốc mới

Đường cao tốc đầu tiên 100% “made in VN”: TP.HCM - Trung Lương (TP.HCM - Long An - Tiền Giang) thông xe tạm vào ngày 3-2-2010 được coi là một cột mốc lịch sử. Chỉ sau ba ngày đưa đường cao tốc này vào sử dụng, quốc lộ 1A đã thông thoáng vì có đến 80% lượng ôtô trước đây lưu thông trên quốc lộ 1A đã chuyển qua đi đường cao tốc.

Trong năm 2009 có rất nhiều dự án xây dựng đường cao tốc được khởi công. Cụ thể, ngày 3-10-2009 khởi công xây dựng đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây. Ngày 24-11-2009, khởi công xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên. Theo Tổng công ty Đường cao tốc VN, dự kiến năm 2010 sẽ khởi công đường cao tốc Bến Lức (Long An) - Long Thành (Đồng Nai). Trước đó, đường cao tốc Nội Bài (Hà Nội) - Lào Cai dài 264km được khởi công năm 2008 và dự kiến hoàn thành vào năm 2012.

Ngày 29-11-2009 khởi công đường cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận (Tiền Giang), nối đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương và đưa tuyến đường cao tốc TP.HCM về đến Mỹ Thuận dài gần 94km. Trong tương lai, tuyến đường cao tốc này sẽ được nối đến Cần Thơ, dài 129km. Tuyến đường cao tốc này là một phần của tuyến cao tốc Bắc - Nam từ Hà Nội đến Cần Thơ dài 1.941km.

Tương tự, việc khởi công tuyến đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây nhằm rút ngắn thời gian đi từ TP.HCM đến sân bay quốc tế mới sẽ được xây dựng ở Long Thành khi sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã quá tải. Trong tương lai không xa, tuyến đường cao tốc này sẽ được kết nối từ Dầu Giây đến TP Đà Lạt, dài 209km. Lúc đó, người dân từ TP.HCM đi xe lên Đà Lạt không quá ba giờ, trong khi hiện nay phải mất 7-8 giờ.

Trong năm 2010, các cơ quan chức năng dự kiến khởi công xây dựng đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu. Ngoài thu hút khách du lịch đến Vũng Tàu, tuyến đường này còn giúp vận chuyển nhanh hàng hóa xuất nhập khẩu từ các cảng biển nước sâu Cái Mép - Thị Vải và các khu công nghiệp ở Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, thúc đẩy phát triển mạnh cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Mạng lưới đường cao tốc cũng được kết nối với các nước lân cận như Campuchia và Trung Quốc. Trong đó có một tuyến đường cao tốc nối đến Campuchia sẽ được xây dựng từ TP.HCM đến Mộc Bài (Tây Ninh) dài 55km. Có ba tuyến đường cao tốc nối đến Trung Quốc gồm: tuyến từ Nội Bài (Hà Nội) - Hạ Long - Móng Cái dài 295km, Hà Nội - Việt Trì - Lào Cai dài 264km và Lạng Sơn - Bắc Giang - Bắc Ninh dài 130km. Việc mở các tuyến cao tốc đến các nước lân cận không những đẩy mạnh phát triển du lịch mà còn tạo giao thương hàng hóa giữa các nước được phát triển mạnh.

Cần chính sách về vốn và giải phóng mặt bằng

Theo ông Phan Hồng Quang - tổng giám đốc Công ty cổ phần phát triển đường cao tốc BIDV (gọi tắt là BEDC), để xây dựng đường cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận có vốn đầu tư 19.000 tỉ đồng, Chính phủ đã chấp thuận thành lập doanh nghiệp BEDC, trong đó gồm tám đơn vị là những tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn có năng lực và kinh nghiệm trong triển khai các công trình trọng điểm quốc gia, các công trình giao thông đường bộ, có khả năng thu xếp tài chính cho dự án.

Toàn bộ kinh phí đầu tư xây dựng dự án theo hình thức BOT (đầu tư, kinh doanh và chuyển giao) là vốn tự có của BEDC và vốn vay thương mại do Ngân hàng Đầu tư và phát triển VN (BIDV) là đầu mối thu xếp nguồn vốn (không có ngân sách cấp phát) và dự kiến hoàn vốn sau 34 năm khai thác thu phí.

Ông Trần Xuân Sanh, tổng giám đốc Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc VN (VEC), cho biết hiện VEC đã đầu tư hơn 350km đường cao tốc thuộc ba dự án: Cầu Giẽ - Ninh Bình, TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, Nội Bài - Lào Cai với tổng vốn 50.000 tỉ đồng. Toàn bộ vốn là tiền đi vay chứ không có ngân sách cấp phát.

Theo ông Sanh, ở các nước, trong dự án đường bộ cao tốc vốn nhà nước chiếm từ 50% trở lên, còn lại doanh nghiệp huy động. Tiền của nhà nước đưa vào nhằm rút ngắn thời gian hoàn vốn, khuyến khích nhà đầu tư tham gia dự án.

Việc hoàn vốn cho đầu tư đường cao tốc ở VN chủ yếu từ thu phí. Theo tính toán, nếu lưu lượng xe hoạt động trên đường cao tốc đủ từ 100.000 xe/ngày đêm thì có thể hoàn vốn một tuyến đường trong 30 năm. Nhưng hiện nay tuyến có lưu lượng đông nhất của chúng ta chỉ khoảng 50.000 xe/ngày đêm trở lại. Vì vậy hoàn vốn qua thu phí hết sức khó khăn. Do đó, nhà đầu tư mong Chính phủ hỗ trợ tiền giải phóng mặt bằng (GPMB, chiếm 15-20% tổng vốn đầu tư).

Ngoài việc tự huy động nguồn vốn, hiện nay các dự án đường cao tốc đều gặp khó khăn về GPMB. Ở nước ngoài, khi phê duyệt dự án họ xúc tiến GPMB và bàn giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư. Toàn bộ chi phí GPMB do ngân sách nhà nước đảm nhận và chuyển giao cho các địa phương quản lý, thực hiện. Ở VN, do GPMB vướng mắc nên đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương gần chục năm mới làm được hơn 30km.

Ông Sanh cho biết hiện nay VEC đang đề nghị Chính phủ hỗ trợ GPMB bằng cách cấp ngân sách qua các địa phương để địa phương thực hiện GPMB trước khi khởi công dự án...

NGỌC ẨN - TUẤN PHÙNG

Hệ thống đường cao tốc đến năm 2020 và định hướng năm 2030

* Tuyến cao tốc Bắc - Nam: gồm hai tuyến với tổng chiều dài 3.262km:

- Tuyến cao tốc Bắc - Nam phía đông, bắt đầu từ Hà Nội đến Cần Thơ, dài 1.941km, quy mô 4-8 làn xe.

- Tuyến cao tốc Bắc - Nam phía tây đường Hồ Chí Minh, bắt đầu từ Phú Thọ đến Kiên Giang, dài khoảng 1.321km, quy mô 4-6 làn xe.

* Tuyến cao tốc khu vực phía Bắc: bảy tuyến đường cao tốc với tổng chiều dài khoảng 1.099km, gồm: Lạng Sơn - Bắc Giang - Bắc Ninh dài 130km, Hà Nội - Hải Phòng dài 105km, Hà Nội - Việt Trì - Lào Cai dài 264km, Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái dài 294km, Hà Nội - Thái Nguyên - Chợ Mới (Bắc Kạn) dài 90km, Láng - Hòa Lạc - Hòa Bình dài 56km, Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh dài 160km. Các tuyến đường cao tốc trên có quy mô 4-6 làn xe.

* Tuyến cao tốc khu vực miền Trung và Tây nguyên: ba tuyến với tổng chiều dài 264km, gồm: Hồng Lĩnh - Hương Sơn (Hà Tĩnh) dài 34km, Cam Lộ - Lao Bảo dài 70km, Quy Nhơn - Pleiku dài 160km. Các tuyến đường cao tốc trên có quy mô 4 làn xe.

* Tuyến cao tốc khu vực phía Nam: bảy tuyến với tổng chiều dài 984km, gồm: Biên Hòa - Vũng Tàu dài 76km, Dầu Giây - Đà Lạt dài 209km, TP.HCM - Thủ Dầu Một - Chơn Thành dài 69km, TP.HCM - Mộc Bài (Tây Ninh) dài 55km, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng dài 200km, Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc Liêu dài 225km, Cần Thơ - Cà Mau dài 150km. Tùy theo từng tuyến đường cao tốc được quy hoạch có quy mô 4-8 làn xe.

Vốn đầu tư xây dựng toàn bộ đường cao tốc trên khoảng 350.000 tỉ đồng (bình quân mỗi năm cần khoảng 29.160 tỉ đồng). Nhà nước huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước từ các thành phần kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau như đầu tư, khai thác, chuyển giao (BOT); đầu tư, chuyển giao, khai thác (BTO), phối hợp đầu tư nhà nước và tư nhân (PPP), phát hành trái phiếu công trình... Nhà nước tăng mức đầu tư từ ngân sách, phát hành trái phiếu chính phủ và ưu tiên vốn ODA để tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

NGỌC ẨN

Nguồn: Theo Tuổi trẻ

Nhật Bản nâng vốn ODA cho Việt Nam lên mức kỷ lục

Lễ ký công hàm trao đổi về việc Chính phủ Nhật Bản cung cấp vốn ODA cho Việt Nam.

Cam kết ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam trong tài khóa 2009 đạt 145,613 tỷ Yên, cao nhất từ trước đến nay
Chiều ngày 2/3, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc và Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Sakaba Mitsuo đã ký công hàm trao đổi về việc Chính phủ Nhật Bản cung cấp cho Chính phủ Việt Nam 25,822 tỷ Yên ODA, thuộc đợt 2 tài khóa 2009 của Nhật Bản (kết thúc vào 31/3/2010).

Khoản vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) nói trên được cung cấp để giúp Chính phủ Việt Nam triển khai 5 dự án cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội lớn, bao gồm: dự án xây dựng nhà ga hành khách - cảng hàng không quốc tế Nội Bài (12,607 tỷ Yên); dự án đường nối cầu Nhật Tân đi sân bay Nội Bài (6,546 tỷ Yên); dự án xây dựng cầu Cần Thơ (4,626 tỷ Yên); dự án khôi phục cầu quốc lộ 1 giai đoạn 3 đoạn Cần Thơ - Cà Mau và dự án phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghệ cao Hòa Lạc (đều trên 1 tỷ Yên).

Theo dự kiến, trong tháng 3 tới, tại Hà Nội, đại diện Bộ Tài chính Việt Nam và đại diện Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) sẽ ký 5 hiệp định tín dụng cụ thể cho các dự án này, dựa trên các điều kiện khung quy định tại công hàm trao đổi đã ký.

Với khoản vay này, cam kết ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam trong tài khóa 2009 đạt 145,613 tỷ Yên (tương đương 1,63 tỷ USD), cao nhất từ trước đến nay. Theo Bộ trưởng Võ Hồng Phúc, điều này chứng tỏ sự đánh giá cao của Chính phủ Nhật Bản đối với quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

Kể từ khi nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam vào năm 1992 đến nay, Nhật Bản luôn là nhà tài trợ lớn nhất, đạt tổng cộng 1.557 tỷ Yên, bao gồm cả khoản vay mới ký.


(Theo Vneconomy)

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Điện, xăng tăng sẽ 'đe doạ' chỉ số lạm phát

Năm nay, Chính phủ đặt chỉ tiêu lạm phát dừng ở mức 7%. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận định, chỉ số này khó dừng lại ở một con số, thậm chí có thể cao gấp đôi so với mức 7%, trong bối cảnh giá xăng, điện, nước đồng loạt tăng và tổng mức CPI hai tháng đầu năm đã chiếm nửa kế hoạch đề ra.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Quản lý kinh tế Trung ương, nói: “Tôi không tin giá cả trong năm nay sẽ trở về mức cũ, nói gì đến việc giảm giá. Thực tế thì giá cả đang dần hình thành một mặt bằng mới, rất nhiều yếu tố chỉ ra điều đó. Cụ thể, giá xăng liên tục tăng thời gian qua; giá điện sắp đội lên 6,8%; tỷ giá USD được các ngân hàng điều chỉnh lên mức kịch trần khiến giá hàng nhập khẩu tăng mạnh; nhiều loại thuế bị “đánh” trở lại như thuế môn bài, thuế khai thác tài nguyên... Trong khi đó, Chính phủ đã giảm ưu đãi cho doanh nghiệp, như cắt gói hỗ trợ lãi suất, ngân hàng siết chặt cho vay... Điều này khiến doanh nghiệp phải chịu nhiều sức ép và để đảm bảo lợi nhuận, họ buộc phải tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ".

Cũng vì thế, theo ông Doanh, chỉ số lạm phát năm nay sẽ vượt xa mức 7% mà Chính phủ nêu ra, có thể ở mức hai con số.

Nhiều ý kiến cho rằng, chỉ số lạm phát khó dừng lại ở một con số.

