Hiển thị các bài đăng có nhãn Ketoantc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ketoantc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2010

Quy định mới về khấu trừ chi phí quảng cáo, tiếp thị: Cơ hội và thử thách đối với DN

Từ kỳ tính thuế năm 2009, những khống chế đối với việc khấu trừ chi phí quảng cáo, tiếp thị được nới lỏng hơn thông qua việc Bộ Tài chính ban hành Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 (sau đây gọi tắt là Thông tư 130).

Nhìn chung, Thông tư 130 tạo điều kiện cho các DN, nhất là DN vừa và nhỏ đầu tư thâm nhập thị trường trong giai đoạn đầu và mở ra cơ hội cho những DN đã có một chỗ đứng nhất định củng cố thương hiệu và nâng cao thị phần.

Tuy nhiên, cơ hội luôn kèm theo thử thách, mà thử thách trong việc khấu trừ thuế lại rất tốn kém, vì bên cạnh phần thuế đóng thêm, DN còn phải chấp nhận những khoản tiền phạt kèm theo.

Ngoài việc cho phép DN khấu trừ toàn bộ những chi phí liên quan đến nghiên cứu thị trường, trưng bày, giới thiệu sản phẩm như trước đây (tức là theo Thông tư 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007), theo quy định tại Thông tư 130, DN còn được phép khấu trừ hoa hồng môi giới bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm và hoa hồng trả cho các đại lý bán hàng đúng giá. Bên cạnh đó, đối với DN thành lập mới từ ngày 1/1/2009, mức khống chế được giảm trừ chiết khấu thương mại trên doanh thu là 15% trong 3 năm đầu, kể từ khi được thành lập (không áp dụng đối với DN được thành lập mới do hợp nhất, chia, tách, sáp nhập, chuyển đổi hình thức DN, chuyển đổi sở hữu).

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ chỉ đề cập đến loại chi phí liên quan đến hoa hồng trả cho các đại lý bán hàng đúng giá, chi phí trưng bày và giới thiệu sản phẩm.

1. Hoa hồng trả cho các đại lý bán hàng đúng giá

Theo Mục 4 Luật Thương mại 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005, sau đây gọi tắt là Luật Thương mại (từ Điều 166 đến Điều 177), có một số điểm quy định cần chú ý về hoạt động đại lý như sau:

- Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương;

- Bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hóa hoặc tiền giao cho bên đại lý;

-Về giá mua bán hàng hóa, có hai trường hợp: hoặc bên giao đại lý ấn định giá mua, giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng để bên đại lý được hưởng hoa hồng tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua, giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ; hoặc bên giao đại lý không ấn định giá mua, giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng, mà chỉ ấn định giá giao đại lý cho bên đại lý để bên đại lý hưởng chênh lệch giá.

Nói cách khác, chi phí hoa hồng trả cho các đại lý để được khấu trừ toàn bộ phải đáp ứng tất cả các điều kiện nêu trên, và chỉ chi phí hoa hồng trả cho đại lý bán đúng giá mới được hưởng chính sách này.

Trong thực tế, các DN thường ký hợp đồng phân phối trong đó quy định việc nhà phân phối phải bán đúng giá và hưởng một tỷ lệ chiết khấu nhất định (có thể là chiết khấu chung hoặc chiếu khấu thương mại do đạt mức doanh số quy định). Tuy nhiên, quyền sở hữu hàng hóa chuyển giao hoàn toàn cho nhà phân phối và DN chỉ chấp thuận nhận lại hàng kèm theo một số điều kiện nhất định. Trong trường hợp đó, khoản chiết khấu cho nhà phân phối có khả năng không được khấu trừ toàn bộ như hoa hồng cho đại lý bán đúng giá, vì không đáp ứng toàn bộ các yêu cầu nêu trên của Luật Thương mại.

Tuy nhiên, DN vẫn có thể áp dụng một phương pháp khác, đó là giảm trừ doanh thu đối với chiết khấu thương mại. Theo Công văn 3997/TCT-CS ngày 27/09/2007 và Công văn 1644/TCT-CS ngày 25/04/2008 của Tổng cục Thuế thì chiết khấu thương mại do nhà phân phối đạt tổng doanh số mua nhất định theo quy chế nội bộ của công ty sẽ được ghi giảm giá trên hóa đơn bán hàng khi phát sinh khoản chiết khấu và khoản chiết khấu này được xem là giảm trừ doanh thu không hạch toán vào chi phí.

Tóm lại, DN có hai lựa chọn trong việc hạch toán hoa hồng cho nhà phân phối tùy vào đặc thù kinh doanh và thỏa thuận giữa DN và các đại lý bán đúng giá hưởng hoa hồng để được khấu trừ 100%, hoặc thực hiện chiết khấu thương mại theo doanh số để được giảm trừ doanh thu. Cho dù lựa chọn cách nào thì DN cũng phải đảm bảo tính đầy đủ của hóa đơn chứng từ và phương pháp hạch toán kế toán phù hợp.

2. Chi phí trưng bày

Hiện nay, chúng tôi chưa thấy có hướng dẫn cụ thể về loại chi phí trưng bày được khấu trừ 100%. Đó là cơ hội và đồng thời là thử thách cho DN.

Chi phí trưng bày DN phát sinh rất đa dạng, từ việc thuê kệ trong các siêu thị, cửa hàng của nhà phân phối lớn đến các cửa hàng nhỏ lẻ khắp mọi miền Việt Nam, từ bệnh viện cho đến phòng khám tư nhân, từ nhà hàng sang trọng đến các quán ăn lề đường, tùy đặc tính sản phẩm và thị trường tiêu thụ. Việc trưng bày có thể để giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng, có thể để bán hàng, hoặc có thể cho cả hai mục đích này. Vậy thì nhóm nào sẽ được khấu trừ 100%? Đây là câu hỏi còn đang bỏ ngỏ, đa số DN sẽ chấp nhận rủi ro và ghi nhận toàn bộ khoản chi phí trên vào nhóm chi phí trưng bày nói chung, trong khi chờ hướng dẫn cụ thể từ Bộ Tài chính hoặc Tổng cục Thuế.

Dù cho toàn bộ chi phí trưng bày nêu trên được khấu trừ thì vẫn còn một vấn đề khác phát sinh, đó là hóa đơn chứng từ liên quan. Không kể các siêu thị, nhà hàng, cửa hàng lớn khi mà việc thực hiện ký hợp đồng và xuất hóa đơn không phải là mối bận tâm, các DN khi chi trả phí trưng bày cho các cửa hàng nhỏ lẻ, phòng khám tư nhân đang phải đối mặt với thử thách rất lớn vì đa phần sẽ không có hóa đơn, chứng từ, hoặc nếu có thì chỉ là biên bản ký giữa hai bên và chứng từ chi tiền có chữ ký của bên nhận tiền. Hình thức chứng từ như vậy có đáp ứng quy định pháp lý để được khấu trừ chi phí thuế thu nhập DN? Đây cũng là một vấn đề nữa cần hướng dẫn cụ thể từ cơ quan thuế. Do đặc thù thị trường Việt Nam vẫn còn phổ biến loại hình kinh doanh nhỏ lẻ, chúng tôi cho rằng, cơ quan thuế nên sớm có hướng dẫn cụ thể hơn về những loại chi phí và tiêu chuẩn về hóa đơn, chứng từ hợp lý, hợp lệ cho loại hình kinh doanh này nhằm hỗ trợ hoạt động của DN và tăng thu nhập cho các cá nhân, hộ gia đình kinh doanh nhỏ lẻ.

Hiện nay, một số DN bắt đầu có xu hướng ký hợp đồng trọn gói với nhà phân phối, trên cơ sở đó nhà phân phối hoàn tất phần trưng bày sản phẩm ở các kênh phân phối bao gồm cả các cửa hàng nhỏ lẻ, chi phí trưng bày sẽ được nhà phân phối xuất hóa đơn về cho DN. Thiết nghĩ, đây cũng là một trong những cách khá hiệu quả giúp DN được khấu trừ chi phí trưng bày mà không phải đối mặt với rủi ro do không đáp ứng yêu cầu về hóa đơn hợp lệ. Tuy nhiên, rủi ro đó lại được chuyển qua cho nhà phân phối.

3. Chi phí giới thiệu sản phẩm

Tương tự như chi phí trưng bày, hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể cho việc hạch toán và loại chi phí giới thiệu sản phẩm được khấu trừ thuế.

hóm chi phí này khá đa dạng, có thể kể tên một số loại điển hình như sau: mẫu sản phẩm mới phát cho người tiêu dùng sử dụng thử bên ngoài các cao ốc, siêu thị, khu vui chơi..., mẫu sản phẩm mới đính kèm sản phẩm hiện có, chi phí liên quan đến thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm mới, chẳng hạn: mua một sản phẩm mới tặng kèm một sản phẩm đang tiêu thụ, chi phí cho các nhân viên giới thiệu sản phẩm, phát tặng sản phẩm, chi phí tổ chức trò chơi để giới thiệu sản phẩm, chi phí quà tặng bốc thăm trúng thưởng hoặc tham gia gian hàng trò chơi, chi phí thuê địa điểm tổ chức giới thiệu sản phẩm, chi phí quảng cáo giới thiệu sản phẩm mới, chi phí hội thảo giới thiệu sản phẩm mới...

Các loại chi phí nêu trên ít gặp rủi ro về việc thiếu hóa đơn chứng từ hợp lệ, vì hầu hết đều có hợp đồng, hóa đơn liên quan, rủi ro lớn nhất là thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể.cách thức hạch toán và ghi nhận hay loại chi phí nào sẽ được khấu trừ toàn bộ. Vì vậy, các DN có thể xem xét thực tiễn hoạt động kinh doanh của mình để quyết định việc bao hàm nhóm này vào chi phí khống chế hay chi phí được khấu trừ toàn bộ.

Hiện nay, vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất là chi phí liên quan đến nhân viên giới thiệu sản phẩm. Cụ thể, các nhân viên giới thiệu sản phẩm có thể là nhân viên làm việc bán thời gian ký hợp đồng trực tiếp với DN, hoặc nhân viên do bên thứ ba cung ứng. Các nhân viên này hỗ trợ việc tiêu thụ sản phẩm, tùy trường hợp mà có thể bao hàm cả sản phẩm mới và sản phẩm hiện đang tiêu thụ trên thị trường. Thông tư 130 chỉ quy định “chi phí giới thiệu sản phẩm” mà không nói rõ là giới thiệu “sản phẩm mới” hay “tất cả các nhóm sản phẩm”, vậy về nguyên tắc chi phí “giới thiệu sản phẩm” được khấu trừ 100% có thể bao gồm cả hai nhóm. Nói cách khác, chi phí nhân viên giới thiệu sản phẩm có một cơ hội nhất định để được khấu trừ 100%. Tuy nhiên, trong thực tế, đây là nhóm chi phí thường bị các cơ quan thuế đưa vào nhóm khống chế, do việc thể hiện nội dung công việc của các nhân viên giới thiệu sản phẩm trong hợp đồng và trong việc phân định công việc của họ không rõ ràng.