Còn tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Viện phó Viện Giá cả và thị trường (Bộ Tài chính) thì phân tích, mức lạm phát cả năm được tính bằng tổng CPI 12 tháng. Thực tế tháng 1 và 2, mức CPI đã lên tới 3,32% (tháng 1 là 1,36% và tháng 2 là 1,96%), trong khi tháng 3, mức CPI dự đoán còn cao hơn đầu năm do đây là thời điểm giá điện chính thức tăng. "Như vậy, để đảm bảo tổng mức CPI 12 tháng năm nay chỉ dừng lại ở 7% là vô cùng khó", ông Ánh nhận định.

Cùng chung quan điểm trên, bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế cao cấp, nói: “Tôi e ngại Việt Nam khó có thể đảm bảo mức lạm phát năm 2010 là 7% như kế hoạch đề ra. Những diễn biến hai tháng đầu năm cho thấy hoàn toàn không thể đạt được mức trên. Hiện tại, ngoài giá xăng, điện, giá một số mặt hàng thiết yếu khác cũng đã tăng như giá nước, máy bay, tàu xe...”.

“Một nguyên nhân nữa khiến tôi cho rằng lạm phát năm nay sẽ cao hơn dự đoán bởi chịu ảnh hưởng từ những biện pháp đầu tư không hiệu quả. Nhiều dự án được bơm vốn khá lớn nhưng rồi lại bị bỏ, trong khi năm nay, số lượng dự án đăng ký mới đổ về khá nhiều”, bà Lan giải thích thêm.

Một trong những biện pháp để kiềm chế lạm phát năm 2010 là Chính phủ yêu cầu tăng trưởng tín dụng trong năm nay không được vượt mức 25%, thấp hơn rất nhiều so với năm trước. Tuy nhiên, theo bà Lan, việc làm này hơi cứng nhắc. "Nhà nước nên xem xét giảm rót vốn vào khu vực nào và khuyến khích đầu tư vào khu vực nào. Chỉ nên kiểm soát việc đầu tư tín dụng vào những dự án không hiệu quả, chẳng hạn như việc đầu tư ngoài ngành của một số doanh nghiệp lớn. Trong khi đó, nên khuyến khích đầu tư tín dụng vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ nông dân... để phát triển kinh tế đồng đều", bà Lan nhận định.

Theo giải thích của Bộ Tài chính, lạm phát thường chỉ tăng vào quý I, qua quý I là giá cả giảm dần và đi vào ổn định, khiến lạm phát cũng giảm. Tuy nhiên trên thực tế mấy năm gần đây, từ 2007 đến 2009, lạm phát đều tăng cao ở những tháng giữa năm. Giá cả hàng hóa khi đã hình thành một mặt bằng mới thì khó giảm trở lại.

(Theo Đất Việt)

Tăng giá: Bài toán khó của Chính phủ

picture

Các bà nội trợ không khỏi lo lắng khi một số mặt hàng thiết yếu tăng giá sau Tết - Ảnh: HTD.

Trong lúc giá cả hàng hóa, tiêu dùng sau Tết đang còn cao thì đồng loạt xăng dầu, điện, than được bật đèn xanh tăng giá


Trong lúc giá cả hàng hóa, tiêu dùng sau Tết đang còn cao thì đồng loạt xăng dầu, điện, than được bật đèn xanh tăng giá. Vì sao có việc điều hành như vậy? Chính phủ gặp khó khăn gì?

Ông Nguyễn Hoàng Anh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, phân tích: “Than, xăng dầu, điện là đầu vào của nhiều ngành sản xuất nên tăng giá sẽ ảnh hưởng nhiều. Nhưng ta cũng phải chấp nhận bởi kinh tế thị trường thì không thể để những mặt hàng quan trọng này nằm ngoài quy luật. Tâm lý của người dân, phản ứng của xã hội về việc tăng giá vừa qua cho thấy mặc dù chúng ta cố gắng điều hành kinh tế theo nguyên tắc thị trường nhưng với nhóm năng lượng thì vẫn chưa được thị trường lắm. Việc điều hành giá vẫn hơi thiên cưỡng”.

Lẽ ra đã tăng giá sớm hơn?

Tại sao phải chấp nhận, thưa ông?

Năng lượng là lĩnh vực quan trọng, xương sống của nền kinh tế và cũng là đầu vào cho các hàng hóa, dịch vụ khác. Ta muốn đầu tư mạnh cho năng lượng, huy động các nguồn vốn cho năng lượng nhưng lại kìm giá đến dưới giá thành thì không thể thu hút được. Ai cũng biết điện rất hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng khống chế giá bán thấp quá nên đâu có ai vào?

Chưa kể việc bao cấp giá với than, điện hiện nay và xăng dầu trước kia là kiểu bao cấp tràn lan, không khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hợp lý. Thậm chí mặt hàng than còn dẫn tới tiêu cực, trục lợi. Khống chế giá than bán cho điện, xi măng dưới giá thành khiến khó kiểm soát được lượng tiêu thụ thực tế bao nhiêu và bao nhiêu bị đẩy ra ngoài bán kiếm lời.

Đẩy năng lượng vào vận hành theo cơ chế thị trường cần thiết như vậy thì tại sao không tiến hành sớm hơn, mà lại để lúc nền kinh tế vừa vượt qua khủng hoảng lại tăng giá?

Từ năm 2007, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội về việc chấm dứt bao cấp giá với xăng dầu, than, điện rồi. Nếu ta thực hiện ngay được lúc ấy thì tốt nhưng khủng hoảng kinh tế thế giới lại ập tới, rồi lạm phát trong nước lên mức cao nên phải hoãn lại.

Tuy nhiên, kinh tế trong nước mới vượt qua đáy, còn nhiều khó khăn, mà tăng giá ngay thế này thì đúng là cũng có thể gây tâm lý bất ổn.

“Nên chia sẻ với Chính phủ”

Chuyên theo dõi công tác điều hành giá của Chính phủ, ông có nghĩ việc tăng giá xăng dầu và vài ngày nữa là điện có quá bất ngờ không?

Tôi không nghĩ là bất ngờ. Vấn đề chuyển sang cơ chế thị trường với những sản phẩm này bàn bạc đã lâu rồi, cũng đã công khai và báo chí nói tới nhiều. Xăng dầu thì từ cả năm trước đã rục rịch tăng giá. Cơ chế điều hành giá điện cũng ban hành và công bố đã lâu… Cho nên với doanh nghiệp thì không có gì là bất ngờ cả. Đầu vào tăng thì đầu ra tăng thôi. Còn với người dân thì sau tết giá hàng tiêu dùng còn đắt đỏ, thế mà xăng dầu, điện lại tăng tiếp thì chắc không tránh khỏi “xao xuyến”.

Tôi nghĩ mọi người và cả Quốc hội cũng vậy, nên chia sẻ khó khăn với Chính phủ.

Nhưng tăng giá như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống người dân, nhất là những hộ nghèo, vùng khó khăn. Làm thế nào hạn chế tác động đó?

Theo tôi biết thì phương án tăng giá điện của Chính phủ đã tính tới đối tượng này. Như thế, đối tượng này sẽ ít bị ảnh hưởng… Ngoài ra, trong lộ trình thị trường hóa các sản phẩm, dịch vụ quan trọng sẽ đồng thời phải xây dựng các chính sách đồng bộ về xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ những địa phương còn khó khăn.

Tăng trưởng và kềm lạm phát: Chỉ có thể chọn một

Hai tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng CPI đã hơn 3%, nay lại thêm cú tăng giá xăng dầu, điện thì liệu có khó đạt chỉ tiêu lạm phát cả năm không quá 7% mà Quốc hội giao, thưa ông?

Vấn đề này, mấy ngày qua các nhà kinh tế đã dự báo rồi. Trong tình hình nền kinh tế thế này mà cho tăng giá thì chắc chắn chỉ tiêu CPI sẽ bị ảnh hưởng. Đánh giá đó là có cơ sở.

Có vẻ như Chính phủ đang đứng trước bài toán khó?

Đúng. Để thúc đẩy xuất khẩu, phấn đấu tăng trưởng ở mức cao nhất ngay sau khủng hoảng, vừa rồi Chính phủ đã điều chỉnh tỉ giá ngoại tệ theo hướng làm giảm giá tiền Việt. Cũng để thu hút đầu tư vào năng lượng, hạn chế bao cấp tràn lan thì giá xăng dầu đã được thả theo cơ chế thị trường, giá than, điện cũng được điều chỉnh sát với thị trường hơn. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng đang bị thắt chặt lại để kéo lạm phát xuống, nay lại nới rộng lên mức 25%-30% để thúc đẩy sản xuất kinh doanh… Tất cả đều gây sức ép tới chỉ số giá tiêu dùng.

Và với diễn biến như vậy, Chính phủ đang nghiêng về mục tiêu tăng trưởng hơn là giữ lạm phát ở mức Quốc hội đề ra?

Chúng ta đang ở giai đoạn bắt đầu sau khủng khoảng nên tăng trưởng nhanh là cần thiết. Giờ mà ta hạn chế tín dụng, không nới lỏng đồng nội tệ, không cho tăng giá… thì chắc chắn sẽ kìm hãm nền kinh tế. Hai lựa chọn, buộc phải chọn một thôi nhưng phải cố điều hành hợp lý để lạm phát ở được mức thấp nhất.

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội có dự kiến giám sát sát sao hơn việc điều hành giá của Chính phủ?

Chúng tôi vẫn theo dõi sát diễn biến thị trường. Khi cần thiết, Ủy ban sẽ báo cáo, kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tham gia thêm với Chính phủ. Chúng tôi đang lên kế hoạch khảo sát thị trường các mặt hàng thiết yếu, đánh giá lại tình hình phân phối hàng hóa, dòng chảy lưu thông sau ba năm gia nhập WTO.

Nghĩa Nhân (Pháp luật Tp.HCM)

Giá điện chỉ tăng một lần trong năm nay

picture

"Từ năm 2009-2012, mỗi năm giá điện chỉ được phép tăng một lần theo biến động của giá thị trường đã được kiểm toán".

Tới đây, nếu giá đầu vào của sản xuất điện tiếp tục tăng, ngành điện vẫn phải chờ đến 2011 mới được tăng giá


Tới đây, nếu giá đầu vào của sản xuất điện tiếp tục tăng, ngành điện vẫn phải chờ đến 2011 mới được tăng giá.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào đã khẳng định như vậy trong cuộc trao đổi với báo giới sáng nay (26/2).

Theo ông Hào, việc điều chỉnh giá điện năm 2010 là bước đi trong lộ trình để thực hiện thị trường hóa giá điện và để giá điện thực sự trở thành tín hiệu cho thu hút đầu tư vào các công trình điện, đảm bảo cho hệ thống điện có đủ nguồn dự phòng hợp lý, hệ thống truyền tải và phân phối điện có đủ năng lực truyền tải góp phần đảm bảo cho nhà sản xuất và kinh doanh điện, đảm bảo an toàn cung cấp điện cho toàn xã hội và người tiêu dùng.

Vậy lý do gì khiến Chính phủ lại phê duyệt phương án tăng bình quân là 6,8% mà không phải là mức tăng thấp nhất 4,98%, như trong ba phương án mà Bộ Công Thương trình Thủ tướng, thưa ông?

Phương án tăng giá điện thêm 4,98% so với giá bán điện bình quân thực hiện trong năm 2009, được Bộ Công Thương trình căn cứ vào mức tăng của giá than bán cho ngành điện chỉ là 15% so với giá than năm trước.

Tuy nhiên, trong quá trình xem xét, Thủ tướng nhận thấy nếu giá than bán cho ngành điện chỉ tăng thêm 15%, thì giá bán này vẫn thấp hơn rất nhiều so với giá thành đã được kiểm toán của ngành than. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ gặp khó khăn lớn trong việc tái đầu tư, mở rộng sản xuất. Do vậy, Thủ tướng đã cho phép giá than cám 5 bán cho ngành điện tăng 28%, còn giá than cám 4b mức tăng là 47%.

Trên thực tế, với giá bán này, giá than TKV bán cho ngành điện vẫn thấp hơn giá xuất khẩu là 40%. Điều này, khiến giá điện phải tăng tương ứng là 6,8%.

Được biết giá khí cũng đang rục rịch tăng, vậy nếu tới đây khi giá khí bán cho ngành điện tiếp tục tăng thì giá điện có tiếp tục tăng nữa không?

Theo quyết định số 21/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2009 đến năm 2012, mỗi năm giá điện chỉ được phép tăng một lần theo biến động của giá thị trường đã được kiểm toán.

Do vậy, nếu tới đây giá khí bán cho ngành điện có tăng thì cũng vẫn phải chờ đến 2011, ngành điện mới được tăng giá một lần nữa.

Tuy nhiên, theo dự kiến, sau 2012, giá bán điện sẽ được điều chỉnh linh hoạt hơn. Vào mùa khô, nhu cầu sử dụng điện tăng cao, giá điện có thể tăng cao hơn để khuyến khích tiết kiệm. Nhưng sang mùa mưa, nhu cầu sử dụng điện giảm, giá bán điện sẽ giảm theo.

Trước đây, mỗi lần tăng giá điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đều lấy lý do là để có vốn đầu tư vào các công trình điện. Giá điện trong năm 2009 cũng đã tăng, nhưng năm qua vẫn có rất nhiều công trình bị chậm tiến độ. Ông nghĩ sao về điều này?