Như chúng tôi đã khẳng định ở phần giới thiệu bài viết này, hoạt động quảng cáo, khuyến mại có vai trò ngày càng quan trong trong hoạt động kinh doanh của DN, là công cụ giúp DN tới gần người tiêu dùng và giúp người tiêu dùng hiểu biết hơn về sản phẩm của DN. Tuy nhiên, làm sao để hạch toán các chi phí liên quan đến các hoạt động đúng quy định của Nhà nước và đảm bảo quyền lợi của DN đang là vấn đề cần sự quan tâm của các cơ quan quản lý bằng việc ban hành những quy định và hướng dẫn cụ thể hơn.

Theo Kiemtoan.com.vn

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

Sự khác biệt giữa Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC và Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC

Hình minh họa
Hình minh họa
Sự khác nhau cơ bản giữa Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC và Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC được thể hiện trong những nội dung chủ yếu dưới đây:



Nội dung qui định

Chế độ kế toán doanh nghiệp (QĐ 15/2006/QĐ-BTC)

Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa (QĐ 48/2006/QĐ-BTC)

Về áp dụng Hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Áp dụng đầy đủ tất cả các Chuẩn mực kế toán

Áp dụng đầy đủ 7 Chuẩn mực kế toán thông dụng, áp dụng không đầy đủ 12 Chuẩn mực kế toán và không áp dụng 7 Chuẩn mực kế toán do không phát sinh nghiệp vụ kinh tế hoặc quá phức tạp đối với DN nhỏ và vừa.

Về đối tượng áp dụng

Áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế.

DNNN, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên, công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, bắt buộc phải áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp (QĐ 15/2006/QĐ-BTC)

Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân có qui mô lớn áp dụng Chế độ kế toán DN (QĐ 15)

Áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa thuộc mọi lĩnh vực, mọithành phần kinh tế trong cả nước bao gồm công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã.

Chế độ kế toán DN nhỏ và vừa không áp dụng cho DNNN, công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên, công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, hợp tác xã nông nghiệp và hợp tác xã tín dụng.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể áp dụng Chế độ kế toán DN (QĐ 15/2006/QĐ-BTC) nhưng phải thông báo cho cơ quan thuế quản lý DN mình biết và phải thực hiện ổn định ít nhất trong 2 năm tài chính.

Các doanh nghiệp có qui mô nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực đặc thù như điện lực, dầu khí, bảo hiểm, chứng khoán ... được áp dụng Chế độ kế toán đặc thù do Bộ Tài chính ban hành hoặc chấp thuận cho ngành ban hành.

Về Hệ thống Tài khoản kế toán

Có 86 tài khoản cấp I

120 tài khoản cấp II
02 tài khoản cấp III
06 tài khoản ngoài bảng

Có 51 tài khoản cấp I
62 tài khoản cấp II
05 tài khoản cấp III
05 tài khoản ngoài bảng

Báo cáo tài chính

Về biểu mẫu BCTC năm
Phải lập Báo cáo tài chính năm và Báo cáo tài chính giữa niên độ
* Báo cáo tài chính năm gồm:
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN)
- Báo cáo kết quả hoath động kinh doanh (Mẫu số B02-DN)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DN)
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09-DN)

* Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ gồm:
- Bảng CĐKT giữa niên độ (dạng đầy đủ): Mẫu số B 01a-DN
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ (dạng đầy đủ): Mẫu số B 02a-DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ (dạng đầy đủ): Mẫu số B 03a-DN
- Bản thuyết minh BCTC chọn lọc: Mẫu số B 09a-DN

* BCTC giữa niên độ dạng tóm lược gồm:
- Bảng CĐKT giữa niên độ (dạng tóm lược): Mẫu số B 01b-DN
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ (dạng tóm lược): Mẫu số B 02b-DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ (dạng tóm lược): Mẫu số B 03b-DN
- Bản thuyết minh BCTC chọn lọc: Mẫu số B 09-DN
* Báo cáo tài chính hợp nhất
- Bảng CĐKT hợp nhất: (Mẫu số B 01-DN/HN)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất: (Mẫu số B02-DN/HN)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất: (Mẫu số B 03-DN/HN)
- Bản thuyết minh BCTC hợp nhất: (Mẫu số B 09-DN/HN)
* Báo cáo tài chính tổng hợp
- Bảng CĐKT tổng hợp: (Mẫu số B 01-DN)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tổng hợp: (Mẫu số B 02-DN)
- Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ tổng hợp: (Mẫu số B 03-DN)
- Bản thuyết minh BCTC tổng hợp: (Mẫu số B 09-DN)

Phải lập Báo cáo tài chính năm

a. Báo cáo tài chính cho DN nhỏ và vừa:
* Báo cáo tài chính bắt buộc phải lập:
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DNN)

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DNN)
- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính (Mẫu số B09-DNN)
- Phụ biểu – Bảng cân đối tài khoản (Mẫu số F01-DNN gửi cho cơ quan thuế)
* Báo cáo tài chính khuyến khích lập:
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DNN)
b. Báo cáo tài chính qui định cho Hợp tác xã:
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DNN)
- Bảng cân đối tài khoản (Mẫu số B01-DNN/HTX)
- Báo cáo kết quả hoạt HĐKD (Mẫu số B02-DNN/HTX)
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09-DNN/HTX)
* Không qui định BCTC giữa niên độ (DN có thể lập phục vụ quản lý của mình)
* Không qui định

* Không qui định



* Nơi nhận BCTC:
- Cơ quan tài chính
- Cơ quan thuế
- Cơ quan thống kê
- Cơ quan đăng ký kinh doanh
- DN cấp trên

* Nơi nhận BCTC:
- Cơ quan thuế
- Cơ quan thống kế
- Cơ quan đăng ký kinh doanh

Về mẫu Báo cáo tài chính năm

Nhiều chỉ tiêu hơn:
- BCĐKT: 97 chỉ tiêu
- BCKQ HĐKD: 19 chỉ tiêu
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: 27 chỉ tiêu
- Bản thuyết minh BCTC: nhiều chỉ tiêu

Ít chỉ tiêu hơn:
- BCĐKT: 64 chỉ tiêu
- BCKQ HĐKD: 16 chỉ tiêu
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: 27 chỉ tiêu
- Bản thuyết minh BCTC: ít chỉ tiêu hơn

Về Chứng từ kế toán

- Những qui định chung về chứng từ kế toán

- Biểu mẫu chứng từ kế toán

- Tính chất pháp lý được qui định
- Số lượng biểu mẫu chứng từ kế toán

Có (giống nhau giữa 2 Chế độ)

5 chỉ tiêu
- Chỉ tiêu lao động tiền lương
- Chỉ tiêu hàng tồn kho
- Chỉ tiêu bán hàng
- Chỉ tiêu tiền tệ
- Chỉ tiêu TSCĐ
Và chứng từ kế toán ban hành theo các văn bản pháp luật khác
Bắt buộc và hướng dẫn

45 chứng từ

Có (giống nhau giữa 2 Chế độ)

5 chỉ tiêu
- Chỉ tiêu lao động tiền lương
- Chỉ tiêu hàng tồn kho
- Chỉ tiêu bán hàng
- Chỉ tiêu tiền tệ
- Chỉ tiêu TSCĐ
Và chứng từ kế toán ban hành theo các văn bản pháp luật khác
Bắt buộc và hướng dẫn

45 chứng từ

Về Chế độ sổ kế toán:
- Những qui định chung về sổ kế toán
- Các hình thức sổ kế toán

Có (giống nhau giữa 2 Chế độ)
DN được áp dụng 1 trong 5 hình thức sổ kế toán sau:
- Hình thức kế toán Nhật ký chung;
- Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ cái;
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ;
- Hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ;
- Hình thức kế toán trên máy vi tính.

Có (giống nhau giữa 2 Chế độ)
DN được áp dụng 1 trong 4 hình thức sổ kế toán (không có nhật ký chứng từ)
- Hình thức kế toán Nhật ký chung;
- Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái;
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ;
- Hình thức kế toán trên máy vi tính.
Mẫu biểu sổ kế toán Giống nhau Giống nhau



Admin(Theo Hội Kiểm Toán Viên VACPA)

Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

KẾ TOÁN CỦA ĐƠN VỊ XÂY LẮP VÀ ĐƠN VỊ CHỦ ĐẦU TƯ

A. KẾ TOÁN ĐƠN VỊ XÂY LẮP
I. Đặc điểm hoạt động xây dựng
  • Sản phẩm xây dựng (XD) thường có giá trị lớn và thời gian sản xuất kéo dài
  • Sản phẩm XD cố định tại 1 địa điểm, các yếu tố phục vụ cho sản xuất (máy móc, thiết bị, con người..) thường đi theo sản phẩm xây dựng tại địa điểm đó.
  • Sản phẩm XD thường phụ thuộc vào các yếu tố thời tiết, thời vụ

II. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của các đơn vị xây dựng
  1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất:
    Các công trình, hạng mục công trình
  2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
    1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
      Bao gồm: Chi phí vật liệu chính; vật liệu phụ (xi măng, sắt, thép, gạch, cát, vôi, sỏi đá…)
      Nợ TK 621
      Có TK152; 111; 112; 331; 141
    2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
      Bao gồm: Tiền lương, tiền công của công nhân trực tiếp sản xuất. Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất không được tính vào TK 622.
      Nợ TK 622
      Có TK 334;141
    3. Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
      • Trường hợp đơn vị xây dựng có đội máy thi công riêng biệt
        Nợ TK 623
        Nợ TK 133 (nếu có)
        Có TK 334, 111; 112; 153; 142; 214
      • Trường hợp đơn vị xây dựng không có đội máy thi công mà phải thuê hoặc mua dịch vụ máy của đơn vị khác
        Nợ TK 6237
        Nợ TK 133 (nếu có)
        Có TK 111; 112; 331
      • Trường hợp đơn vị xây dựng có đội máy thi công nhưng hạch toán độc lập
        i Hạch toán chi phí NVL trực tiếp
        Nợ TK 621
        Có TK 111; 112
        ii.Hạch toán chi phí Nhân công trực tiếp
        Nợ TK 622
        Có TK 334; 331
        iii. Hạch toán chi phí sản xuất chung
        Nợ TK 627
        Nợ TK 133
        Có TK 111; 113; 331
        iv. Cuối kỳ tập hợp chi phí để tính giá thành dịch vụ máy thi công
        Nợ TK 154
        Có TK 621; 622; 627

    4. Hạch toán chi phí sản xuất chung
      Bao gồm: tiền lương, bảo hiểm của nhân viên đội, bao gồm cả BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ khác…
      Nợ TK 627
      Có TK 334; 338; 153; 111; 112…

  3. Tập hợp chi phí để tính giá thành công trình
    Nợ TK 154 (Chi tiết cho từng công trình)
    Có TK621; 622; 623; 627
  4. Bàn giao công trình hoàn thành cho chủ đầu tư
    Nợ TK 632
    Có TK 154
  5. Xác nhận doanh thu
    Nợ TK 131; 111; 112
    Có TK 511
    Có TK 3331

B. KẾ TOÁN Ở ĐƠN VỊ CHỦ ĐẦU TƯ
I. Đặc điểm:
- Vốn đầu tư được hình thành từ nhiều nguồn (NSNN cấp, vay tín dụng, tài trợ..)
- Đơn vị chủ đầu tư có thể thành lập ban dự án để theo dõi tiến độ thi công công trình.
II. Kế toán tại đơn vị chủ đầu tư
  1. Trường hợp đơn vị chủ đầu tư giao thầu toàn bộ công trình cho người nhận thầu
    1. Ứng tiền cho nhà thầu
      Nợ TK 331
      Có TK 111; 112
    2. Nhà thầu rút trực tiếp hạn mức kinh phí từ nguồn vốn XDCB do NSNN cấp
      Nợ TK 331
      Có TK 441
      Đồng thời ghi Có TK 008
    3. Khi công trình hoàn thành tiến hành nghiệm thu, bàn giao
      Nợ TK 2412
      Nợ TK 133 (nếu có)
      Có TK 331
    4. Xác định phí bảo hành của công trình sau đó thanh toán cho nhà nhận thầu
      Nợ TK 331
      Có TK 111; 112
    5. Căn cứ vào mục đích sử dụng công trình
      Nợ TK 211
      Có TK 2412
    6. Chi phí của ban quản lý dự án
      Nợ TK 642
      Có TK 111; 112; 152…
    7. Khi công trình được nghiệm thu, các khoản chi phí của ban quản lý dự án được quyết toán
      Nợ TK 2412
      Có TK 642
    8. Kết chuyển các khoản chi phí để ghi tăng nguyên giá TSCĐ
      Nợ TK 211
      Có TK 2412
      - Căn cứ vào nguồn hình thành TSCĐ và mục đích sử dụng của công trình để kết chuyển nguồn
      Nợ TK 441….
      Có TK 466; 411

  2. Trường hợp ban quản lý dự án tiến hành thi công 1 phần của công trình hoặc toàn bộ công trình, khi đó kế toán tập hợp chi phí vào các tài khoản 621; 622; 627. Cuối kỳ kết chuyển chi phí về tài khoản 154. Khi công trình hoàn thành bàn giao kết chuyển về tài khoản 2412.
Theo Hoiketoan.net

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010

KẾ TOÁN Ở CÁC ĐƠN VỊ XUẤT NHẬP KHẨU

I. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu
  • Là hoạt động thương mại quốc tế giữa các quốc gia với nhau nhằm trao đổi hàng hoá, dịch vụ để đảm bảo lợi ích của các bên.
  • Ở Việt Nam: Hoạt động Nhập khẩu chủ yếu là máy móc thiết bị và hàng hoá dịch vụ; hoạt động xuất khẩu chủ yếu nhằm thu hút ngoại tệ hỗ trợ cho hoạt động nhập khẩu.
  • Hình thức XNK có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ theo đặc điểm cụ thể của từng đơn vị

II. Phương pháp hạch toán kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu ở các doanh nghiệp Xuất Nhập Khẩu
  1. Kế toán tại các đơn vị Nhập khẩu trực tiếp
    (Trực tiếp ký hợp đồng ngoại thương với phía nước ngoài)
    1. Với phương thức thanh toán chậm
      • Căn cứ vào các chứng từ nhận hàng của người bán giao:
        Nợ TK 151 (Tỷ giá thực tế)
        Nợ TK 635 (Lỗ tỷ giá)
        Có TK 331 (Tỷ giá bình quân)
        Có TK 515 (Lãi tỷ giá)
      • Phản ánh số thuế nhập khẩu phải nộp
        Nợ TK 151 (Tỷ giá thực tế)
        Có TK 3333
      • Phản ánh số thuế GTGT phải nộp của hàng Nhập khẩu
        Nợ TK 133
        Có TK 33312
      • Khi nhập hàng về kho
        Nợ TK 1561
        Có TK 151
      • Căn cứ vào các chứng từ vận chuyển, bốc dỡ hàng; phí bảo hiểm, chi phí kiểm định hàng hoá, chi phí thuê kho bãi.
        Nợ TK 1562
        Nợ TK 133
        Có TK 111; 112
      • Thanh toán tiền cho người cung cấp
        Nợ TK 331 (Tỷ giá tại ngày ghi nhận nợ)
        Nợ TK 635 (Nếu lỗ tỷ giá)
        Có TK 1112; 1122 (Tỷ giá bình quân)
        Có TK 515 (Nếu lãi tỷ giá)
    2. Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C)
      - Ký quỹ tại Ngân hàng để mở tín dụng thư
      Nợ TK 144 (Tỷ giá thực tế)
      Có TK 1112; 1122
      - Nhận được chứng từ của Ngân hàng cho vay tiền mở tín dụng thư
      Nợ TK 331
      Có TK 311
      - CSKD nhận được bộ chứng từ của người bán giao qua Ngân hàng
      Nợ TK 151 (Tỷ giá thực tế)
      Có TK 331
  2. Kế toán tại các đơn vị uỷ thác
    1. Kế toán tại đơn vị uỷ thác Nhập khẩu
      • Căn cứ vào hợp đồng uỷ thác ký giữa 2 bên và các chứng từ phản ánh số tiền có thể ứng trước cho đơn vị nhận uỷ thác
        Nợ TK 3388; TK 331
        Có TK 111; 112
      • Kế toán phản ánh số hàng nhận từ đơn vị Nhập khẩu bàn giao
        Nợ TK 151
        Có TK 3388; 331
      • Thuế Nhập khẩu và thuế GTGT của hàng Nhập khẩu có thể do đơn vị tự nộp hoặc thông qua đơn vị nhận uỷ thác nộp
        Nợ TK 151 - Thuế Nhập khẩu
        Nợ TK 133 - VAT
        Có TK 111 - Nộp trực tiếp
      • Có TK 331 – Đơn vị nhận Uỷ thác nộp.
        Hàng về nhập kho
        Nợ TK 1561
        Có TK 151
      • Kế toán phản ánh các khoản chi phí phát sinh liên quan (Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi hoa hồng..)
        Nợ TK 1562
        Nợ TK 133
        Có TK 111; 112; 3388
    2. Kế toán tại các đơn vị nhận Nhập khẩu uỷ thác
      * Kế toán căn cứ vào hợp đồng và chứng từ phản ánh số tiền nhận ký quỹ của đơn vị uỷ thác
      Nợ TK 111;112
      Có TK 1388 (Tỷ giá thực tế)
      • Đơn vị nhận hàng từ phía nhà cung cấp, giao hàng trực tiếp cho phía uỷ thác
        Nợ TK 1388; 131 (người uỷ thác)
        Có TK 331 (người cung cấp)
      • Số thuế GTGT, thuế NK đơn vị nộp hộ phía uỷ thác
        Nợ TK 1388; 131
        Có TK 111; 112 (Tỷ giá thông báo nộp thuế)
      • Khi kết thúc hợp đồng, phản ánh số tiền thanh toán cho người cung cấp hàng
        Nợ TK 331 (Tỷ giá thực tế)
        Có TK 111; 112
      • Phản ánh số hoa hồng được hưởng từ việc nhận uỷ thác nhập khẩu lô hàng
        Nợ TK 111; 112
        Có TK 511 (Tỷ giá thực tế)
  3. Kế toán Xuất khẩu hàng hoá
    1. Kế toán tại đơn vị Xuất khẩu trực tiếp
      * Căn cứ vào các chứng từ phản ánh số hàng xuất từ kho đưa đi xuất khẩu
      Nợ TK 157
      Có TK 1561
      • Khi hàng xuất kho đã làm đầy đủ thủ tục và được người mua chấp nhận
        Nợ TK 632
        Có TK 157
      • Phản ánh doanh thu thu được từ phía người mua
        Nợ TK 131; 1112; 1122
        Có TK 511
      • Phản ánh số thuế Xuất khẩu phải nộp
        Nợ TK 511
        Có TK 3333 (Thuế XK)
      • Phản ánh các khoản chi phí phục vụ cho xuất khẩu (chi phí vận chuyển, kiểm định hàng, thuê kho…)
        Nợ TK 641
        Nợ TK 133
        Có TK 111; 112; 141…
    2. Kế toán tại các đơn vị ủy thác Xuất khẩu
      • Phản ánh số hàng giao cho đơn vị nhận uỷ thác Xuất khẩu
        Nợ TK 157
        Có TK 156
      • Ưng trước tiền cho đơn vị nhận uỷ thác (để nộp thuế Xuất khẩu, nộp các khoản phí...)
        Nợ TK 1388; 131
        Có TK 111; 112
      • Khi nhận được thông báo của đơn vị nhận uỷ thác XK về số hàng đã được người mua chấp nhận
        Nợ TK 632
        Có TK 157
      • Đồng thời phản ánh số tiền thu về từ mặt hàng xuất khẩu có thể người mua đã thanh toán trực tiếp vào tài khoản của đơn vị nhận uỷ thác XK
        Nợ TK 1112; 1122; 131
        Có TK 511
      • Đồng thời phản ánh số hoa hồng phải thanh toán cho bên nhận uỷ thác XK
        Nợ TK 641
        Có TK 1388; 131.
      • Phản ánh số thuế XK phải nộp
        Nợ TK 511
        Có TK 3333
      • Khi nộp thuế XK cho NSNN
        Nợ TK 3333
        Có TK 111; 112
      • Phản ánh các khoản chi phí vận chuyển, bốc xếp phục vụ cho hàng XK
        Nợ TK 641
        Nợ TK 133
        Có TK 111; 112…
    3. Kế toán tại đơn vị nhận uỷ thác Xuất khẩu
      • Căn cứ vào chứng từ phản ánh số hàng nhận của đơn vị uỷ thác XK giao cho
        Nợ TK 003
        * Phản ánh số tiền nhận từ đơn vị uỷ thác ứng trước để nộp hộ thuế XK
        Nợ TK 111; 112
        Có TK 338.8; 331
      • Khi số hàng XK được người mua chấp nhận (đã làm xong thủ tục Hải Quan)
        Có TK 003
        Đồng thời phản ánh số tiền thu của người mua chuyển trực tiếp cho bên uỷ thác XK hoặc chuyển vào TK của đơn vị nhận uỷ thác và chuyển lại sau.
        Nợ TK 1112; 1122
        Có TK 3388; 331
      • Phản ánh số tiền thuế XK đã nộp hộ
        Nợ TK 3388
        Có TK 111; 112
      • Phản ánh hoa hồng được hưởng từ việc XK hộ
        Nợ TK 3388; 331
        Có TK 511