Giá điện trong 2009 đã được điều chỉnh tăng, tuy nhiên nguồn thu của EVN chỉ tăng lên khoảng vài nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, để đầu tư xây dựng một nhà máy điện mức đầu tư phải lên tới 29.000 - 30.000 tỷ đồng.

Thêm vào đó, có tăng giá điện mới có thể thu hút được các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, đầu tư vào ngành điện. Như vậy, mới có thể đáp ứng được với nhu cầu sử dụng điện luôn tăng từ 13 - 15%/năm.

Hiện nay theo tính toán, giá thành mỗi kWh điện chạy bằng than vào khoảng 6,8cent. Trong khi đó, giá bán điện thực hiện trong 2009 ở nước ta mới chỉ ở mức 5,3 cent/kWh. Năm 2010, mặc dù tiếp tục tăng giá, nhưng do chi phí đầu vào cũng tăng, cộng thêm biến động tỷ giá nên vẫn chưa khuyến khích được các nhà đầu tư.

Điện sản xuất từ thủy điện tuy có rẻ hơn, nhưng hiện nay nước ta không còn nguồn để phát triển thủy điện nên ngày càng phải sử dụng nhiều than cũng như các nguồn năng lượng khác như dầu, gió để phát điện. Trong khi đó, giá thành sản xuất từ các nguồn này là khá cao.

Thưa ông, hiện đang có rất nhiều lo ngại rằng, khi giá than tăng, giá điện tăng khiến các mặt hàng thiết yếu tăng theo, điều này liệu có ảnh hưởng đến đời sống của người dân?

Phải hiểu cho đúng là giá than bán cho ngành điện tăng, khiến giá điện tăng. Còn đối với các ngành khác, giá than vẫn giữ nguyên như năm 2009.

Theo tính toán, các hàng hóa thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày như thực phẩm, hàng may mặc, nhiên liệu… tỷ trọng chi phí tiền điện trong giá thành các mặt hàng này là rất nhỏ. Vì vậy, mức tăng giá của các mặt hàng này sẽ không đáng kể.

Tuy nhiên, những đợt điều chỉnh giá lần trước cho thấy, nhiều đơn vị kinh doanh thường lợi dụng việc này để tăng giá các mặt hàng thiết yếu nhằm thu lợi. Do đó, công tác quản lý thị trường cần phải được đẩy mạnh hơn nữa để hạn chế các hiện tượng tiêu cực, gây ảnh hưởng không tốt đến đời sống nhân dân.


Theo Vneconomy

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

“Thời điểm tăng giá các mặt hàng được tính toán kỹ”

CPI đã tăng gần 1/2 chỉ tiêu kiềm chế lạm phát cả năm, chưa kể tới tác động từ việc xăng tăng thêm 590 đồng/lít, điện dự kiến thêm 6,8% kể từ ngày 1/3… Đại diện Cục Quản lý giá khẳng định, thời điểm tăng giá các mặt hàng đã được tính toán kỹ lưỡng.
Tiêu dùng trong dịp Tết đã đẩy CPI tăng mạnh (ảnh: Hoài Lương).
Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 của cả nước đã tăng tới 1,96% so với tháng trước. So với tháng 12/2009, CPI cả nước tăng 3,35%.
Nhu cầu tiêu dùng tháng Tết tăng cao đột biến, chủ yếu là nhu cầu lương thực, thực phẩm, mua sắm hàng hóa gia đình, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại tăng mạnh là nguyên nhân đẩy chỉ số giá tiêu dùng lên cao.
Theo Tổng cục Thống kê, CPI tháng 3 có nhiều yếu tố để tiếp tục tăng mạnh. Yếu tố đầu tiên phải kể đến là giá xăng được các doanh nghiệp đầu mối điều chỉnh tăng thêm 590 đồng/lít kể từ ngày 21/2. Yếu tố thứ hai là giá thóc gạo đang có xu hướng tăng, trước việc các doanh nghiệp ở phía Nam tích cực thu mua lúa gạo để thực hiện các hợp đồng xuất khẩu đã ký kết. Và điểm đặc biệt, theo dự kiến, giá điện tăng thêm khoảng 6,8% kể từ 1/3 tới cũng sẽ là yếu tố khiến giá cả nhiều mặt hàng tăng.
Với các yếu tố này, chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 dự kiến tăng cao từ 0,7 - 0,8%; trong khi 5 năm lại đây, CPI tháng 3 thường là không tăng hoặc tăng rất thấp.
Nói về những tác động tăng giá các mặt hàng tính chỉ số giá cả hàng tháng, ông Nguyễn Tiến Thỏa, Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết: Giá xăng tăng 590 đồng/lít sẽ làm CPI tăng 0,01%. Nếu tính đầy đủ giá điện tăng 6,8% thì tác động trực tiếp vòng một tới CPI là 0,16%, vòng 2 sẽ có tác động gấp đôi, tức là khoảng 0,3%. Với mức giá điện tăng 0,68% thì tác động đến giá thành các ngành sử dụng nhiều điện khoảng từ 0,09% - 2,28%.
“Tuy nhiên, không phải cứ chi phí đầu vào tăng là giá thành sản phẩm và giá bán hàng hoá dịch vụ tăng. Giá hàng còn phụ thuộc vào sức mua, phụ thuộc vào thị trường và mặt bằng giá chung, phụ thuộc vào các biện pháp kiểm soát, quản lý giá cả, quản lý thị trường của Nhà nước.
Giá thành sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng quản lý, tiết giảm chi phí của doanh nghiệp để giảm giá thành sản phẩm và không hẳn, cứ chi phí đầu vào tăng là làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hoá, của doanh nghiệp”, ông Thỏa nhấn mạnh.
Khẳng định thời điểm điều chỉnh các mặt hàng là hợp lý, ông Thỏa nói: “Những điều chỉnh đó đã được Chính phủ cân nhắc, các cơ quan chức năng tính toán kỹ. Tháng 1, tháng 2 do là những tháng đầu năm và do có tết nguyên đán, nên các doanh nghiệp chưa sản xuất mạnh và chưa thực sự bắt đầu chu kỳ sản xuất mới. Tiến độ sản xuất sẽ tăng trở lại từ tháng 3.
Với quyết định thực hiện tăng giá điện từ tháng 3 và thông tin được đưa ra sớm, sẽ giúp các doanh nghiệp hoạch định chiến lược kinh doanh cả năm, sớm tính toán được chi phí đầu vào để chủ động có các biện pháp quản lý, tiết giảm chi phí hợp lý cũng như có chiến lược tăng sức cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp.
Nếu thời điểm tăng giá chậm lại, sẽ khiến các doanh nghiệp bị động, làm xáo trộn mọi phương án, mọi tính toán của họ. Khi các Bộ trình phương án tăng giá đều đã tính toán các yếu tố đầu vào sẽ là bao nhiêu, tác động đến giá cả đến lạm phát thế nào”.
Nguồn: Nguyễn Hiền - Dân Trí

Hiệp hội Năng lượng đòi tăng giá điện 10,7%

Sau khi phương án tăng giá điện bình quân 6,8% đã được phê duyệt và công bố, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) lại gửi văn bản tới Ban Bí thư Trung ương Đảng và Thủ tướng kiến nghị tăng giá điện lên 10,7%.

Theo VEA, mức tăng giá điện năm 2010 lên 10,7% so với mức bình quân 970,9 đồng mỗi kWh của năm 2009 là hợp lý, bởi ngay cả với phương án này, hộ dùng điện 50 kWh một tháng chỉ phải trả thêm 5.000 đồng và các hộ sự dụng 100 kWh một tháng chỉ trả thêm 10.000 đồng.

VEA cũng không muốn giá than bán cho điện tăng quá thấp, mà cần thực hiện điều chỉnh theo hai bước như đã thực hiện với các hộ xi măng, giấy, phân bón. Theo đó, giá than bán cho điện tăng 30% áp dụng từ 1/3. Bước thứ hai, điều chỉnh thấp hơn giá than xuất khẩu tối đa là 10% trong 2011.

Theo VEA, mức tăng giá điện năm 2010 lên 10,7% là hợp lý. Ảnh: Hoàng Hà.

EVA cho rằng, nếu được Thủ tướng chấp thuận đề xuất mức tăng giá điện lên 10,7% và giá than tăng 30% thì với sản lượng điện dự kiến của năm 2010 là 72,8 tỷ kWh, doanh thu của ngành điện sẽ tăng thêm được từ 7.750 tỷ đồng. Ngành than sẽ có doanh thu tăng thêm khoảng 1.120 tỷ đồng.

Theo ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, ngành than và điện đều đang chịu sức ép. Vốn đầu tư của ngành điện tính đến năm 2015 là rất lớn, riêng EVN được giao 48 dự án. Than cũng chịu áp lực về giá thành sản xuất do những nguyên nhân như khai thác than ngày càng xuống sâu, chi phí thăm dò, khảo sát. Do đó, việc tăng giá điện, than sẽ giúp cho hai ngành này cân bằng được tài chính và tạo ra lợi nhuận để đầu tư phát triển. "Việc tăng giá điện năm 2010 sẽ góp phần tạo điều kiện để EVN cân bằng được tài chính và huy động được nguồn vốn cho đầu tư", ông Ngãi nói.

Cuối năm 2009, EVN và TKV đã kiến nghị lên Chính phủ về việc tăng giá điện và than. EVN đã đề xuất 4 phương án tăng giá điện năm 2010, theo đó giá điện bình quân năm 2010 cao nhất là 1079,5 đồng một kWh và thấp nhất là 1007,3 đồng một kWh và TKV đã đề xuất tăng giá 4 loại than bán cho điện là: than cám 4b (1.100.000 đồng một tấn), than cám 5 (960.000 đồng một tấn), than cám 6a (830.000 đồng một tấn) và than cám 6b (690.000 đồng một tấn).

Bộ Công Thương đã có báo cáo trình Thủ tướng với phương án đề nghị tăng giá điện năm 2010 sẽ tăng 4,98% so với mức bình quân 970,9 đồng một kWh của năm 2009. Tiếp đó, Bộ Tài chính cũng có báo cáo trình Chính phủ với đề xuất 2 phương án tăng giá điện cao hơn của Bộ Công Thương là tăng 10,7% (phương án 1) và 6,8% (phương án 2). Đầu tuần này, Thủ tướng đồng ý tăng giá với mức 6,8%, áp dụng từ 1/3. Theo kế hoạch, Bộ Công Thương sẽ họp báo công bố chi tiết quyết định điều chỉnh giá điện vào sáng mai, 26/2.

Nguồn: Bách Hợp - VnExpress

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2010

Taxi, xe buýt phải niêm yết giá cước ở ngoài thành xe

Ảnh minh hoạ.
(Taichinh247.com) - Đơn vị kinh doanh vận tải khách theo tuyến cố định, vận tải khách bằng taxi, vận tải khách bằng xe buýt bắt buộc phải thực hiện hình thức niêm yết giá cước.

Cụ thể, đối với vận tải khách theo tuyến cố định thì niêm yết tại nơi bán vé và ở mặt ngoài thành xe phía dưới cánh cửa trước; với xe buýt thì niêm yết ở mặt ngoài thành xe phía dưới cánh cửa trước; với taxi thì niêm yết ở mặt ngoài cánh cửa xe.

Đối với giá cước do đơn vị kinh doanh vận tải quy định, các đơn vị kinh doanh vận tải không được thu cao hơn giá cước niêm yết. Đối với giá cước vận tải ô tô do Nhà nước quy định, đơn vị kinh doanh vận tải niêm yết đúng mức giá do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và phải thu cước theo đúng mức giá cước niêm yết.

Bảng niêm yết mặt ngoài thành xe có diện tích tối thiểu là 500cm2. Ngoài những thông tin nêu trên, đơn vị niêm yết giá cước có thể bổ sung các thông tin cần thiết khác.

Những quy định trên có tại Dự thảo Thông tư liên tịch của Bộ Tài chính và Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn về kê khai giá, niêm yết giá cước vận tải bằng xe ô tô và giá dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.

Cũng theo Dự thảo, trước khi đơn vị kinh doanh vận tải cung cấp dịch vụ theo giá mới thì phải thực hiện lập Hồ sơ kê khai giá gửi tới cơ quan tiếp nhận hồ sơ kê khai giá. Kê khai giá cước lần đầu được thực hiện khi đơn vị kinh doanh vận tải bắt đầu tham gia kinh doanh vận tải bằng ô tô hoặc lần đầu thực hiện kê khai giá cước theo quy định. Kê khai lại giá cước được thực hiện khi Nhà nước hoặc đơn vị kinh doanh vận tải điều chỉnh tăng hoặc giảm giá cước so với mức của lần kê khai trước liền kề. Giá cước kê khai là giá đã bao gồm thuế giá trị gia tăng (trừ vận tải khách bằng xe buýt).

Đơn vị kinh doanh vận tải thực hiện niêm yết giá cước vận tải bằng cách thông báo công khai trên bảng, trên giấy hoặc bằng các hình thức khác được đặt, để, treo, dán tại nơi bán vé, nơi giao dịch, mặt ngoài hoặc bên trong phương tiện để thuận tiện cho việc quan sát của khách hàng sử dụng dịch vụ. Khuyến khích đơn vị thông báo công khai giá cước vận tải các phương tiện thông tin đại chúng.