Kế toán tại doanh nghiệp xuất khẩu

Kế toán xuất khẩu:

1-Thủ tục tiến hành xuất khẩu:

a.Người xuất khẩu và ngươi nhập khẩu ký kết hợp đồng xuất khẩu (Sales contract)

b.Người xuất khẩu giục người nhập khẩu đến ngân hàng phục vụ người nhập khẩu mở L/C. Ngân hàng tiến hành kiểm tra L/C, xem thử chứng từ có hợp lệ không, nếu không hợp lệ thì trả lại , còn nếu hợp lệ thì tiến hành các bước kế tiếp.

c.Người bán đến cơ quan xin giấy chứng nhận xuất khẩu.Đây là căn cứ để lập :

-Phiếu đóng gói hàng hóa -Packing list
-Hóa đơn thương mại-Invoice commercial
-Bảng kê chi tiết.

d.Người nám đến lãnh sự quán người mua xin giấy chứng nhận nguồn gốc, hóa đơn hãi quan,hóa đơn lãnh sự quán

e.Chuẩn bị thuê tàu, thuyền để giao hàng.

f.Đến công ty Bảo Hiểm xin giất chứng nhận bảo hiểm -Insurance policy.

g.Chuẩn bị hàng để giao :

-Xin giấy chứng nhận số lượng
-Xin giấy chứng nhận trọng lượng
-Xin giấy chứng nhận quy cách sản phẩm.
-Xin giấy xác nhận kiểm dịch
-Xin giấy chứng nhận vệ sinh.

h.Đến cơ quan hải quan khai báo số hàng .

i.Tiến hành giao hàng -Lập vận đơn.

j.Sau khi giao hàng đem chứng từ đến ngân hàng phục vụ mình để nhận tiền,

-Invoice : 02 bản chính +01 bản copy.
-Bill of ladding:03bản chính.
-Packing list :01 bản chính +01 bản cpopy.
-List of product : 01 bản chính +01 bản copy.
-Bencut :01 bản chính DHL receipt +report.
-Phiếu kiểm tra chất lượng
-Phiếu kiểm tra số lượng.
Tùy theo ngân hàng , họ yêu cầu thêm gì thì cung cấp.

2-Hạch toán kế toán xuất khẩu:

a.Mua hàng để xuất khẩu.

Nợ TK 1561
Nợ TK 133
Có TK 111,112,331

Chi phí vận chuyển, bốc dỡ.
Nợ TK 1562
Nợ TK 133
Có TK 111,112

b.Xuấy hàng hóa giao bán

Nợ TK 157
Có TK 156

Khi người mua nhận hàng

Nợ TK 632
Có TK 157
Nợ TK 131
CÓ TK 511
Có TK 333

c.Khi có thông báo từ ngân hàng

Nợ TK 112,
Có TK 111

d.Thuế GTGT được hoàn.

Nợ TK 133
Có TK 111

Thuế GTGT không được hoàn

Nợ TK 811
CÓ TK 133
Thuế GTGT không hoàn được loại ra khỏi quyết toán khi tính thu nhập chịu thuế.

e.Chi phí vận chuyển

Nợ TK 641
Nợ TK 133
Có TK 111

Tôi hy vọng sẽ giúp ích cho mọi người bởi bài viết này

Kế toán xuất khẩu ủy thác

1-Chứng từ, thủ tục

a.Bên xuất khẩu ủy thác

-Làm hàng mẫu đưa cho bên nhận ủy thác xem, hai bên thảo luận về việc giao nhận ủy thác
-Bên xuất khẩu chuyển tiền cho người nhận ủy thác xuất khẩu một khoản tiền để thanh toán tiền như :Chi phí vận chuyển, thuế...
-Trả tiền cho bên nhận ủy thác một số tiền hư hoa hồng về việc xuất khẩu.

b-Bên nhận ủy thác

-Xem hàng mẫu của bên ủy thác xuất khẩu.
-Trả tiền thuế, lệ phí, chi phí vận chuyển lấy từ bên ủy thác xuất khẩu.
-ĐƯợc hưởng một số tiền hoa hồng theo quy định.

2-Hạch toán :

a.Bên xuất khẩu ủy thác.

-Chuyển tiền cho bên nhận ủy thác để thanh toán các khoản phí, chi phí vận chuyển, thuế.

Nợ TK 3381
CÓ TK 112

-Giao hàng cho bên ủy thác

Nợ TK 157
Có TK 156

-Khi được tin bên nhận ủy thác bán được hàng

Nợ TK 632
Có TK 157
Nợ TK 131
CÓ TK 511
CÓ TK 413 nếu có chênh lệch tỷ giá.

-Khi nhận được tiền từ bên nhận ủy thác

Nợ TK 112
Nợ TK 641
Có TK 133
Có TK 331

b.Kế toán bên nhận ủy thác xuất.

-Nhận được tiền bên ủy thác xuất.

Nợ TK 111
Có TK 3381

-Trả phí cho bên bán

Nợ TK 3381
Có TK 112
-
Nhận tiền từ người nhập khẩu

Nợ TK 112
Nợ TK 138
Có TK 131

-Hoa hồng được hưởng.

Nợ TK 338
Có TK 511
Có TK 333
Tùy theoNợ TK


(Nguồn: danketoan)

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2010

Nghiên cứu bản chất kế tóan qua các khái niệm về kế tóan (Phần 2)

Xem Phần 1

=> THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ

Vai trò của kế toán bắt đầu hình thành khi con người chú ý đến hoạt động thương mại. Trong các hình thái xã hội, mọi người thực hành các qui định kinh tế mà khởi đầu bằng trao đổi tài sản theo giá thỏa thuận. Để thỏa thuận giá, cần có một đơn vị đo lường hoặc một vật trao đổi trung gian có tính phổ biến đối với mọi thành viên trong xã hội. Cùng với quá trình phát triển của xã hội, vật trao đổi trung gian cuối cùng được chấp nhận là đơn vị đo lường bằng tiền tệ. Tiền được dùng để định giá trị của tài sản và là phương tiện thanh toán thuận tiện nhất. Vì được ứng dụng rộng rãi nên việc sử dụng đơn vị tiền tệ để làm cơ sở chung là yếu tố cơ bản trong quá trình phân tích kinh tế, chính trị và xã hội. Do đó, tất cả các ngành khoa học xã hội đều đòi hỏi thông tin định lượng. Đây là lĩnh vực mà kế toán nghiên cứu. Kế toán đáp ứng nhu cầu đồi với thông tin định lượng và nhất là thông tin về tài chính.

Sau khi phân tích và tiếp cận các quan điểm khác nhau về khái niệm kế toán, chúng ta xác định được vai trò và bản chất của kế toán:

• VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN
Vai trò của kế toán là tạo ra thông tin về sự kiện kinh tế phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp trong môi trường của nó. Kết quả của kế toán được trình bày tốt nhất bởi mô hình thông tin, và được trình bày trên các báo cáo tài chính, với những ghi chú giải trình của quá trình lập báo cáo tài chính và những thông tin khác của doanh nghiệp đã được kiểm toán, theo nghĩa kiểm toán viên đã phán xét độc lập để chứng nhận sự việc những báo cáo này trình bày trung thực với tình hình và kết quả của doanh nghiệp và phù hợp với nguyên tắc kế toán thừa nhận chung.

Các thông tin của kế toán được tao ra nhằm giúp cho những người có nhu cầu sử dụng thông tin khác nhau.

a> Các nhà quản trị doanh nghiệp
Bao gồm các cấp độ quản trị khác nhau trong doanh nghiệp là những người trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh. Họ sử dụng thông tin về kế toán để xác định mục tiêu kinh doanh, đề ra các quyết định để thực hiện, đánh giá thực hiện mục tiêu và điều chỉnh, nếu thấy cần thiết, để hoạt động kinh doanh của họ đạt hiệu quả cao hơn.

Vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị là nhằm liên kết các quá trình quản lý với nhau và liên kết doanh nghiệp với môi trường bên ngoài.

b> Chủ sỡ hữu
Là những người có quyền sở hữu với vốn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (như cổ đông, người góp vốn liên doanh, Nhà nước trong các doanh nhgiệp quốc doanh và công ty cổ phần…), họ quan tâm đến lợi tức sinh ra từ vốn kinh doanh, vì đây là căn cứ để họ đưa ra các quyết định cần thiết, bao gồm cả quyết định phân chia lợi túc cho họ. Đồng thời, qua việc xem xét thông tin trên báo cáo kế toán họ có thể đánh giá năng lực trách nhiệm của các bộ phận quản lý ở doanh nghiệp là tốt hay xấu.

c> Các nhà cho vay và cung cấp hàng hóa dịch vụ
Các ngân hàng, các tổ chức tài chính cũng như các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, trước khi cho vay hoặc cung cấp đều có nhu cầu thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào. Nghĩa là, doanh nghiệp đã có đủ khả năng chi trả hay không? Để có được thông tin này họ phải sử dụng thông tin của kê toán

d> Các nhà đầu tư
Các nhà đầu tư là người cung cấp vốn cho tổ chức hoạt động kinh doanh với hy vọng thu được lợi tức trên vốn đầu tư. Ho luôn luôn muốn đầu tư vào nơi nào có tỷ lệ hoàn vốn cao nhất và thời gian ngắn nhất. Do vậy, trước khi đầu tư, họ cần thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp để qua đó nghiên cứu, phân tích, đánh giá rồi đi đến quyết định

e> Các cơ quan thuế
Các cơ quan thuế địa phương va trung ương dựa vào tài liệu của kế toán để tính thuế, đặc biệt là thuế thu nhập. Các cơ quan thuế thường lấy số liệu lợi tức được thể hiện trên báo cáo kế toán trừ đi các khoản miễn giảm thuế theo luật định để xác định lợi tức chịu thuế.

f> Các cơ quan Nhà nước
Các cơ quan Nhà nước cần số liệu kế toán của doanh nghiệp, để tổng hợp cho ngành, địa phương và trên cơ sở đó phân tích đánh giá nhằm định ra các chính sách kinh tế thích hợp để thúc đẩy sản xuất kinh doanh và điều hành kinh tế vĩ mô.

•BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN

a> Kế toán là một ngôn ngữ
Kế toán được nhận thức là một ngôn ngữ kinh doanh. Đó là một phương tiện truyền đạt thông tin về một doanh nghiệp.

Nhận thức kế toán là một ngôn ngữ kinh doanh, vì kế toán có rất nhiều thứ phù hợp với ngôn ngữ. Các hoạt động kinh doanh khác nhau của một doanh nghiệp được báo cáo trên các baó cáo kế toán bằng ngôn ngữ kế toán, cũng giống như tin tức được đọc báo cáo trên các tờ báo chí và các phương tiện truyền tin khác

Tính có thể so sánh được của báo cáo cần thiết, cho việc thực thi hữu hiệu loại ngôn ngữ đó dù nó bằng thứ tiếng việt hay kế toán. Đồng thời, ngôn ngữ phải linh hoạt để thích ứng với môi trường đang biến động.

Nhận thức kế toán là một ngôn ngữ đã được hội nghế nghiệp về kế toán của nhiều nước thừa nhận. Bởi vì giữa ngôn ngữ và kế toán có nhiều điểm tương đồng tiềm ẩn. Ngôn ngữ của kế toán được chuyển thể từ ngôn ngữ chung, thành những ký hiệu của kế toán, sắp xếp theo một hệ thống có căn cứ và mô phỏng theo một nguyên tắc nhất định. Sự sắp xếp này của các ký hiệu được gọi là ngôn ngữ, và các nguyên tắc tác động đến kiểu mẫu và công dụng các ký hiệu đó hình thành văn phạm của ngôn ngữ đó.

Cấu trúc văn phạm của ngôn ngữ kế toán gồm 2 yếu tố:

- Các ký hiệu hay đặc điểm từ vựng của một ngôn ngữ là các đơn vị “có ý nghĩa” hay các từ có thể nhận diện ở mọi ngôn ngữ, được dùng nhận diện các khái niệm cá biệt và trình bày bằng ký hiệu mà kế toán sử dụng.

- Các nguyên tắc văn phạm của một ngôn ngữ, ở đây ám chỉ, những cách sắp xếp về cú pháp của mọi ngôn ngữ. Trong kế toán, các nguyên tắc văn phạm, nhằm chỉ các, thủ tục, phải tuân thủ khi xây dựng xây tất cả các số liệu về tài chính của doanh nghiệp.

- Với sự hiện diện của các yếu tố cấu thành này các ký hiệu và các nguyên tắc kế toán, kế toán có thể được định nghĩa là một ngôn ngữ.

b> Kế toán là một hệ thống thông tin
Kế toán luôn luôn được xem là một hệ thống thông tin. Nó được cho là quá trình kết nối một nguồn thông tin, một kênh thông tin (thường do kế toán viên thực hiện) với tập hợp những nguồn nhận thông tin (những người sử dụng). Theo quan điểm kế toán là một hệ thống thông tin, kế toán có thể hiểu là: “Quá trình mã hóa các quan sát theo ngôn ngữ của kế toán, thành các ký hiệu qua các báo cáo của hệ thống đó và giải mã chúng để truyền đạt các kết quả đó”

Quan điểm này nhấn mạnh đến việc nhận thức và truyền đạt thông tin kế toán. Trước hết, giả thuyết kế toán là một hệ thống đo lường chính thức duy nhất trong một tổ chức. Sau đó, nó nâng cáo khả năng thiết thiết kế một hệ thống kế toán tùy ý, đủ khả năng để cung cấp các thông tin hữu ích cho nguồn cần sử dụng thông tin.

c> Kế toán là một hồ sơ lịch sử
Nhìn chung, kế toán được xem là phương tiện cung cấp thông tin lịch sử của một tổ chức và các giao dịch của nó với các môi trường xung quanh nó. Đối với người chủ sở hữu hay đối với các cổ đông của một doanh nghiệp, các hồ sơ kế toán cung cấp lịch sử về trách nhiệm quản lý các nguồn lực của chũ sỡ hữu. Kế toán là hệ thống thông tin hoạt động qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn thu thập và ghi nhận
- Giai đoạn đánh giá kết quả và hiệu quả
- Giai đoạn cung cấp thông tin cho hoạch định.

d> Kế toán là một hàng hóa
Kế toán cũng được xem là hàng hóa sinh ra từ một hoạt động kinh tế. Bởi vì, kế toán cung cấp những thông tin hữu ích cho các đối tượng cần sử dụng thông tin khác nhau. Người nhận thông tin có thể ra quyết định sáng suốt và hiệu quả hơn, Thay vì nếu không có thông tin, muốn có được các thông tin cần có chi phí bỏ ra, nguời sử dụng thông tin này phải nhận diện được kết quả của thông tin làm thay đổi các quyết định so với chi phí để có được thông tin.

Sự lựa chọn thông tin kế toán và các kỹ thuật kế toán có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các nhóm người khác nhau trong xã hội. Kết quả là có một thị trường thông tin kế toán với cung và cầu xác định có thể không giống nhau. Quan điểm kế toán là một hàng hóa đang và sẽ tiếp tục có ảnh hưởng sâu sắc đến cách nghĩ về kế toán và nghiên cứu kế toán.

e> Kế toán phản ánh thực trạng kinh tế hiện hành
Kế toán cũng được xem xét như là một phương tiện phản ánh thực trạng kinh tế hiện hành theo quan điểm này thì cả bảng CĐKT và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đều phải dựa trên cơ sở đánh giá nào, phản ánh nhiều nhất thực trạng kinh tế thay vì chi phí lịch sử.

Phương pháp được xem là phản ánh nhất thực trạng kinh tế nhấn mạnh vào giá hiện hành và giá tương lai hơn là giá lịch sử. Mục tiêu chính của quan điểm này của kế toán là để xác định thu nhập thực sự, là quan điểm phản ánh sự thay đổi về của cải của doanh nghiệp theo thời gian. Sử dụng phương pháp nào đó để đo lường tốt nhất các giá trị tài sản, công nợ và thu nhập liên quan? Để trả lời câu hỏi này có nhiều phương pháp đánh giá tài sản được đề nghị đưa ra. Xong cũng không ít quan điểm tranh luận khác nhau về vấn đề này.


Sau khi phân tích các khái niệm kế toán, xác định rõ vai trò và bản chất của kế toán, theo quan điểm của tôi, trong điều kiện nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, kế toán có thể được định nghĩa như sau:

“Kế toán là một khoa học liên quan đến việc thu thập, đo lường, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính hữu ích của một tổ chức đến các đối tượng sử dụng để trên cơ sở đó đế ra các quyết định hợp lý.”

Th.S Lê Mạnh Hùng

Trường Đại học kinh tế Tp.HCM


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. “ Quy trình kế toán doanh nghiệp trong điều kiện đổi mới và hội nhập” - PGS.TS. Nguyễn Đình Đỗ, TS. Nguyễn Bá Minh – Nhà Xuất Bản Thống Kê Hà Nội – Năm 2004

2. “ Xác lập nội dung và vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt nam” – Luận án tiến sĩ kinh tế – Trần Anh Hoa – Năm 2003

3. “ Bài Giảng môn lý thuyết kế toán Hệ cao học” – Khoa kế toán kiểm toán – năm 2006

4. “ Bài giảng tổng quan lý thuyết kế toán” – TS. Vũ Hữu Đức – Năm 2006

5. “Nguyên tắc kế toán (Song ngữ Việt – Anh” – Belverd E. Nedddles Jr, Henry R. Anderson, Kames C. Caldwell – Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia – Hà Nội – Năm 1996

6. Website: www.vcci.com.vn

7. Website: www.kiemtoan.com.vn


(Nguồn: webketoan.vn)

Vấn đề sử dụng đồng tiền trong quá trình lập và trình bày BCTC tại các DN có các hoạt động ở nước ngoài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thì vấn đề hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa đang là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế ở Việt Nam. Hiện nay đã có một số các công ty trong nước đang mở rộng hoạt động của mình vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và tham gia hoạt động thương mại quốc tế. Thực tế này đòi hỏi cần có những quy định về nguyên tắc và phương pháp kế toán cụ thể đối với các giao dịch bằng ngoại tệ cũng như việc chuyển đổi các báo cáo tài chính (BCTC) bằng ngoại tệ của những công ty con sang đơn vị tiền tệ lập BCTC hợp nhất của công ty mẹ.

Nhằm giải quyết vấn đề trên, Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (International Accounting Standars Committee- IASC) đã nghiên cứu và công bố các quy định và hướng dẫn liên quan trong Chuẩn mực quốc tế về kế toán (International Accounting Standard- IAS) số 21.

Ở Việt Nam, từ năm 1989 cùng với việc chính thức áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, vấn đề tỷ giá hối đoái thực sự được đặt ra và Bộ Tài chính cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể theo từng giai đoạn. Hiện tại chúng ta đã ban hành Chuẩn mực kế toán số 10 “Ảnh hưởng của các thay đổi tỷ giá hối đoái” để hướng dẫn các DN hạch toán, lập và trình bày báo cáo tài chính.

Nhằm góp phần làm rõ các nội dung có liên quan đến Chuẩn mực kế toán từ đó nâng cao mức độ thực hiện chuẩn mực kế toán và các Thông tư hướng dẫn, nội dung bài viết này hướng trọng tâm vào vấn đề sử dụng đồng tiền khi lập và trình bày Báo cáo tài chính của DN.

Xác định đồng tiền chính thức.

Khi DN lập BCTC, cho dù là một DN độc lập, một DN có các hoạt động ở nước ngoài (công ty mẹ) hay một hoạt động nước ngoài (công ty con hoặc chi nhánh), yêu cầu đặt ra là mỗi cơ sở riêng rẽ kể cả nằm trong DN báo cáo xác định đồng tiền chính thức của họ và phải dùng đồng tiền chính thức để đo lường kết quả và tình hình tài chính bằng đồng tiền đó.

Đồng tiền chính thức là đồng tiền của môi trường kinh tế chủ yếu nơi DN đang hoạt động. Môi trường kinh tế chủ yếu mà cơ sở đang hoạt động là một môi trường tạo ra và sử dụng tiền một cách chủ yếu. DN xác định đồng tiền chính thức cần xem xét những nhân tố sau:

- Là đồng tiền ảnh hưởng chủ yếu đến giá bán của hàng hóa và dịch vụ (thường là đồng tiền trong giá bán hàng hóa và dịch vụ được xác định và thanh toán)

- Là đồng tiền ảnh hưởng chủ yếu đến chi phí nhân công, chi phí vật liệu và chi phí khác để sản xuất hàng hóa và dịch vụ (thường là đồng tiền mà chi phí được xác định và thanh toán)

Ngoài những nhân tố trên còn có thể sử dụng thêm một số điều kiện khác khi xác định đồng tiền chính thức:

- Đồng tiền mà nguồn tài chính thu được từ các hoạt động tài chính páht sinh (nghĩa là phát sinh nợ và công cụ vốn)

- Đồng tiền mà các khoản thu từ hoạt động kinh doanh luôn được giữ lại

Riêng hoạt động ở nước ngoài việc xác định đồng tiền chính thức có tương tự như đồng tiền chính thức của DN báo cáo hay không tùy thuộc vào những nhân tố thêm sau:

- Hoạt động của cơ sở nước ngòai tiến hành như là một phần mở rộng của DN báo cáo (ví dụ hoạt động nước ngoài chỉ bán hàng hóa nhập khẩu từ DN báo cáo và chuyển tiền bán hàng về DN báo cáo)

- Các giao dịch của hoạt động ở nước ngoài với DN báo cáo chiếm tỷ lệ cao

- Lưu chuyển tiền của hoạt động ở nước ngoài ảnh hưởng một cách trực tiếp đến lưu chuyển tiền của DN báo cáo và có thể sẵn sàng chuyển đến DN báo cáo.