Trường hợp đơn vị kinh doanh vận tải ký hợp đồng ủy thác cho đơn vị kinh doanh dịch vụ bến xe bán vé vận tải khách đi xe của đơn vị mình thì đơn vị kinh doanh dịch vụ bến xe phải thực hiện niêm yết giá cước vận tải ô tô tại nơi bán vé theo quy định.

Trường hợp đơn vị kinh doanh vận tải tự tổ chức bán vé thì phải thực hiện niêm yết giá cước vận tải bằng xe ô tô theo quy định tại bến xe.

Về nội dung kê khai giá cước: Vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định phải kê khai giá cước bình quân (đồng/HKKm) theo từng loại cự ly vận chuyển, giá cước trên các tuyến vận chuyển cố định của đơn vị (đồng/HK), giá cước vận chuyển hàng hóa theo xe khách (đồng/100kg); Vận tải hành khách bằng xe buýt kê khai giá cước (đồng/lượt HK) trên các tuyến vận tải xe buýt của đơn vị theo quy định; Vận tải hành khách bằng xe taxi kê khai theo hình thức quy định giá cước của đơn vị (giá cước ki lô mét đầu, giá cước của từng cự ly hay ki lô mét tiếp theo, giá cước theo chuyến, giá cước thời gian chờ đợi...); Vận tải hành khách theo hợp đồng và vận chuyển khách du lịch bằng xe ô tô kê khai giá cước theo ki lô mét lăn bánh (đồng/km) của từng loại xe và giá cước thời gian chờ đợi (đồng/ngày xe hoặc đồng/giờ xe...); Vận tải hàng hóa bằng xe ô tô kê khai giá cước bình quân (đồng/TKm), giá cước vận chuyển Container (đồng/cont 20’.Km /40’.Km), giá cước trên một số tuyến vận chuyển chủ yếu của đơn vị theo loại hàng và cự ly vận chuyển (đồng/Tấn), giá cước vận chuyển Container (đồng/cont 20’ /40’).

Dự thảo Thông tư liên tịch cũng đã quy định khá chi tiết về dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ.

Cụ thể, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ bao gồm: dịch vụ tại bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, đại lý vận tải, đại lý bán vé, dịch vụ thu gom hàng, dịch vụ chuyển tải, dịch vụ kho hàng, dịch vụ cứu hộ vận tải đường bộ.

Còn dịch vụ tại bến xe ô tô gồm: dịch vụ xe ra, vào bến xe ô tô; dịch vụ hoa hồng bán vé; dịch vụ trông giữ xe ô tô qua đêm; dịch vụ trông giữ xe đạp, xe máy; dịch vụ cho thuê nhà trọ; dịch vụ cho thuê mặt bằng kinh doanh trong bến xe; dịch vụ cho thuê vị trí quảng cáo tại bến xe; dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.

Đơn vị kinh doanh dịch vụ thực hiện niêm yết giá dịch vụ bằng cách thông báo công khai trên bảng, trên giấy hoặc bằng các hình thức khác được đặt, để, treo, dán tại nơi bán vé, nơi giao dịch, để đảm bảo thuận tiện cho việc quan sát của khách hàng sử dụng dịch vụ.

Vào tháng 12 hàng năm, các Sở Giao thông vận tải có trách nhiệm cung cấp danh sách các đơn vị kinh doanh vận tải đã đăng ký kinh doanh vận tải bằng ô tô có trụ sở (hoặc trụ sở chi nhánh) đóng trên địa bàn địa phương đến Sở Tài chính, Cục Thuế địa phương để phối hợp quản lý và theo dõi việc kê khai giá cước.

Định kỳ vào tháng 1 hàng năm hoặc trường hợp đột xuất khi có biến động về giá cước vận tải và giá dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ tại địa phương, các Sở Tài chính có trách nhiệm tổng hợp mức giá kê khai của các đơn vị thuộc địa phương quản lý báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tài chính (Cục Quản lý giá) và Bộ Giao thông vận tải (Tổng cục Đường bộ Việt Nam).

Hy vọng với những quy định chi tiết, cụ thể của cơ quan hữu quan, tình trạng “loạn” giá cước vận tải sẽ được xử lý triệt để.

(Bình Minh)-Efinance

Bi hài chuyện ông lão nghèo trúng số độc đắc

Hàng trăm người bỗng dưng kéo đến nhận là người thân, cả chục người kiên trì trải chiếu ngủ lại nhà ông lão luôn trong mấy ngày Tết, ai cũng hỏi xin tiền sau khi ông Hết lĩnh tiền trúng số độc đắc 7,6 tỷ đồng.
> Ông lão nghèo trúng số độc đắc

“Không thể tin được, mấy chục năm nay, ông bà Hết sống đơn độc, thuộc diện xóa đói giảm nghèo của phường, sống bằng những tấm lòng từ thiện, chẳng thấy có con cháu nào đến thăm. Vậy mà chỉ một ngày sau khi ông may mắn thành tỷ phú, người quen ở đâu không biết kéo đến chật cả ngõ, bít cả lối đi”, ông Nam, một người hàng xóm nói.

Cũng theo ông Nam, sau khi tự xưng là con cháu, nhiều người đã xông luôn vào nhà, lục lọi từ xó bếp đến đầu giường để tìm tiền trước sự kháng cự yếu ớt của ông lão. Khi được hàng xóm can thiệp, nhiều người cho rằng “đây là chuyện trong nhà, người ngoài biết gì mà xía vô”.

Trúng số bạc tỷ nhưng ông Hết gợn buồn vì bị nhiều người bỗng nhiên xuất hiện nhận con cháu để xin tiền. Ảnh: Thiên Chương.

Ông Nguyễn Văn Hết, 97 tuổi, ở quận 11, TP HCM, vừa mới trúng số độc đắc vào hôm 28 Tết sau 30 năm ròng ngày nào cũng mua vé số. Trừ thuế, cho tiền người xung quanh, ông còn gửi ngân hàng 6 tỷ đồng và giữ lại chi tiêu vài trăm triệu. Tâm sự với VnExpress.net, ông lão cho biết, ngoài hai người con riêng của vợ, ông và bà sống với nhau không có con. Cả khi sống với người vợ trước cũng không có mụn con nào.

“Đám người xuất hiện sau khi tui trúng số là cháu con của hai người em gái họ và con của em họ rất xa ở Long An. Nhiều người lần đầu tiên tui gặp nên cũng không biết là ai. May mắn trúng số, vui cũng có, mà nhiều khi tôi thấy hoa cả mắt vì họ”, ông Hết than thở.

Ông lão cho biết, không ngờ thông tin trúng số loan đi nhanh đến thế. “Trúng số từ 28 tết, chiều 29 đã có đứa xưng là cháu đến xin chia tiền. Suốt mấy ngày Tết, tôi không thể ngủ yên vì họ cứ đến đòi cho tiền. Tôi nói tiền đã gửi cho người khác giữ, từ từ tôi cho, nhưng đám bà con “đại bác bắn không tới” ấy vẫn nhất định không tha”, ông Hết kể.

Sáng 22/2, tình hình vòi quà vẫn căng thẳng khiến con ngõ 341 đường Lạc Long Quân, phường 5, quận 11, nơi nhà cụ Hết, không còn lối đi. “Bí thế, chúng tôi đành nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Nhờ vậy họ mới tản đi, tuy nhiên một số người vẫn cố tình bám trụ, tìm mọi lời lẽ tác động vào ông lão vốn đã không còn minh mẫn vì tuổi tác”, một người hàng xóm nói.

Theo tìm hiểu của VnExpress.net, sau khi ông Hết trúng số lớn, chuyện vui buồn không chỉ xảy ra cho gia đình ông, mà còn lan sang cả hàng xóm. Nạn nhân là anh Phạm Hữu Đức, người đang mất ăn mất ngủ vì phải ôm số tiền giữ giúp ông lão, trong khi con cháu vây quanh đòi chia.

“Người ta trúng số mà mình mang họa. Công việc riêng bỏ hết, ngủ cũng chẳng yên. Thứ nhất, mọi người cứ nghĩ mình giữ tiền vì trục lợi; thứ hai, con cháu ông Hết bám theo đòi tiền quá khiến tôi xanh mặt. Trong khi đó mình chỉ làm phước, giúp ông cụ”, anh Đức nói.

Cũng theo người chủ cơ sở chuyên hàn - tiện kim loại này, ông bà Hết với anh thân thiết. Việc anh giúp đỡ là vì ông bà đã quá lẩm cẩm chứ không có mục đích gì khác. Hơn nữa, khi nhận giữ tiền giúp ông Hết, hay chi tiêu bất cứ món tiền nào, anh Đức cũng mời chính quyền địa phương chứng kiến.

Quá lo sợ dư luận và ngại người thân của ông Hết “tấn công”, anh Đức quyết định trao hết tiền mặt và thẻ gửi tiền ở ngân hàng mà anh đang giữ cho chính quyền địa phương nhờ cất giúp.

Ngoài những nụ cười hiếm hoi sau khi trúng số, người ta vẫn thấy vợ chồng ông Hết trong dáng vẻ đau đáu như thế này. Ảnh: Thiên Chương.

Ngoài anh Đức, mấy ngày qua, một vài người trong xóm cũng bị nghi ngờ, bởi sau khi nhẩm tính số tiền mà ông lão hiện có, không ít người cho rằng đã bị thất thoát hàng tỷ đồng.

“Lúc mới nhận tiền thưởng, quá vui mừng, ông Hết lấy từng cục tiền để cho nhiều người. Chính vì thế, không ai biết rõ ông đã cho bao nhiêu”, ông Hoàng Liên Sơn, Phó chủ tịch UBND phường 5 cho biết.

Chiều 23/2, 11 ngày sau khi ông lão nghèo nhận tiền trúng số, mọi việc đã tạm ổn. Cảnh “người thân” nheo nhóc đòi chia tiền đã không còn, tuy nhiên câu chuyện về cặp vợ chồng ông già không còn minh mẫn, không có con ôm số tiền to vẫn là đề tài mà nhiều người dân phường 5, quận 11, bàn tán.

Nhiều người tiên đoán: “Rồi đây, đám con cháu “ảo” sẽ quay lại tìm mọi cách để moi tiền” hoặc “Ông bà đã già quá rồi, lại còn lú lẫn, không biết sẽ dùng tiền ra sao”. Một số người khác lắc đầu ngao ngán: “Ở tuổi gần đất xa trời này, với đám cháu bỗng dưng nhận người thân như thế, ông già không trúng số có khi còn khỏe thân hơn”.


Theo Vnexpress

Ông lão nghèo trúng số độc đắc 7,6 tỷ đồng

Mua vé số hơn 30 năm, tưởng cái nghèo theo suốt kiếp bởi đã 97 tuổi, nhưng Tết này ông Nguyễn Văn Hết bất ngờ trúng 5 tờ độc đắc. Không còn đủ minh mẫn để nghĩ đến hưởng thụ, ông tỷ phú già chỉ mơ có nồi thịt kho.
> Đổ xô đi mua vé số đầu năm

Hơn mười ngày kể từ hôm thần may mắn gõ cửa, trong căn nhà tình thương nhỏ xíu được chính quyền địa phương xây cho từ 7 năm trước, ông Hết ngụ tại đường Lạc Long Quân, phường 5, quận 11, TP HCM, vẫn chưa hết bàng hoàng.

* Niềm vui của ông lão nghèo trúng số độc đắc

“Mấy chục năm nay, ngày nào tui cũng mua vé số. Bà con cho tiền từ thiện đều căn dặn không được dùng tiền được cho để mua vé số, nhưng tui không thể nhịn được. Lần trúng cao nhất cách đây mấy năm là một vé an ủi. Không ngờ lần này lại vô đậm”, nheo nheo đôi mắt vẩn đục, ông Hết lập bập nói với VnExpress.net.

"Tỷ phú diện xóa đói giảm nghèo" và bà xã. Ảnh: Thiên Chương.

Theo lời kể của người bán vé số, sáng 28 Tết, cô đến nhà ông mời mua như mọi ngày. “Lúc đó ổng moi hết túi chỉ còn 10 nghìn đồng nên lấy một tờ loại vé có 6 chữ số. Nhưng sau đó, chợt nhớ có phong bao lì xì của một người quen biếu, ông lấy ra 100 nghìn và mua tiếp 5 tờ nữa cùng lô với tờ vừa mua”, cô này nói.

Chiều cùng ngày, do mắt kém, ông mang vé số sang nhờ một người hàng xóm xem kết quả thì nhận được tin vui... Sáng 29 Tết, ông Hết đổi toàn bộ 5 tờ độc đắc và 1 tờ an ủi được 7,6 tỷ đồng, sau khi trừ thuế 10% và các khoản hoa hồng cho chủ đại lý còn được khoảng 6,7 tỷ đồng. Quá vui mừng trước vận may, ông cụ phân phát tiền cho những người đến chúc mừng, cuối cùng, khi chính quyền địa phương giúp ông gửi tiền vào ngân hàng thì số tiền thưởng còn tròm trèm 6 tỷ.