Khi những chỉ dẫn trên bị lẫn lộn và đồng tiền chính thức không rõ ràng, thì ban quản lý sử dụng sự xét đoán của mình để xác định đồng tiền chính thức, sao cho nó bộc lộ một cách trung thực nhất tác động kinh tế của các giao dịch, sự kiện và điều kiện cơ bản. Và như vậy, một khi được xác định thì đồng tiền chính thức không thay đổi, trừ khi có sự thay đổi về các giao dịch, sự kiện và điều kiện cơ bản.

Nếu đồng tiền chính thức là đồng tiền của nền kinh tế siêu lạm phát, thì BCTC của DN phải được trình bày lại để phù hợp với sự biến động của đồng tiền trong nền kinh tế siêu lạm phát.

Xác định đồng tiền trình bày BCTC

Theo chúng tôi, nên cho phép một DN trình bày BCTC bằng một loại tiền (hoặc nhiều loại tiền) có thể khác với đồng tiền chính thức. Điều này thích hợp trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa, khi mà đa số các tập đoàn lớn gồm nhiều hoạt động nước ngoài có nhiều loại đồng tiền chính thức khác nhau. Đối với các tập đoàn này, họ không chắc chắn đồng tiền nào là đồng tiền trình bày BCTC, hay tại sao loại tiền này thích hợp hơn loại tiền khác. Họ cũng chỉ ra rằng ban quản lý có thể không sử dụng một loại đồng tiền khi kiểm soát và giám sát tình hình hoạt động và tài chính của tập đoàn. Hơn nữa, họ lưu ý trong một số phạm vi pháp lý, các DN được yêu cầu trình bày BCTC bằng đồng tiền địa phương, thậm chí khác với đồng tiền chính thức. Do đó, nếu Chuẩn mực về BCTC yêu cầu trình bày BCTC bằng đồng tiền chính thức, thì một số DN phải trình bày 2 bộ BCTC: BCTC tuân theo chuẩn mực được trình bày bằng đồng tiền chính thức và BCTC tuân theo quy định của nước sở tại được trình bày bằng một loại đồng tiền khác.

Phương pháp chuyển đổi sang đồng tiền trình bày BCTC

Nếu đồng tiền trình bày BCTC khác với đồng tiền chính thức của DN, thì kết quả và tình hình tài chính của DN được chuyển sang đồng tiền trình bày BCTC theo phương pháp sau:

Khi đồng tiền chính thức không phải là đồng tiền của nền kinh tế siêu lạm phát:

- Tài sản và nợ phải trả (bao gồm số tiền khoản mục so sánh) được chuyển đổi theo tỷ giá cuối kỳ tại ngày lập Bảng cân đối kế toán đó;

- Thu nhập và chi phí (bao gồm số tiền khoản mục so sánh) được chuyển đổi theo tỷ giá hối đoái tại ngày phát sinh giao dịch;

- Mọi kết quả của chênh lệch tỷ giá hối đoái được ghi nhận như là thành phần độc lập của vốn chủ sở hữu.

Cần lưu ý thêm khi một cơ sở ở nước ngoài được hợp nhất nhưng không phải là sở hữu toàn bộ thì khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái lũy kế phát sinh từ việc chuyển đổi và gắn liền với phần đầu tư vào cơ sở ở nước ngoài của cổ đông thiểu số phải được phân bổ và được báo cáo như là một phần sở hữu của cổ đông thiểu số tại cơ sở ở nước ngoài trong Bảng cân đối kế toán hợp nhất.

Khi đồng tiền chính thức là đồng tiền của nền kinh tế siêu lạm phát:

Mọi khoản (khoản mục tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, kể cả các khoản so sánh) sẽ được chuyển đổi theo tỷ giá cuối kỳ của Bảng cân đối kế toán mới nhất, ngoại trừ các khoản mục so sánh (được trình bày liên quan đến BCTC năm trước) đã được chuyển đổi sang đồng tiền của nền kinh tế không phải siêu lạm phát.

Tóm tắt phương pháp chuyển đổi qua Bảng điều chỉnh tỷ giá của đồng tiền ghi sổ sang đồng tiền được dùng để lập BCTC như sau:

Phương pháp chuyển đổi sang đồng tiền trình bày BCTC (đồng tiền chính thức khác đồng tiền trình bày BCTC): xem bảng.

TCK nn: chuyển đổi theo tỷ giá thực tế cuối kỳ tại ngày lập BCĐKT năm nay.
TCK nt: chuyển đổi theo tỷ giá thực tế cuối kỳ tại ngày lập BCĐKT năm trước.
TP/S nn: chuyển đổi theo tỷ giá thực tế ngày phát sinh hay tỷ giá trung bình của năm nay.
TP/S nt: chuyển đổi theo tỷ giá thực tế ngày phát sinh hay tỷ giá trung bình của năm trước.

Chỉ tiêu

Đồng tiền chính thức là đồng tiền của nền kinh tế (năm nay)

Không có siêu lạm phát

Siêu lạm phát

Số liệu khoản mục

Số liệu khoản mục

Năm nay

Năm trước
(so sánh)

Năm nay

Năm trước (so sánh)

Có siêu lạm phát

Không siêu lạm phát

BCĐKT
(Tài sản và Nợ phải trả)

TCK nn

Không đổi (theo TCK nt)

TCK nn

TCK nn

Không đổi (theo TCK nt)

BC Lãi, lỗ
(Thu nhập và chi phí)

TP/S nn

Không đổi (theo TP/S nt)

Không đổi (theo TP/S nt)

Xử lý CLTGHĐ

Ghi nhận như là thành phần độc lập của vốn chủ sở hữu

THS. Nguyễn Thị Kim Cúc- ĐH Kinh tế TPHCM (Tạp chí Kiểm toán)

Nghiên cứu bản chất kế tóan qua các khái niệm về kế tóan (Phần 1)

Có nhiều cách tiếp cận về kế toán, vì vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán. Tuy nhiên, những định nghĩa này đều thống nhất với nhau ở chỗ: kế toán là một hệ thống của những khái niệm và phương pháp, hướng dẫn chúng ta thu thập, đo lường, xử lý và truyền đạt những thông tin cần thiết cho việc ra những quyết định tài chính hợp lý. Sau đây là một số định nghĩa đã được đưa ra:

+ CÁC ĐỊNH NGHĨA KẾ TOÁN CỦA VIỆT NAM

ĐỊNH NGHĨA 1: Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bản chất của kế toán được nhận định “Kế toán xã hội chủ nghĩa là công việc tính toán, ghi chép, phản ánh bằng con số một cách liên tục, toàn diện và hệ thống các loại vật tư, tiền vốn và mọi hoạt động kinh tế, qua đó mà giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước; tình hình bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa.”

ĐỊNH NGHĨA 2: Điều lệ tổ chức kế toán nhà nước đã ghi rõ: “Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước cũng như của từng tổ chức xí nghiệp.”

ĐỊNH NGHĨA 3: Theo TS. Trần Anh Hoa, trong luận án tiến sĩ của mình đã đưa ra định nghĩa như sau: “Kế toán là một khoa học liên quan đến việc thu thập, đo lường, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính hữu ích của một tổ chức đến các đối tượng sử dụng để trên cơ sở đó đề ra các quyết định hợp lý.”

ĐỊNH NGHĨA 4: Theo website www.vcci.com.vn thì “Kế toán là nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản (hay là toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh tế tài chính) trong doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định về kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp.”

ĐỊNH NGHĨA 5: Theo Website www.kiemtoan.com.vn thì “Kế toán được định nghĩa là một hệ thống thông tin đo lường, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.”

ĐỊNH NGHĨA 6: Theo Luật kế toán Việt Nam 2003 “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.”

+ CÁC ĐỊNH NGHĨA KẾ TOÁN CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

ĐỊNH NGHĨA 7: Khái niệm hướng đến phương pháp, đây là loại khái niệm mà Luca Pacioli (1447-1517) – nhà toán học vĩ đại người Ý có nhiều đóng góp cho ngành kế toán thế giới, đã đưa ra cuốn “Chú giải về tài khoản và các bút toán” mà theo đó, “có 3 điều kiện cần thiết cho bất cứ ai muốn kinh doanh: thứ nhất, là phải có tiền; thứ hai, người chủ doanh nghiệp phải có khả năng tính toán nhanh và đồng thời biết lập sổ sách kế toán; và điều kiện sau cùng là phải có khả năng tổ chức công việc một cách khoa học, linh động nhằm đảm bảo tiến độ hoạt động kinh doanh.”

ĐỊNH NGHĨA 8: Khái niệm hướng đến nội dung, cốt lõi vấn đề, đại diện tiêu biểu của trường phái này là nhà kinh tế học nổi tiếng của Pháp J.Furaste, ông cho rằng “hệ thống kế toán là một lĩnh vực khoa học hiện đại với mục đích tính toán giá trị tài sản của doanh nghiệp, đồng thới xác định giá trị của vốn đầu tư”. Khái niệm này chỉ ra hình thức tồn tại của quy trình kế toán mà chưa nêu ra được lý do của việc tính toán giá trị tài sản cũng như việc xác định vốn đầu tư của doanh nghiệp.

ĐỊNH NGHĨA 9: Khái niệm nghiêng về mục đích, kết quả, cuối thế kỷ 19, nhiều kế toán viên nhận ra một thực tế rằng, người ta cần hệ thống sổ sách giấy tờ kế toán không phải chỉ để đánh giá giá trị tài sản doanh nghiệp hay giá trị vốn đầu tư mà nhằm mục đích quản lý. Chính vì vậy mà E. Pizani – một kế toán viên người Ý đã đưa ra một định nghĩa về kế toán như sau: “Kế toán là khoa học sử dụng các phép tính toán, dựa trên các quy định của pháp luật và kinh tế nhằm mục đích quản lý đồng thời để đạt được những hiệu quả kinh tế khả quan nhất”

ĐỊNH NGHĨA 10: Theo Sokolov, một chuyên gia hàng đầu về kế toán tại Nga thì “kế toán là ngôn ngữ của các ký hiệu cũng như quy ước sử dụng và được tạo ra với mục đích làm thay thế các đối tượng thực tế bằng các ký hiệu hay biểu tượng, cho phép phản ánh một cách trung thực hoạt động kinh doanh cùng các kết quả của hoạt động kinh doanh đó”

Sokolov cũng đưa ra hai khái niệm về kế toán. Xét về khía cạnh lý thuyết, “kế toán chính là khoa học về bản chất cũng như cấu trúc các sự kiện diễn ra trong cuộc sống, trong hoạt động kinh doanh của con người. Nhiệm vụ của kế toán là phản ánh nội dung của các quá trình hoạt động kinh doanh cũng như mối liên hệ giữa các phạm trù luật pháp và phạm trù kinh tế trong quá trình hoạt động kinh doanh đó.”