Tiếp xúc với VnExpress.net sáng nay, trả lời câu hỏi “bây giờ có nhiều tiền rồi, ông có ước mơ gì cho bản thân không”, ông cụ cười móm xọm phô hàm răng đã rụng gần hết chỉ còn trơ nướu, nói bằng giọng đặc sệt Nam Bộ: “Tui chỉ thèm một nồi thịt kho. Tui đã nhờ người mua thịt rồi. Nhứt định kho một nồi ăn cho đã. À mà còn nữa, tui sẽ may cho vợ 5 bộ đồ mới luôn”. Quay qua người vợ 82 tuổi bị đãng trí nhiều năm, ông cụ hỏi to: "Bà chịu không?"

Nhiều người đến thăm nhìn ngôi nhà bé xíu, tối om, nóng bức của ông cụ hỏi: “Thế có cần xây nhà lầu có máy lạnh, máy giặt không?”, cụ già bây giờ được láng giềng gọi là “tỷ phú xóa đói giảm nghèo” bật cười thật hiền rồi lắc đầu: “Chỉ cần cái nhà bình thường thôi, mấy thứ máy móc đâu cần thiết”. Ông dự kiến sẽ dùng một phần nhỏ số tiền trúng độc đắc để xây lại ngôi nhà cho hai vợ chồng.

Ông Hết tặng quà tại một tịnh xá ở quận 5, nơi từng cưu mang mình. Ảnh: Thiên Chương.

Không còn minh mẫn để biết hơn 7 tỷ đồng là số tiền lớn, cũng không đủ sức mường tượng với số tiền ấy có thể mua được những gì, song khi ai đó nhắc đến những nhà từ thiện, các sư thầy ở chùa, hay chú Đức tốt bụng nhà đối diện vẫn hay biếu tô canh, con cá, ông Hết lại nhớ rất rõ.

“Tui chịu ơn nhiều người lắm. Mỗi tháng đều nhận 300.000 đồng từ chùa, hơn 100.000 đồng từ ủy ban phường và nhiều người tốt bụng khác nữa. Giờ có tiền rồi, tui phải đền đáp cho họ”, ông Hết dự tính.

Nói sao làm vậy, trong số hơn 700 triệu đồng tiền mặt còn đang giữ ở nhà (ngoài 6 tỷ đã được chính quyền địa phương giúp gửi vào ngân hàng), sáng nay ông Hết quyết định trích 50 triệu đồng đi làm từ thiện tại hai ngôi chùa và một nhà thờ đã từng giúp đỡ mình. Tại một tịnh xá ở tận tầng 4 chung cư, ở tuổi 97, ông vẫn cố lê từng bước qua những nấc thang để lên đến tận nơi gửi một số tiền giúp đỡ.

Ông Hoàng Liên Sơn, Phó chủ tịch phường 5, quận 11 cho biết, ông Hết sống cùng vợ tại địa phương từ mấy chục năm nay. Gia đình thuộc diện xóa đói giảm nghèo, được ban ngành đoàn thể và các nhà hảo tâm chăm sóc.

Bà Ba, người vợ đang chung sống với ông Hết có 2 con riêng. Ông và bà không có con chung. Khi ông Hết trúng số, phường hướng dẫn ông gửi tiền vào ngân hàng để dành, chỉ để lại vài trăm triệu đồng cho ông chi tiêu và làm từ thiện.

Bài 2: Bi hài chuyện ông lão trúng số độc đắc


Theo Vnexpress

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2010

Giá ô tô và xe máy sẽ tăng cao vì phí môi trường?

Hiện nay, bộ Tài chính đang chủ trì xây dựng dự thảo Luật Thuế môi trường để Quốc hội xem xét thông qua vào cuối năm 2010. Tại dự thảo luật thuế này, các loại phương tiện giao thông cơ giới có khí thải, trong đó có ô tô, xe máy sẽ phải chịu thêm thuế phát xả khí thải.
Xe ô tô sử dụng công nghệ cũ sẽ bị đánh thuế môi trường cao hơn

Mức thuế suất chi tiết sẽ phụ thuộc vào mức độ phát thải của từng loại phương tiện. Nếu dự thảo Luật thuế này được thông qua và có hiệu lực thì giá bán của mặt hàng ô tô, xe máy sẽ nâng cao do tỷ trọng thuế trong giá bán cao hơn. Hiện tại, riêng mặt hàng ô tô chở người đang phải chịu thuế nhập khẩu (linh kiện, phụ tùng hoặc nguyên chiếc), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế trước bạ.... Các loại thuế này đang chiếm khoảng 2/3 giá bán xe.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc áp dụng thuế môi trường đối với các loại phương tiện giao thông cơ giới là rất cần thiết. Bởi lẽ, lượng khí xả phát thải từ các loại phương tiện này, nhất là ôtô và xe máy, đang góp phần gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Bên cạnh đó, khi thuế môi trường được áp dụng, các loại xe sử dụng công nghệ thân thiện môi trường như hybrid (xăng kết hợp điện) hay xe điện sẽ được ưu tiên hơn.

Tại nhiều nước phát triển, thuế môi trường thường được đánh ở mức rất cao đối với các loại ôtô và xe máy. Đồng thời, các loại xe thân thiện với môi trường luôn được ưu đãi để khuyến khích người dân sử dụng.

Theo DDDN

Lạm phát: Cơ quan điều hành lạc quan, chuyên gia lo ngại

Rõ ràng là lạm phát của Việt Nam năm 2010 thế nào sẽ vẫn còn là một câu chuyện còn phải tranh cãi dài dài - Ảnh: Việt Tuấn.

Chắc hẳn là các chuyên gia không một ai muốn những cảnh báo của mình sẽ trở thành sự thật
Trong khi các cơ quan điều hành khá lạc quan khi cho rằng lạm phát năm 2010 sẽ đạt được mục tiêu mà Quốc hội đã thông qua là dưới 7% thì nhiều chuyên gia cho rằng khả năng này là “rất khó”.

Đại diện cho cơ quan điều hành chính sách tài khóa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh khẳng định: “Có cơ sở để tin chúng ta sẽ thực hiện được mục tiêu giữ chỉ số tăng giá tiêu dùng năm 2010 không quá 7% như chỉ tiêu Quốc hội đã phê duyệt”.

Về một trong những nguyên nhân khiến lạm phát có thể tăng cao là một số mặt hàng thiết yếu như than, điện sẽ được điều chỉnh tăng, lương tăng... ông Ninh cho rằng đều không có gì đáng lo ngại vì năm 2009, việc điều hành giá, một số mặt hàng thiết yếu cũng đã được điều chỉnh tăng nhưng giá cả cũng không có biến động và kiểm soát được.

“Chính phủ hiện đã có chỉ đạo thực hiện đồng bộ 6 nhiệm vụ chủ yếu và 5 nhóm giải pháp lớn để khôi phục phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa nguy cơ tái lạm phát cao. Các bộ, ngành đã và đang tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển sản xuất điều hòa cung cầu, tài chính tiền tệ, xuất nhập khẩu, kiểm tra kiểm soát thị trường... ngay từ những ngày đầu của năm mới”, ông Ninh nói.

Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cũng cho rằng đừng quá lo lắng về lạm phát, dù ngay trong những tháng đầu năm 2010, Ngân hàng Nhà nước lại tăng vốn bơm qua thị trường mở nhằm tăng thanh khoản cho ngân hàng cũng như nền kinh tế. Nhưng Ngân hàng Nhà nước cho biết, việc cung ứng thêm tiền chỉ nhằm đảm bảo nhu cầu vốn về thanh toán, chi tiêu trong dịp Tết Nguyên đán của người dân và doanh nghiệp tăng mạnh. Sau đó Ngân hàng Nhà nước sẽ thu hồi số tiền này, vì vậy không gây áp lực lớn đối với lạm phát.

Trái ngược với vẻ lạc quan này, TS. Vũ Đình Ánh, Viện Nghiên cứu thị trường giá cả nghi ngại về CPI từ tháng 12/2009 đã tăng 1,38% - mức tăng cao nhất trong cả năm 2009 - đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về khả năng lạm phát cao có thể quay trở lại vào năm 2010. CPI của tháng 1/2010 cũng tăng ở mức tương tự và đến tháng 2/2010 là tháng Tết thì CPI chắc chắn sẽ còn leo thang hơn.

Ông Ánh phải dùng tới một loạt giả thuyết để đưa ra nhận định rằng lạm phát cả năm 2010 có dừng ở một con số được hay không phụ thuộc rất lớn vào bản lĩnh và cách thức điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam: “Nếu tính quy luật của diễn biến thị trường giá cả được duy trì trong năm 2010 kết hợp với những chính sách kinh tế vĩ mô và quản lý thị trường giá cả hợp lý thì CPI cả năm có thể ở mức một con số. Nếu một hoặc một số các điều kiện trên không đảm bảo thì CPI có thể lên tới 12-15%”.

TS. Lê Đình Ân, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia thì nói thẳng rằng “nguy cơ lạm phát tăng cao trở lại là điều khó tránh”.

Một trong những căn cứ để ông Ân đưa ra khẳng định như vậy là trong năm 2009, tín dụng đối với nền kinh tế đã tăng khoảng 37,7% so với cuối năm 2008, gấp 7 lần tốc độ tăng trưởng GDP, tổng phương tiện thanh toán vượt mức tăng 25% trong so sánh cuối năm và đầu năm. Chênh lệch giữa tổng phương tiện M2 và tăng trưởng GDP thực tế cho thấy lượng hàng hoá sản xuất ra chưa tương xứng với lượng tiền lớn được đưa vào lưu thông.

Rõ ràng là lạm phát của Việt Nam năm 2010 thế nào sẽ vẫn còn là một câu chuyện còn phải tranh cãi dài dài. Còn nhớ, lạm phát đã từng có những tiết tấu rất ấn tượng. Tại phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc vào tháng 5/2008, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc đã khiến cho các đại biểu “giật mình”, khi ông nhận định: “Chỉ một chút sơ hở, lạm phát của năm 2007 đã cao vọt lên: chỉ số giá của 7 tháng đầu năm 2007 mới ở mức 6,19%. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra khuyến cáo đó là con số cao, không chấp nhận được vì 7 tháng đầu năm 2006 chỉ có 4,4%. Thủ tướng sau đó chỉ đạo phải cho giảm xuống và tháng 8, tháng 9 có chỉ đạo có khác hẳn, một tháng tăng có 0,5%. Nhưng tiếp theo đó chúng ta lại buông lỏng, không theo dõi tiếp từ tháng 10, tháng 11, tháng 12, để chỉ số giá lên đến 5% trong 3 tháng còn lại và con số cuối cùng CPI cả năm 2007 đã là 12,63%”.

Bài học chỉ một chút buông lỏng khiến cho lạm phát năm 2007 đã trở thành “con hổ đang lên” như cách gọi của Bộ trưởng Võ Hồng Phúc lúc bấy giờ, có lẽ đến bây giờ vẫn luôn mới.

Chắc hẳn là các chuyên gia không một ai muốn những cảnh báo của mình sẽ trở thành sự thật. Điều mà họ trăn trở chính là các cơ quan điều hành đừng khi nào lơ là cảnh giác.

Theo Vneconomy

Thứ Bảy, 20 tháng 2, 2010

Xây dựng nền công nghiệp hàng không Việt Nam tiên tiến

Sau hơn 30 năm phát triển, kể từ ngày thống nhất đất nước, đến nay, Việt Nam đã có những cơ sở ban đầu để phát triển ngành công nghiệp hàng không.

Ảnh có tính minh họa. (Nguồn: Internet)

Đó là hệ thống Luật Hàng không, là hãng hàng không quốc gia đã trở thành hãng hàng không có tên tuổi, uy tín trong khu vực, hệ thống cảng hàng không - sân bay đã được quy hoạch, hệ thống quản lý điều hành bay đã được giành lại và điều hành thành công FIR Hồ Chí Minh, một số cơ sở bảo dưỡng, đại tu đã hình thành. Trong đó các cơ sở của Vietnam Airlines đã bảo dưỡng đến C-check 4y và 12y cho hầu hết các loại máy bay đang khai thác...

Tuy nhiên, hình thành một nền công nghiệp hàng không với tầm cỡ quốc tế, đủ sức tham gia vào dây chuyền toàn cầu sản xuất và cung ứng của các nhà sản xuất lớn, đóng góp cho GDP của đất nước vẫn đang là ước mơ của rất nhiều thế hệ cán bộ ngành hàng không, và phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước, xây dựng Việt Nam cơ bản thành nước công nghiệp vào năm 2020.

Ngày 10/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 123/TB-VPCP, giao Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) phối hợp các cơ quan hữu quan xây dựng định hướng dài hạn, tổng thể phát triển ngành công nghiệp hàng không Việt Nam.

Trong đó, cách tiếp cận mới ở tầm quốc gia, với chuẩn mực quốc tế được coi là một mấu chốt để xây dựng ngành công nghiệp hàng không của Việt Nam xứng với tầm cỡ quốc tế.

Có nghĩa là trước hết phải xây dựng một chính sách quốc gia về công nghiệp hàng không và một nền khoa học hàng không. Trong đó định nghĩa rõ ngành công nghiệp hàng không là một ngành kinh tế-kỹ thuật-công nghệ và dịch vụ, một bộ phận quan trọng của nền công nghiệp Việt Nam hiện đại với 4 trụ cột chính là công nghiệp vận tải hàng không; công nghiệp sản xuất, lắp ráp, đại tu, bảo dưỡng máy bay, động cơ; hệ thống hạ tầng kỹ thuật các cảng hàng không sân bay, các trung tâm trung chuyển hàng không lớn cùng các dịch vụ hàng không và phi hàng không; hệ thống đào tạo hàng không cấp quốc gia.

Để triển khai thực hiện đề án này, Vietnam Airlines đã có những bước đi cụ thể theo một lộ trình. Tháng 10/2009, Vietnam Airlines đã ký bản ghi nhớ với Tập đoàn Hàng không Vũ trụ châu Âu và Airbus đưa Việt Nam vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu của EADS và triển khai trước hết các hạng mục sản xuất và lắp ráp một số linh kiện máy bay A321 tại Việt Nam, sau đó sẽ là các cơ sở sản xuất, lắp ráp các loại máy bay khác tại Việt Nam.

Đồng thời, Vietnam Airlines còn đàm phán với Mishubishi, với Boeing, các nhà sản xuất động cơ và công ty kỹ thuật có uy tín khác trên thế giới để hình thành các liên doanh trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp, bảo dưỡng, đại tu máy bay, động cơ, linh kiện hàng không.

Mục tiêu được đặt ra là trở thành nhà sản xuất cung cấp số 1 (tier1) về linh kiện, bộ phận cho các máy bay thương mại vào năm 2014, tiến tới thiết kế chế tạo máy bay nhỏ phục vụ nhu cầu kinh tế, đưa Việt Nam gia nhập bản đồ công nghiệp hàng không thế giới; đáp ứng 100% nhu cầu bảo dưỡng, sửa chữa đại tu thân, cánh các máy bay khai thác và động cơ vào năm 2015 đến 2020, cung cấp khoảng 80% nhu cầu sửa chữa đại tu các thiết bị hàng không khác vào năm 2016; cung cấp toàn bộ dịch vụ cung ứng phụ tùng vật tư cho các hãng hàng không trong nước và Đông Dương.

Về lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, mục tiêu là xây dựng hệ thống cảng hàng không sân bay hiện đại, với 2 trung tâm trung chuyển hàng không quốc tế ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong đó, cảng hàng không Long Thành sẽ được xây dựng thành trung tâm trung chuyển quốc tế đa phương tiện, với lưu lượng thông qua 80-100 triệu pax/năm; đuổi kịp và quyết tâm vượt các trung tâm khác ở Bangkok, Singapore, Hongkong (Trung Quốc)…

Đối với lĩnh vực đào tạo, mục tiêu được đặt ra là xây dựng hệ đại học hàng không, các trường đào tạo phi công cơ bản, trường đào tạo chuyên ngành hàng không và trường đào tạo nghề hàng không…, đáp ứng 100% nhu cầu về phi công và kỹ sư của Việt Nam.

Theo lộ trình của Vietnam Airlines, đến năm 2020, sẽ hình thành chuỗi các trung tâm công nghiệp hàng không ở 3 miền. Miền Bắc là khu vực xung quanh cảng hàng không Nội Bài; miền Trung là khu vực gần sân bay Đà Nẵng, Chu Lai; phía Nam là khu vực cảng hàng không Long Thành.

Đến năm 2020, toàn bộ ngành công nghiệp hàng không sẽ phấn đấu có tổng thu nhập khoảng 12-15 tỷ USD, chiếm khoảng 5-8% GDP của Việt Nam, và phấn đấu đạt 10% vào những năm tiếp theo.

Xây dựng một nền công nghiệp hàng không của Việt Nam là chủ trương của Đảng và Nhà nước, là tâm huyết và mơ ước của các thế hệ cán bộ, các nhà khoa học, nhân viên trong lĩnh vực hàng không, vừa là mục tiêu, vừa là con đường phải đi qua để góp phần xây dựng nước Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Năm 2010 sẽ là một năm bản lề có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng với những bước đi ban đầu để thực hiện ước mơ táo bạo này.
Nguồn: N.P (Vietnam+)

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Tìm cách khai thông nguồn vốn

Hơn một tháng qua, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chủ yếu chảy vào những dự án nhỏ, lĩnh vực dịch vụ, có khả năng thu hồi vốn nhanh.

Dự án Trung tâm tài chính VN chuẩn bị khởi công sau tết tại khu du lịch Kỳ Hòa (TP.HCM) - Ảnh: M.ĐỨC

Nhiều chuyên gia đầu tư cho rằng để đẩy mạnh thu hút nguồn vốn FDI trong thời gian tới, ngoài việc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút các dự án nhỏ, đồng thời phải tìm cách giải ngân nguồn vốn hàng chục tỉ USD từ những dự án đã được cấp phép cách nay 2-3 năm.

Thời của dự án nhỏ

Sẽ rà soát các dự án đã cấp phép

Theo Bộ Kế hoạch - đầu tư, nhằm đẩy nhanh việc giải ngân nguồn vốn FDI, sắp tới sẽ tiến hành rà soát các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn cả nước để có hướng xử lý đối với từng loại dự án; không cấp phép cho các dự án công nghệ lạc hậu, dự án tác động xấu đến môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỉ suất đầu tư/diện tích đất. Nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản...

Ông Arika Fukuda, chủ nhân của chuỗi năm nhà hàng tại Nhật, vừa chuyển nhà hàng theo phong cách Nhật Bản của mình từ đường Trần Quốc Thảo, Q.3 qua đường Ngô Văn Năm, Q.1, TP.HCM để có thể đón nhiều khách hơn. Ông cho biết VN đã trở thành nơi lựa chọn của ông khi kinh doanh ở thị trường Nhật Bản gặp khó khăn.

Với nhà hàng cũ, ông Arika Fukuda đã hoàn vốn sau hai năm và bây giờ, sau năm năm, ông xây một nhà hàng khác quy mô gấp hai lần. Theo ông Fukuda, với một nhà hàng tương tự thế này ở Nhật ông phải tốn khoảng 800.000 USD, gần gấp ba lần vốn đầu tư ở VN và thời gian hoàn vốn cũng dài hơn ba năm.

Khi khu hồ bán nguyệt ở khu đô thị Phú Mỹ Hưng (Q.7, TP.HCM) bắt đầu cho thuê thì khách hàng đầu tiên là Boomarang Bistro & Bar, một nhà hàng của Úc. Martin McGettigan, giám đốc điều hành nhà hàng này, cho biết đây là khoản đầu tư đầu tiên ra nước ngoài của công ty sau thị trường Singapore. Lý do đưa đến quyết định này cũng chính là sự hấp dẫn của thị trường VN.

Đây chỉ là hai trong số hàng trăm dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ tại TP.HCM. Có người đã ví TP.HCM là “thiên đường” của những dự án đầu tư nước ngoài quy mô nhỏ.

Năm 2009, TP.HCM đã dẫn đầu cả nước với 384 dự án mới và 115 dự án tăng thêm vốn, chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ, tổng số vốn đăng ký chỉ 1,3 tỉ USD. Dù vốn đăng ký thấp nhưng các dự án này phần nào đã “cứu” hình ảnh dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài của TP.HCM lâu nay. Bởi lẽ thu hút đầu tư vào sản xuất tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao trong năm qua chỉ có 18 dự án mới và 34 dự án tăng vốn.

Tình trạng trên tiếp tục lặp lại khi cả nước chỉ thu hút được 40 dự án mới trong tháng đầu tiên. Ông Lư Thanh Phong, phó giám đốc Sở Kế hoạch - đầu tư TP.HCM, cho biết số vốn giải ngân trên 900 triệu USD năm 2009 chủ yếu dựa trên các dự án nhỏ, và năm 2010 thành phố đang trông chờ vào những dự án bất động sản đã được cấp phép 2-3 năm trước.

Nhiều tỉ USD chờ giải ngân

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch - đầu tư), số vốn đăng ký vào ngành hóa dầu và bất động sản đã chiếm cỡ 80% vốn đầu tư nước ngoài trong hai năm 2007- 2008. Những dự án “tỉ đô” này do triển khai trên hàng nghìn hecta đất nên mất rất nhiều thời gian cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng.

Lãnh đạo một công ty có dự án bất động sản ở TP.HCM được cấp phép năm 2008 cho rằng thị trường bất động sản im ắng, giá cho thuê văn phòng tuột dốc là những nguyên nhân chính khiến nhà đầu tư không muốn triển khai trong thời gian này.

Tuy nhiên, vẫn có nhiều tín hiệu lạc quan hơn khi chủ đầu tư một số dự án lớn cam kết đẩy nhanh tiến độ hoặc bắt đầu khởi công trong những ngày đầu năm này. Ở TP.HCM, chủ đầu tư dự án Trung tâm tài chính VN (930 triệu USD) là Tập đoàn Berjaya (Malaysia) khẳng định ngay sau Tết Canh Dần 2010 sẽ bắt đầu rào chắn khu đất ở khu du lịch Kỳ Hòa để chuẩn bị khởi công.

Đại diện Tập đoàn Winvest Investment (Mỹ) tại VN cho biết vừa ký xong các hợp đồng san lấp mặt bằng 40ha đất đầu tiên được tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giao để chuẩn bị khởi công dự án trong tháng 3 này. Dự án khu du lịch giải trí đa năng lớn nhất nhì Vũng Tàu này đã phải dời kế hoạch khởi công nhiều lần vì mặt bằng không được giao đúng tiến độ.

Trong khi đó ông Vũ Lê, giám đốc điều hành Tập đoàn Galileo (Mỹ), rất lạc quan về dự án Thành phố sáng tạo (giai đoạn một 1,68 tỉ USD) ở Phú Yên. Theo ông Vũ, khoảng 100 triệu USD là ngân sách dự kiến giải ngân cho việc xây cao ốc văn phòng làm việc, cơ sở hạ tầng khu trung tâm thành phố. “Do phần đất ở khu nam Phú Yên không có bao nhiêu hộ dân nên công tác giải phóng mặt bằng sẽ nhanh, có thể trong tháng 4 san lấp xong và tháng 7 sẽ khởi công”, ông Vũ nói.

Nhưng có lẽ lạc quan nhất là ông Đặng Thành Tâm, chủ tịch Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn (SGI). Theo ông Tâm, chủ tịch Tập đoàn Foxconn (Đài Loan) vừa có chuyến thăm chớp nhoáng đến VN để xác nhận lại cam kết khoản đầu tư 5 tỉ USD với các nhà lãnh đạo VN. Theo ông Tâm, những gì Foxconn đã tuyên bố đầu tư cách đây hai năm ở VN nay vẫn tiếp tục. Trước đây tập đoàn này đã thông báo khoản đầu tư 5 tỉ USD tại VN nhưng do khủng hoảng kinh tế nổ ra, kế hoạch đầu tư đã bị trì hoãn và nay công bố được nối lại.

Nguồn: LÊ NGUYÊN MINH - Tuổi trẻ

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2010

Niềm tin tiêu dùng 2010 nhìn từ một cuộc khảo sát

Một sạp giày dép tại chợ Đồng Xuân, Hà Nội - Ảnh: AP.

Suy nghĩ của người tiêu dùng cho thấy rằng chỉ có hai lĩnh vực sẽ bị giảm chi trong năm 2010
2009 không phải là một năm dễ dàng đối với nền kinh tế Việt Nam.

Đã qua rồi cái thời tiêu xài xông xênh của những ngày trước và sau khi gia nhập WTO, thay vào đó là cách chi tiêu khôn ngoan và dè dặt hơn trong năm 2009. Tuy nhiên, các chuyên gia lại cho rằng Việt Nam đang thoát khỏi khủng hoảng và đã sẵn sàng cho giai đoạn sán lạn hơn phía trước.

Cơ sở cho nhận định lạc quan đó là lòng tin của người tiêu dùng Việt Nam được dự báo sẽ khôi phục trong năm 2010.

Ngay trước Tết Canh Dần, Công ty Nghiên cứu thị trường TNS Vietnam đã tiến hành một cuộc khảo sát về lòng tin tiêu dùng lần thứ 4 kể từ năm 2006 ở Hà Nội và Tp.HCM để thu thập phản hồi từ các hộ gia đình trung bình của Việt Nam. Khá nhiều bất ngờ thú vị từ những kết quả thu được của cuộc khảo sát này.

Thất nghiệp

Trong số 500 hộ gia đình được khảo sát vào tháng 1/2009, 86% người tiêu dùng tin rằng thất nghiệp ở Việt Nam sẽ tăng lên trong năm 2009.

Nhìn sang năm 2010, người tiêu dùng dường như lạc quan hơn nhiều với số người sợ thất nghiệp giảm xuống dưới 50%, trong khi 1/3 cho rằng thất nghiệp sẽ giảm trong năm 2010. 75% số người tiêu dùng này cũng phát biểu rằng họ cảm thấy an toàn với công việc hiện tại, so với con số 60% của năm 2009.

Năm 2009, nhiều người Việt (39%) nói rằng nếu mất việc, họ sẽ nhanh chóng tìm được công việc mới, nhưng nhìn qua năm 2010, con số này đã tăng nhẹ lên 47%.

Mặc dù vẫn thấp hơn năm 2006 và 2008, nỗi lo thất nghiệp trong năm 2010 đã giảm đáng kể và tương tự với năm 2006. Thất nghiệp không còn là nỗi đe dọa lớn, nhưng trên 60% người tiêu dùng vẫn xem khả năng thất nghiệp là một mối quan tâm.

Lòng tin tiêu dùng và nền kinh tế

Năm 2009, bối cảnh kinh tế chung của Việt Nam có phần xáo trộn.Trong số 6 chỉ số kinh tế được đo lường, có tới 3 chỉ số cho thấy tình hình sẽ xấu hơn trong 12 tháng tới, bao gồm: giá trị của đồng tiền Việt Nam (VND), thất nghiệp và giá sinh hoạt, trong khi 3 xu hướng kia vẫn còn tích cực so với năm trước, đó là: nền kinh tế Việt Nam, đầu tư nước ngoài (FDI) và mức sống cá nhân.

Lòng tin của người tiêu dùng trong năm 2010 đã trở lại, với 5 trong 6 chỉ số chính thể hiện sự tăng trưởng tích cực. Nhưng cũng có những sụt giảm tiêu cực trong 2010.

Nhìn chung, người tiêu dùng đã tìm lại được niềm tin đối với nền kinh tế Việt Nam, với 60% có suy nghĩ lạc quan so với chỉ 45% có suy nghĩ tương tự về nền kinh tế năm 2009. Quan trọng hơn, số người cho rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ xấu đi đã giảm một nửa so với năm 2009 và hiện tại chỉ chiếm 17% trong tổng số người được khảo sát.

Mặc dù không bằng với trước thời khủng hoảng, đây vẫn là sự gia tăng rõ rệt trong quan điểm lạc quan của người tiêu dùng đối với bối cảnh kinh tế Việt Nam 2010.

Tiêu chuẩn được đề cập nhiều nhất, đó là “mức sống cá nhân” đã có sự gia tăng cao nhất so với năm 2009, với trên một nửa số người tiêu dùng cho rằng mức sống của họ sẽ cải thiện trong năm 2010, trong khi chỉ có 1/3 người có cùng suy nghĩ trong năm 2009, tăng 17 điểm.

Tuy nhiên, điều thật sự quan trọng của những kết quả này là con số phần trăm người tiêu dùng cho rằng mức sống cá nhân sẽ xấu đi đã giảm xuống. Năm 2009, 17% số người được khảo sát nói rằng mức sống sẽ đi xuống, nhưng chỉ có 9% đồng ý như vậy về năm 2010, điều này thể hiện rằng trước khủng hoảng thì số người có suy nghĩ này gấp hai lần.

FDI là một xu hướng tích cực khác, với 60% người được khảo sát tin rằng FDI và môi trường đầu tư nói chung sẽ cải thiện trong năm 2010. Những con số này cũng tương xứng với với mức tăng trưởng dự đoán FDI của Việt Nam và sẽ mang lại nhiều ngoại tệ cần thiết cho hệ thống ngân hàng trong năm 2010. Điều này cũng sẽ làm giảm bớt áp lực trong việc mất giá của VND.

Nhìn chung, người tiêu dùng Việt Nam lạc quan hơn về kinh tế trong năm 2010. Mặc dù vẫn còn thận trọng, vì những ảnh hưởng tiêu cực ở Việt Nam từ cuộc khủng hoảng toàn cầu xấu nhất trong nhiều thập kỷ qua, nhưng rốt cuộc thì lòng tin là nhiên liệu cho động cơ tăng trưởng kinh tế và Việt Nam dường như đang đứng trên đỉnh thùng chứa nhiên liệu.

Giá trị của VND bị sụt giảm nhiều trong lòng tin của người tiêu dùng với 54% số người tiêu dùng phát biểu rằng VND sẽ mất giá trong năm 2009 so với năm 2008. Năm 2010, người tiêu dùng vẫn còn suy nghĩ tiêu cực với 54% số người có nhận xét rằng giá trị của VND sẽ giảm đi, cùng tỷ lệ với năm 2009.

Điều này chắc hẳn được củng cố bởi sự điều chỉnh tỷ giá hồi cuối tháng 11/2009 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Chi tiêu và tiết kiệm

Kết quả của cuộc khảo sát “Lòng tin tiêu dùng năm 2009 của TNS” đưa ra con số 52% số hộ gia đình được khảo sát sẽ giảm chi tiêu hàng tháng vì suy thoái so với năm 2008.

Cuộc khảo sát năm nay cho thấy sự giảm bớt trong kiểu chi tiêu thận trọng, với 39% nói rằng họ sẽ giảm chi tiêu, trong khi 25% sẽ tiêu bằng năm 2009 và 35% sẽ chi nhiều hơn trong năm 2010.

Để củng cố hơn nữa về thay đổi thói quen chi tiêu, dữ liệu từ TNS VietCycle chỉ ra rằng tất cả các đáp viên có tiết kiệm vào tháng 9/2008, khoảng 11% thu nhập của họ được tiết kiệm trước suy thoái toàn cầu. 12 tháng sau, con số đã tăng lên 22%.

Vì vậy, hầu hết người tiêu dùng vẫn đang kiếm tiền, nếu không muốn nói là nhiều hơn trước suy thoái, tuy nhiên họ dường như thận trọng hơn và đang giữ chặt số tiền khó khăn kiếm được. Điều này phản ánh tăng trưởng chung trong tiết kiệm đối với trên 90 ngân hàng ở Việt Nam, nhưng các chỉ số lại cho thấy hầu hết các khoản tiết kiệm này vẫn ở bên ngoài các tổ chức kinh tế, ở trong nhà và két sắt.

Ở một vài phương diện, các kết quả này rất tích cực, vì chúng khẳng định rằng người Việt Nam vẫn có của cải và thu nhập, nhưng thách thức mà những người làm marketing phải đối mặt là làm thế nào để “dụ dỗ” người tiêu dùng chi tiêu khoản tiết kiệm của họ trong năm 2010.

Khi nền kinh tế bắt đầu hồi phục, một lần nữa người tiêu dùng hoàn toàn có thể tiêu hoang các khoản tiết kiệm để nâng cao mức sống cá nhân. Tuy nhiên, câu hỏi được đưa ra là họ sẽ chi vào những gì?

Trong số 11 lĩnh vực trong cuộc khảo sát “Lòng tin tiêu dùng của TNS năm 2009”, duy nhất lĩnh vực giáo dục được tăng thêm trong khoản chi với 19%, trong khi lĩnh vực chăm sóc sức khỏe không tăng cũng không giảm. 9 lĩnh vực còn lại, người tiêu dùng đều giảm chi, từ nhiều như 42% cho việc giải trí và ăn ngoài đến ít như 12% cho thực phẩm và đồ uống.

2010, một năm khác biệt

Suy nghĩ của người tiêu dùng cho thấy rằng chỉ có hai lĩnh vực sẽ bị giảm chi trong năm 2010. Giải trí và ăn ngoài một lần nữa là lĩnh vực bị giảm nhiều nhất. Tuy nhiên, khi xem xét lại quan điểm của người tiêu dùng về việc tăng chi tiêu cho việc này, sự suy giảm trở nên nhỏ hơn chỉ ở mức 6%. Lĩnh vực khác bị ảnh hưởng tiêu cực trong năm 2010 có vẻ như là các thiết bị gia dụng, giảm 1% so với 27% năm 2009.

Như vậy trong năm 2010, 9/11 lĩnh vực được khảo sát có sự gia tăng trong chi tiêu. Giáo dục một lần nữa đứng đầu danh sách với mức tăng cao nhất năm 2010 (59%), trong khi chỉ giảm 8%, vì vậy 49% người tiêu dùng nói rằng đang chi nhiều hơn vào giáo dục năm 2010, trong khi chỉ 1/3 chi bằng với năm 2009.

Ngành thực phẩm và đồ uống được tăng nhiều nhất so với năm 2009. Năm ngoái, khoảng 16% nói sẽ giảm chi tiêu về mặt này, trong khi chỉ 4% nói rằng sẽ tăng, nhưng năm 2010 có tới 40% người tiêu dùng sẽ tăng và chỉ 8% giảm chi tiêu.

Như vậy, ít nhất 1/3 trong tổng số người tiêu dùng sẽ móc ví cho loại thức ăn và nước uống ưa thích của mình trong năm 2010.

Trong 11 lĩnh vực được khảo sát, mức gia tăng chi tiêu tối thiểu từ 3% đến 49%. Như vậy trung bình khoảng 17% người tiêu dùng giảm chi tiêu, trong khi 30% sẽ tăng.

Tổng thể, dựa trên nhận thức của người tiêu dùng, chi tiêu sẽ tăng khoảng 14% cho các lĩnh vực, một điều rất tích cực, nếu không muốn nói là viễn cảnh lạc quan cho năm 2010.

* Tác giả bài viết là Giám đốc Điều hành Công ty Nghiên cứu thị trường TNS Vietnam.

Theo Vneconomy

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2010

Luật Thủ đô: Cần, cũng không thể vội

Luật Thủ đô được kỳ vọng sẽ góp phần khắc phục những bất cập trong quy hoạch Hà Nội hiện nay.
Sáng 9/2, tại phiên họp thứ 28, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đồng ý bổ sung dự án Luật Thủ đô vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010.
Theo tờ trình của Chính phủ, việc ban hành Luật Thủ đô sẽ tạo cơ sở pháp lý ở tầm luật để thực hiện quy hoạch, đầu tư, xây dựng, quản lý và phát triển Thủ đô Hà Nội theo các chính sách, cơ chế đặc thù; góp phần khắc phục bất cập, hạn chế hiện nay trong quy hoạch, đầu tư, xây dựng, quản lý và phát triển Thủ đô…

Chính phủ cũng đề nghị Quốc hội xem xét thông qua dự án án luật này tại kỳ họp thứ bảy (tháng 5/2010). Vì, việc Quốc hội xem xét thông qua Luật Thủ đô trong thời gian chuẩn bị Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội sẽ có "ý nghĩa rất lớn" về mặt chính trị và tinh thần đối với đất nước ta, và là "cơ sở pháp lý quan trọng" để xây dựng Thủ đô văn minh, thanh lịch, hiện đại trong tình hình mới.

Tuy nhiên, đề nghị này chưa nhận được sự đồng tình cao trong quá trình thảo luận.

Thường trực Ủy ban Pháp luật cho rằng việc xem xét thông qua dự án luật này tại một kỳ họp là không khả thi. Bởi, dự thảo luật còn có những vấn đề chưa phù hợp với quy định của hệ thống pháp luật hiện hành, thể hiện ở các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, về ngân sách và một số cơ chế đặc thù…

Theo dự luật, về ngân sách, ngoài tỷ lệ thưởng chung đối với các khoản tăng thu so với dự toán Trung ương giao, Hà Nội sẽ được sử dụng 100% số tăng thu còn lại, kể cả thu từ xuất nhập khẩu để đầu tư cho phát triển. Nhưng theo Luật Ngân sách Nhà nước thì Chính phủ quyết định trích thưởng với tỷ lệ không quá 30% cho ngân sách địa phương.

Thủ đô cũng đề xuất một số cơ chế đặc thù như có cảnh sát đô thị, kiến trúc sư trưởng, có đãi ngộ về tuyển dụng, sử dụng phụ cấp, mức thưởng, thù lao đặc thù...

Bên cạnh đó, tiến độ chuẩn bị dự án luật cũng là vấn đề đáng lo, vì Ban soạn thảo Luật Thủ đô mới được thành lập tháng 7/2009. Hiện dự thảo luật lần thứ tư vẫn còn đang chỉnh sửa, chưa được Chính phủ cho ý kiến.

Nhiều nội dung lớn cần phải có thời gian khảo sát, nghiên cứu và thảo luận kỹ, Chủ nhiệm Nguyễn Văn Thuận nói. Vì vậy, Thường trực Ủy ban Pháp luật đề nghị trình dự án luật tại kỳ họp Quốc hội thứ bảy và thông qua tại kỳ họp thứ tám.

Đồng tình với quan điểm của Ủy ban Pháp luật, nhiều ý kiến cho rằng nếu thông qua tại một kỳ họp thì tính khả thi không cao. Theo trưởng ban Dân nguyện Trần Thế Vượng, Pháp lệnh Thủ đô không đi vào cuộc sống vì có nhiều điểm không phù hợp với pháp luật hiện hành. Vì thế ông tỏ ra lo ngại khi những quy định của Luật Thủ đô cũng sẽ “vướng” bởi chính điều này.

"Hiến pháp không quy định là phải có đặc thù riêng cho Thủ đô. Bộ máy hành chính cả nước như nhau. Nếu bây giờ làm cái gì khác đi là không phù hợp", ông Vượng bày tỏ.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước cũng cho rằng việc xây dựng Luật Thủ đô không nên “chạy theo” kỷ niệm 1.000 năm hay bao nhiêu năm mà nên làm cho “chắc ăn”. Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền và Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai đều cho rằng không nên thông qua Luật Thủ đô theo quy trình một kỳ họp, vì tính khả thi không cao.

Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường, so với dự kiến ban đầu, dự thảo luật đã rút từ 56 điều xuống còn 33 điều. Trước khi nghỉ Tết, ban soạn thảo sẽ gửi dự thảo luật lấy ý kiến các bộ ngành, địa phương. "Khoảng rằm tháng Giêng, chúng tôi sẽ thu thập được các ý kiến đóng góp và sẽ hoàn chỉnh các báo cáo đánh giá tác động để tháng 3 kịp trình lên Thường vụ Quốc hội", ông Cường cho biết.

Kết lại phần thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đề nghị ban soạn thảo phải gấp rút hoàn thiện để có thể thông qua ngay tại kỳ họp Quốc hội thứ bảy. Trong trường hợp dự thảo luật đưa ra Quốc hội mà đại biểu có ý kiến chưa thống nhất thì lúc đó sẽ xem xét lùi lại kỳ họp sau.

Cũng liên quan đến việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010, một số dự án luật Chính phủ xin “lùi” tại kỳ họp trước sẽ được xem xét trong năm nay. Đó là các dự án Luật Tiếp cận thông tin, Luật Biển Việt Nam, Luật Cơ yếu, Luật Đầu tư công và nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 66/2006/QH11 về công trình, dự án quan trọng Quốc gia trình Quốc hội quyết định cũng được bổ sung vào chương trình của năm 2010.

Thường trực Ủy ban Pháp luật và một số ý kiến khác cũng đề nghị bổ sung vào chương trình việc sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Luật Đất đai, pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
(Theo VnEconomy)

Bộ trưởng Võ Hồng Phúc và “kỷ niệm” thú vị với lạm phát

picture

Bộ trưởng Võ Hồng Phúc.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc nhìn lại chặng đường nóng bỏng của nền kinh tế hơn hai năm qua

Năm 2005, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc đã làm cho gần 500 đại biểu Quốc hội cũng như dư luận khi đó rất thích thú khi tuyên bố: “Tôi xung phong trả lời chất vấn!”.

Bởi, thời kỳ đó và có lẽ kể cả bây giờ cũng vậy, đăng đàn chất vấn đối với các bộ trưởng là công việc khó khăn và chỉ rất ít bộ trưởng có được cảm giác không... ngại. Vào những tháng cuối năm 2007, đầu năm 2008 và kéo dai dẳng sang cả năm 2009, nền kinh tế đất nước vào tình trạng vô cùng căng thẳng vì những dư chấn của cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng tới, thì lạc quan và tự tin là điều mà người ta luôn thấy ở người đứng đầu ngành kế hoạch và đầu tư.

Cách đánh giá, nhận định tình hình của ông cũng hết sức thận trọng, tỉnh táo, gai góc nhưng rất hóm hỉnh và đôi lúc pha cả chút... lãng tử.

Thưa Bộ trưởng, sự “nhạy bén” này có phải là quá trình điều chỉnh liên tục từ mục tiêu tổng quát đến các mục tiêu tăng trưởng, lạm phát... từ đầu năm đến nay và cuối tháng 11/2009, chính sách điều hành lại tiếp tục chuyển hướng?

Đúng là như vậy. Sự nhạy bén không chỉ thể hiện trong việc điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thể hiện trong sự linh hoạt, chủ động trong điều hành.

Chúng ta thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động đến hầu hết các nước.

Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã thường xuyên cập nhật thông tin, phân tích tình hình và ngay từ đầu tháng 10 năm 2008 đã có bước điều chỉnh mục tiêu hành động, trong đó xác định chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế cùng với việc kiềm chế lạm phát.

Đầu tháng 12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Đây là sự chuyển hướng quan trọng, kịp thời, đúng đắn và cũng rất khó khăn trước tình hình diễn biến rất phức tạp, thể hiện bước tiến mới về năng lực lãnh đạo, trình độ dự báo và khả năng phản ứng chính sách của Đảng và Nhà nước.

Có thể nói, sự nhạy bén trong việc nắm bắt kịp thời xu thế biến động của kinh tế thế giới cũng như những điều hành kịp thời, quyết liệt và phù hợp với tình hình thực tế đã giúp cho nền kinh tế nước ta không rơi vào khủng hoảng, hạn chế được mức độ suy giảm, từ đó duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 5,2%.

Tôi cho rằng, đây là một thành công lớn trong điều hành phát triển kinh tế của Việt Nam trong năm 2009.

Kích cầu “đã bấm đúng huyệt”

Góp vào thành công lớn của năm 2009, không thể không nhắc đến gói kích cầu hỗ trợ lãi suất có giá trị 1 tỷ USD, một cách làm rất riêng của Việt Nam. Tại cuộc chất vấn của phiên họp thứ 18, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, khi lần đầu tiên nhắc đến gói này, một số đại biểu Quốc hội đã cho rằng Chính phủ vượt quyền Quốc hội khi “độc quyền” sáng tạo như vậy. Những cảm nhận của Bộ trưởng khi đó là gì và Bộ trưởng đã thuyết phục thế nào cho họ hết “giận”?

Tôi thấy rất chia sẻ với cảm giác này. Nhưng trong các biện pháp thì chúng ta phải có những xử lý thích ứng đối với điều kiện cụ thể. Tình cảnh đột xuất nên phải có những giải pháp đột xuất. Chính phủ phải có sự chủ động của mình.

Trước khi trả lời chất vấn trong phiên họp này thì tôi cũng nhận được một số câu hỏi mà các đại biểu Quốc hội gửi đến Thủ tướng và Thủ tướng chuyển lại cho tôi.

Các đại biểu hỏi: “Tại sao ở Mỹ xin Tổng thống, xin Quốc hội khi đưa ra các giải pháp xử lý còn ở Việt Nam thì không trình ra Quốc hội để xử lý?”.

Tôi cho rằng học tập kinh nghiệm của Quốc hội các nước khác là được, nhưng Quốc hội mỗi một nước có tổ chức thích ứng với điều kiện của nước đó, phù hợp với thể chế chính trị của nước đó.

Ở Mỹ là chế độ Tổng thống, hành pháp chỉ một Tổng thống, cơ chế của Mỹ là một mình cá nhân Tổng thống quyết nên phải đưa ra Quốc hội để kiểm chứng tập thể.

Trong khi đó, của chúng ta là Chính phủ. Khi bàn về một chủ trương thì bàn tập thể trong Chính phủ, sau đó Chính phủ trình ra Thường vụ Quốc hội, Thường vụ Quốc hội cho ý kiến, Chính phủ tiếp thu và lại trình Bộ Chính trị. Để thực hiện chủ trương này chúng ta đã qua mấy lần tập thể bàn. Chính phủ làm như vậy, tôi cho là rất đúng quy trình.

Cùng đó là Quốc hội của chúng ta là Quốc hội không thường xuyên, trong khi Quốc hội Mỹ ngày nào cũng họp, khi Tổng thống sang xin chủ trương không được, Tổng thống về sửa vài câu rồi lại trình lại.

Còn Quốc hội chúng ta chỉ họp 1 năm 2 lần, mỗi kỳ họp 1 tháng. Nếu chủ trương kích cầu này chúng ta đợi đến kỳ họp Quốc hội mới trình thì làm gì còn tính chất nhạy bén của chương trình chính sách, lúc đó doanh nghiệp “chết hết” rồi vì tình hình kinh tế đã khác rồi chứ không phải như bây giờ!

Qua phân tích tình hình kinh tế, thị trường tài chính tiền tệ, phân tích hoạt động của doanh nghiệp khi gói kích cầu đi vào cuộc sống thì một thực tế mà tất cả chúng ta đều nhận thấy, đó là gói kích cầu này là một quốc sách đúng, bấm đúng “huyệt” của nền kinh tế, nên đã giải quyết được vấn đề.

“Kỷ niệm” thú vị với... lạm phát

Trong kỳ họp thứ 6 vừa diễn ra, Bộ trưởng đã có sự “chia lửa” với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước khi một lần nữa tái khẳng định hiệu quả của chính sách kích cầu cũng như hiệu quả điều hành của chính sách tài chính tiền tệ. Nhìn lại chặng đường nóng bỏng của nền kinh tế hơn hai năm qua thì những điều gì khiến Bộ trưởng thấy thú vị nhất?

Chúng ta đã kiểm điểm tình hình năm 2008, năm 2007 và đang kiểm điểm năm 2009. Phải nói rằng những chính sách lớn mà Chính phủ đã trình Quốc hội được Quốc hội thông qua là hoàn toàn đúng đắn.

Năm 2007, dưới biến động của tình hình tăng trưởng tín dụng tăng cao, đến mức 53,77%, tôi nhớ rất rõ con số đó. Tổng phương tiện thanh toán tăng đến con số 46,88% là những con số, chỉ số kinh tế vĩ mô không ổn định.

Chỉ số lạm phát, chỉ số giá năm 2007 là 17%. Quí 1/2008 tăng trưởng đột biến lên đến 10%. Trong thời gian từ tháng 3 năm 2007 đến đầu tháng 4 năm 2008, nhiều chuyên gia kinh tế trong nước, ngoài nước đã dự báo rằng lạm phát cả năm 2008 sẽ tăng tới 32% đến 35%!

Khi đó, tôi nhớ rằng trong kỳ chất vấn tôi tại hội trường Quốc hội vào tháng 5/2008, có nhiều vị đại biểu Quốc hội nói rằng: “Bộ trưởng dự báo chỉ số lạm phát như thế nào”, tôi có nói con số khoảng dưới 22%.

Khi đưa ra con số đó có người nói tôi là còn chủ quan. Nhưng cuối cùng thực tế với các biện pháp nỗ lực của Chính phủ chỉ số giá năm 2008 chỉ dưới 19%. Chúng ta kịp thời nắm bắt tình hình và đã có chính sách và phản ứng kịp thời.

Hay cũng về chỉ tiêu lạm phát thì còn có câu chuyện rất đáng nhớ nữa là đầu năm 2009, một trong 4 chỉ tiêu Chính phủ đưa ra Quốc hội đề nghị điều chỉnh là chỉ số CPI điều chỉnh từ dưới 15% xuống còn dưới 10%.

Nếu Chính phủ không tích cực, cứ để theo nghị quyết của Quốc hội đã thông qua từ tháng 11/2008 là giữ chỉ số giá tiêu dùng dưới 15% thì khả năng để phòng ngừa tái lạm phát sẽ yếu hơn nhiều.

Cho nên phải khẳng định rằng những chính sách của chúng ta đã thực hiện năm 2008 là hoàn toàn đúng đắn. Chúng ta là duy trì tốc độ tăng trưởng một cách hợp lý với tốc độ tăng trưởng năm 2008 ở mức 6,2%, một con số tăng trưởng phù hợp với tình hình thực tế của chúng ta.

Đối với năm 2009 thì có vấn đề đặt ra là gói kích cầu của chúng ta có đúng không? Phải nói rằng toàn bộ gói kích cầu của chúng ta tính tương đương 8 tỷ Đô la, trong đó có 4 nội dung: hỗ trợ lãi suất, giảm thuế, tăng vốn đầu tư, các hỗ trợ cho an sinh xã hội. Kết quả của các giải pháp đồng bộ của gói kích cầu đó là chúng ta tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng một cách hợp lý.

Những trăn trở còn lại

Nhiều chuyên gia kinh tế trong nước cũng như thế giới đều đưa ra nhận định rằng thời khắc nóng bỏng và khó khăn nhất của nền kinh tế Việt Nam đã qua trong thành công. Nhưng, như theo quy luật của mọi sự phát triển thì không có thành công nào viên mãn. Bộ trưởng có thể chia sẻ về “góc khuất” của sự thành công?

Trong điều hành kinh tế năm 2009, vẫn có một số vấn đề chưa đạt được như mong muốn. Tổng thể là được nhưng đi vào cụ thể từng điểm thì có một số điểm cần phải lưu ý, rút kinh nghiệm.

Việc thực hiện gói kích cầu của Chính phủ nhìn chung là tốt, nhưng vẫn còn một vài thủ tục gây cản trở làm cho công tác triển khai chưa thật tốt ở một số nơi.

Trong đầu tư xây dựng cơ bản cho dù chúng ta đã kịp thời cải tiến, nhưng chỉ mới thực sự bắt đầu đi vào thực tế vào cuối năm, nên tốc độ giải ngân chưa cao, từ vốn trái phiếu Chính phủ đến vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Các thủ tục hành chính khác như thủ tục hải quan, thuế... vẫn còn khá nặng nề, nên ít nhiều đã cản trở một số hoạt động của doanh nghiệp. Đó là những vấn đề cần phải được lưu ý để xử lý kịp thời trong năm 2010...

Với kinh nghiệm hơn 10 năm trực tiếp xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, năm 2010, theo dự cảm của Bộ trưởng thì chỉ tiêu GDP của chúng ta tăng 6,5% có phải là một cái đích khó khăn không?

Theo nhiều dự báo, kinh tế toàn cầu năm 2010 sẽ có chuyển biến tích cực hơn, nhưng khó khăn còn nhiều. Kinh tế thế giới vẫn đang biến động phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro, khó lường. ở trong nước, những yếu kém vốn có của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng thấp trong năm 2009 sẽ còn ảnh hưởng nhiều mặt đến sản xuất và đời sống.

Tuy nhiên, tôi cho rằng, năm 2010 là năm nền kinh tế nước ta sẽ phát triển tốt hơn năm 2009. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế đã được Quốc hội thông qua là khoảng 6,5%, nhưng tôi hy vọng, chúng ta sẽ cố gắng phấn đấu để đạt mục tiêu cao hơn 6,5%.

Theo Vneconomy