Còn nếu xét từ khía cạnh thực tế, “kế toán là một quá trình theo dõi, phân loại, tổng hợp, phân tích và chuyển tải thông tin về các sự kiện xảy ra trong hoạt động kinh doanh của con người. Nhiệm vụ của kế toán xét từ khía cạnh này là việc đưa ra các nguồn thông tin phục vụ cho mục đích quản lý.”

ĐỊNH NGHĨA 11: Một định nghĩa về kế toán được chấp nhận trong suốt thời gian qua là định nghĩa được trình bày trong “Báo cáo về lý thuyết kế toán căn bản” ban hành bởi Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ: “Kế toán là một tiến trình ghi nhận, đo lường, và cung cấp các thông tin kinh tế nhằm hỗ trợ cho các đánh giá và các quyết định của người sử dụng thông tin”

ĐỊNH NGHĨA 12: Uy ban nguyên tắc kế toán của Mỹ (APB), trong thông báo số 4, đã định nghĩa. “Kế toán là một dịch vụ. Chức năng của nó là cung cấp thông tin định lượng được của các tổ chức kinh tế, chủ yếu là thông tin tài chính giúp người sử dụng đề ra các quyết định kinh tế.”

ĐỊNH NGHĨA 13: Uy ban thuật ngữ của học viện kế toán viên công chứng của Mỹ (AICPA) đã định nghĩa: “Kế toán là một nghệ thuật dùng để ghi chép, phân loại và tổng hợp theo một phương pháp riêng có dưới hình thức tiền tệ về các nghiệp vụ, các sự kiện kinh tế và trình bày kết quả của nó cho người sử dụng ra quyết định.”

ĐỊNH NGHĨA 14: Giáo sư, Tiến sĩ Robert Anthony – một nhà nghiên cứu lý luận kinh tế nội tiếng của trường Đại học Harvard của Mỹ cho rằng “Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh”

ĐỊNH NGHĨA 15: Giáo sư, tiến sĩ Grene Allen Gohlke của Viện Đại Học Wisconsin lại định nghĩa: “Kế toán là một khoa học liên quan đến việc ghi nhận, phân loại, tóm tắt và giải thích các nghiệp vụ tài chính của một tổ chức, giúp cho Ban giám đốc có thể căn cứ vào đó để ra các quyết định kinh tế”

ĐỊNH NGHĨA 16: Trong cuốn sách “Nguyên lý kế toán Mỹ”, Ronnald J. Thacker nêu quan điểm của mình về kế toán xuất phát từ việc cung cấp thông tin cho công tác quản lý. Theo Ronnald J. Thacker “Kế toán là một phương pháp cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá hoạt động của mọi tổ chức”

ĐỊNH NGHĨA 17: Theo Uy ban thực hành kiểm toán quốc tế (International Auditing Practices Committee) thì “Một hệ thống kế toán là hàng loạt các nhiệm vụ ở một doanh nghiệp mà nhờ hệ thống này các nghiệp vụ được xử lý như một phương tiện duy trì các ghi chép tài chính”

ĐỊNH NGHĨA 18: Khi định nghĩa về kế toán, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cho rằng: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại tổng hợp theo một cách riêng có bằng những khoản tiền các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”

Tiến hành phân tích các định nghĩa kế toán, chúng ta thấy nổi lên các quan điểm sau:

=> KẾ TOÁN LÀ NGHỆ THUẬT HAY KHOA HỌC

Có khái niệm cho rằng “Kế toán là nghệ thuật”, có khái niệm cho rằng “Kế toán là khoa học”, có khái niệm cho rằng kế toán là một hoạt động “dịch vụ” và ngụ ý kế toán bao hàm những kỹ thuật nhằm để sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định, dịch vụ ở đây cũng hàm ý là “Kế toán là nghệ thuật”

Đã có nhiều cuộc tranh luận với những quan điểm khác nhau: “Kế toán là một nghệ thuật hay một khoa học?”

Những người cho rằng kế toán là một nghệ thuật, đề nghị các kỹ năng của kế toán cần thiết cung cấp để trở thành nhà kinh doanh giỏi, phải được giảng dạy và cách tiếp cận hợp pháp với kế toán phải được đảm bảo.

Những người ủng hộ kế toán là một khoa học đề nghị thay vì giảng dạy các mô hình đo lường của kế toán cho các sinh viên, chuyên ngành kế toán, thì cung cấp cho họ những cái nhìn thấu đáo hơn về quan điểm đối với kế toán qui ước, thừa nhận con số phát sinh đang cố gắng như thế nào để thoả mãn mục tiêu phục vụ các như cầu của người sử dụng; và gợi ý những suy nghĩ về lĩnh vực đó và những động lực thay đổi của kế toán.

Cho dù có những quan điểm khác nhau, nhưng phần đông các quan điểm cho rằng kế toán là một khoa học lý luận phù hợp hoàn hảo với quan điểm hiện nay được Mantz phát biểu: “Kế toán có quan hệ với các doanh nghiệp mà chắc chắn là những nhóm người trong xã hội, nó quan tâm đến các giao dịch và những sự kiện kinh tế khác mà có hậu quả về mặt xã hội và ảnh hưởng đến các mối quan hệ xã hội và có ý nghĩa cho người làm việc trong các hoạt động có liên quan với xã hội, tóm lại kế toán là một khoa học xã hội.”


=> PHẠM VI CÔNG VIỆC KẾ TOÁN

Các định nghĩa trước đây về kế toán thường chú trọng đến các nhiệm vụ giữ sổ sách cố hữu của kế toán đó là ghi chép, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Tuy nhiên ngày nay, định nghĩa hiện đại về kế toán rộng hơn nhiều, kế toán là một hệ thống thông tin cung cấp thông tin định lượng. Vì vậy, người kế toán ngày nay không chỉ quan tâm đến việc giữ sổ sách mà đến toàn bộ các hoạt động bao gồm việc hoạch định chương trình và giải quyết vấn đề; hướng sự quan tâm của lãnh đạo đến những điều cần lưu tâm, đánh giá và duyệt xét các hoạt động của doan nghiệp và kiểm tra sổ sách. Người kế toán ngày nay chú trọng đến những nhu cầu bức thiết của những người sử dụng thông tin kế toán, dù những người sử dụng này ở trong hay ngoài đơn vị kinh doanh.

Kế toán được định nghĩa như là một hệ thống thông tin dùng để đo lường, xử lý và truyền đạt những thông tin về tài chính của một đơn vị kinh tế. Thông tin này giúp người sử dụng có thể đưa ra các quyết định hợp lý của mình.

Theo quan điểm này, kế toán được xem như là gạch nối giữa các hoạt động kinh doanh và những người làm quyết định. Thứ nhất, kế toán đo lường các hoạt động kinh doanh bằng cách ghi chép. Thứ hai, các thông tin được ghi chép sẽ được xử lý để trở thành các thông tin hữu ích. Thứ ba, thông tin này được truyền đạt qua các bảng báo cáo đến những người sử dụng để ra các quyết định.

Người ta nói rằng các dữ kiện về hoạt động kinh doanh là đầu vào của hệ thống kế toán và những thông tin hữu ích cho người ra quyết định là đầu ra đã được hệ thống kế toán xử lý và cung cấp.

Người ta thường nhầm lẫn giữa kế toán và ghi chép kế toán. Việc ghi chép kế toán là một quá trình hay nói đúng hơn là một công đoạn của kế toán, là phương tiện để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và giữ sổ sách. Việc ghi chép lặp đi lặp lại có tính cách máy móc là một phần nhỏ, đơn giản nhưng quan trọng của kế toán. Trái lại, kế toán thì lại khác, nó bao gồm việc thiết kế một hệ thống thông tin đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin về kế toán. Mục tiêu chính của kế toán là phân tích, giải trình và sử dụng thông tin.

=> MỤC ĐÍCH CÔNG VIỆC KẾ TOÁN

Bản chất kế toán và lý luận của nó chịu sự chế định lịch sử, mà tính chế định lịch sử của kế toán là do hình thái kinh tế xã hội gây nên. Vì vậy, mục đích của kế toán có sự khác nhau ở các hình thái kinh tế xã hội khác nhau.

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước làm chủ tất cả các nguồn lực sản xuất và cung cấp tất cả nhu cầu vốn, các xí nghiệp quốc doanh hoạt động theo phương thức “cấp phát vật tư và giao nộp sản phẩm” theo kế hoạch cấp trên giao. Mặt khác, các xí nghiệp lại bị giới hạn về quyền quyết định nên nhu cầu thông tin nội bộ hầu như không phải là vấn đề thiết yếu. Do vậy, mục đích của kế toán trong cơ chế kinh tế này là nhằm cung cầp thông tin cho Nhà nước để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch. Chức năng của kế toán là phản ánh và giám đốc tài sản xã hội chủ nghĩa và các hoạt động kinh tế. Vì thế, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bản chất của kế toán được nhận định như trong định nghĩa 1 và đinh nghĩa 2.

Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đều bình đẳng trong quá trình kinh doanh, mối quan hệ kinh tế tài chính của các doanh ghiệp được mở rộng. Mặt khác, với sự phát triển đa dạng của các nguồn tạo vốn từ bên ngoài đã làm cho đối tượng sử dụng thông tin kế toán trở nên đa dạng hơn. Mục đích của kế toán không chỉ cung cấp thông tin chủ yếu cho bản thân doanh nghiệp, cho Nhà nước, mà còn cung cấp thông tin cho các đối tượng như ngân hàng, các nhà đầu tư tương lai, nhà cung cấp, khách hàng,… Vì vậy, định nghĩa kế toán nhấn mạnh đến chức năng cung cấp thông tin – và chức năng này được coi là chức năng cơ bản nhất của kế toán. Các định nghĩa sau này kể cả Việt nam, cũng như các nước trên thế giới đều nhấn mạnh đến chức năng cung cấp thông tin của kế toán.

Như vậy, để định nghĩa về kế toán cần phải dựa vào bản chất của kế toán – mà bản chất này lại tùy thuộc vào hình thái kinh tế xã hội – nơi hoạt động kế toán diễn ra.

(Còn tiếp)

Th.S Lê Mạnh Hùng

Trường Đại học kinh tế Tp.HCM


(Nguồn: Webketoan.vn)

Một số vấn đề cần bàn đối với tài khoản ngoại bảng (loại 0)

Để thực hiện được vai trò trên, tài khoản và hệ thống tài khoản kế toán chính là công cụ thu thập những thông tin cần thiết từ các số liệu trên chứng từ kế toán và xử lý chúng để đáp ứng một cách đầy đủ theo nhu cầu của người sử dụng thông tin.

Theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, ngày 20/3/2006 của Bộ Tài Chính ban hành Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp, bao gồm các tài khoản từ loại 1 đến loại 9 và các tài khoản loại 0 (tài khoản ngoài Bảng cân đối kế toán).

Các tài khoản loại 0 dùng để phản ánh những tài sản hiện có ở doanh nghiệp nhưng không thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp như: Tài sản thuê ngoài; Vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công; Hàng hoá nhận bán hộ, nhận ký gửi. Đồng thời, loại tài khoản này còn phản ánh một số chỉ tiêu kinh tế đã được phản ánh ở các tài khoản trong Bảng cân đối kế toán, nhưng cần theo dõi để phục vụ yêu cầu quản lý như: Nợ khó đòi đã xử lý; Ngoại tệ các loại (chi tiết theo nguyên tệ); Dự toán chi sự nghiệp.

Tuy nhiên, việc ban hành và thực tế sử dụng một số tài khoản loại 0 hiện vẫn còn một số vấn đề cần trao đổi:

Thứ nhất, đối với Tài khoản 007 “Ngoại tệ các loại” được dùng để theo dõi chi tiết số hiện có và tình hình biến động từng loại ngoại tệ theo nguyên tệ.

Tuy nhiên, theo quy định hạch toán chi tiết, ngoại tệ của doanh nghiệp đã được theo dõi chi tiết trên các sổ chi tiết (tài khoản chi tiết) 1112, 1122, 1132 và tuỳ theo yêu cầu quản lý, tuỳ thuộc vào tình hình sử dụng các loại ngoại tệ tại doanh nghiệp mà kế toán có thể theo dõi chi tiết, cụ thể từng loại ngoại tệ trên tài khoản cấp 3 của những tài khoản cấp 2 nói trên.

Ngược lại, nếu không theo dõi chi tiết ngoại tệ trên các tài khoản cấp 3 mà chỉ theo dõi trên tài khoản 007 thì việc tổng hợp tình hình biến động về vốn bằng tiền ngoại tệ (quy đổi ra đồng Việt Nam) sẽ không thấy rõ được tình hình biến động về tỷ giá hối đoái khi hạch toán ngoại tệ theo giá thực tế.

Việc theo dõi, phản ánh trên các sổ chi tiết như đã trình bày ở trên đã cung cấp một cách khoa học và đầy đủ số liệu của từng loại ngoại tệ đáp ứng được yêu cầu của nhà quản lý. Từ những phân tích trên việc tồn tại Tài khoản 007 là không cần thiết, thậm chí việc tồn tại cả tài khoản 007 và các tài khoản cấp 3 của nhóm tài khoản vốn bằng tiền sẽ gây ra sự trùng lắp trong hạch toán.

Thứ hai, việc loại bỏ Tài khoản 009 “Nguồn vốn khấu hao cơ bản” so với Quyết định số 1141/TC/CĐKT ngày 01/11/1995 là không hợp lý vì tài khoản này dùng để phản ánh tình hình hình thành, tăng, giảm và sử dụng (đầu tư đổi mới TSCĐ, trả nợ vay đầu tư TSCĐ) nguồn vốn khấu hao ở doanh nghiệp. Tài khoản này cung cấp cụ thể số liệu liên quan đến khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp thông qua khấu hao TSCĐ và tình hình tái đầu tư, đổi mới TSCĐ của doanh nghiệp. Trong khi đó một số tài khoản có liên quan vẫn chưa cung cấp được các thông tin cần thiết, chẳng hạn:

- Tài khoản 411 “Nguồn vốn kinh doanh” dùng để phản ánh nguồn vốn kinh doanh hiện có và tình hình tăng, giảm nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quy định, các doanh nghiệp phải tổ chức hạch toán chi tiết nguồn vốn kinh doanh theo từng nguồn hình thành vốn, trong đó cần theo dõi chi tiết cho từng tổ chức, từng cá nhân tham gia góp vốn, vốn ban đầu, vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh. Do đó, cả hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết nguồn vốn kinh doanh cũng vẫn chưa cung cấp được số liệu liên quan đến tình hình biến động của nguồn vốn khấu hao, chưa cung cấp được thông tin cần thiết phục vụ cho yêu cầu của chính nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp và cho chủ sở hữu doanh nghiệp.

- Tài khoản 214 “Hao mòn tài sản cố định” dùng để phản ánh tình hình tăng, giảm giá trị hao mòn và giá trị hao mòn luỹ kế của các loại TSCĐ và bất động sản (BĐS) đầu tư trong quá trình sử dụng do tính khấu hao TSCĐ, BĐS đầu tư và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ, BĐS đầu tư. Vì thế, số liệu do tài khoản này cung cấp chỉ phản ánh tổng hợp giá trị hao mòn TSCĐ, BĐS đầu tư do tính trích khấu hao và kể cả giá trị hao mòn TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, dự án hoặc dùng vào mục đích phúc lợi mà không thể cung cấp được các thông tin cần thiết như tài khoản 009 phản ánh.

- Hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết TSCĐ và BĐS đầu tư ở các tài khoản 211, 212, 213, 217 cũng không thể theo dõi được tình hình biến động và sử dụng nguồn vốn khấu hao.

Từ những nhận định trên, nếu không có tài khoản 009 sẽ không có số liệu về tình hình thu hồi vốn khấu hao, tình hình đổi mới, tái đầu tư TSCĐ để các nhà quản trị điều hành một cách hiệu quả hơn trong quá trình đầu tư và quản lý, bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp.

Tóm lại, việc tồn tại các tài khoản ngoài Bảng cân đối kế toán hợp lý sẽ góp phần rất lớn về chất lượng thông tin do kế toán cung cấp.

Theo Tapchiketoan

Cần thống nhất quy định về các khoản dự phòng

Dự phòng là khoản nợ không chắc chắn về giá trị và thời gian: như vậy, một khoản dự phòng là một khoản nợ nhưng mới là nghĩa vụ nợ tiềm tàng vì chưa chắc chắn về mặt giá trị khoản nợ, giá trị giảm sút lợi ích kinh tế và thời gian sẽ phát sinh. Khoản dự phòng sẽ được ghi nhận trên Báo cáo tài chính và thường xuyên được xem xét lại giá trị ước tính vào cuối mỗi niên độ kế toán.

Nợ tiềm tàng là nghĩa vụ nợ có khả năng phát sinh từ các sự kiện đã xảy ra và sự tồn tại của nghĩa vụ này chỉ được xác nhận bởi khả năng thường xảy ra hay không của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai mà DN không kiểm soát được. Là nghĩa vụ nợ hiện tại phát sinh từ các sự kiện đã xảy ra nhưng chưa được ghi nhận vì chưa chắc chắn có sự giảm sút về lợi ích kinh tế do việc phải thanh toán nghĩa vụ nợ, giá trị khoản nợ chưa được xác định một cách đáng tin cậy. Nợ tiềm tàng chưa được ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán cho đến khi có chứng cứ chắc chắn về các sự kiện sẽ xảy ra.

Dưới góc độ kế toán quy định các khoản dự phòng sau: dự phòng giảm giá hàng tồn kho; dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính; dự phòng nợ phải thu khó đòi (theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC); dự phòng cho các khoản chi phí tái cơ cấu DN, dự phòng cho những hợp đồng có rủi ro lớn, dự phòng bảo hành sản phẩm hàng hóa, dự phòng về chi phí bảo hành công trình xây lắp ) theo chuẩn mực kế toán số 18 – Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng)

Dưới góc độ tài chính theo Thông tư số 13/2006/TT-BTC, thì có các khoản dự phòng: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho; dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính; dự phòng nợ phải thu khó đòi và dự phòng bảo hành sản phẩm hàng hóa, công trình xây lắp.

Thực tế hiện nay giữa quy định của kế toán và quy định của tài chính về các khoản dự phòng là chưa thống nhất dẫn đến khó khăn cho những người làm công tác kế toán cũng như những đối tượng liên quan, do đó cần phải được xử lý như sau:

Thứ nhất, thống nhất cách hiểu về bản chất các khoản dự phòng.

Về Tài khoản phản ánh các khoản dự phòng và tương tự dự phòng gồm có:

+ TK 129 – Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn, TK 139 – Dự phòng phải thu khó đòi
TK 159 – Dự phòng giảm giá hàng tồn kho, TK 229 – Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.

+ TK 351 – Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, TK 352 – Dự phòng phải trả, TK 335 – Chi phí phải trả.

+ TK 415 – Quỹ dự phòng tài chính.

Như vậy, ta thấy rằng dự phòng theo quy định hiện nay là việc ghi nhận trước vào chi phí những khoản tổn thất dự kiến có thể xảy ra trong tương lai “là khoản nợ phải trả nhưng chưa chắc chắn được về giá trị và thời gian”

Trong thực tế các TK này được mở để phản ánh các nội dung đã nêu. Nhưng câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao các khảon dự phòng này có cùng mục đích nhưng cách mã hóa tài khoản lại khác nhau? Cho nên cần thiết phải đưa ra một nguyên tắc mã hóa để dễ nhận biết các khoản dự phòng này hơn. Nguyên tắc đưa ra có thể là các tài khoản phản ánh dự phòng đều có đuôi cuối cùng là 9, và lúc đó sẽ có: TK 129, TK 229, TK 159, TK 139, TK 3X9, TK 4Y9 cho thống nhất. Bên cạnh đó cũng cần xem xét, nếu với cách mã hóa TK phản ánh các khoản dự phòng như hiện tại thì nhóm TK 129, 229, 139, 159 có phải mang tính chất dự phòng phải trả không? Và bản chất nhóm này có khác bản chất nhóm TK 351, 352, 335 không?

Thứ hai, thống nhất xử lý các khoản dự phòng giữa quy định của chuẩn mực số 18, Quyết định 15/2006 và Thông tư số 13/2006 và nay là Thông tư 228/2009.

Xem bảng sau:


Tiêu thức

Theo QĐ 15/2006 và Chuẩn mực số 18

Theo Thông tư 13/2006

và Thông tư 228/2009

Trích lập lần đầu hoặc trích lập bổ sung thêm

Khi hoàn nhập

Trích lập lần đầu hoặc trích lập bổ sung thêm

Khi hoàn nhập

1. Dự phòng Đầu tư tài chính

Nợ TK 635
Có TK 129, 229

Nợ TK 129, 229
Có TK 635

Nợ TK 635
Có TK 129, 229

Nợ TK 129, 229
Có TK 515

2. Dự phòng phải thu khó đòi

Nợ TK 642(6)
Có TK 139

Nợ TK 139
Có TK 642(6)

Nợ TK 642(6)
Có TK 139

Nợ TK 139
Có TK 711

3. Dự phòng Giảm giá HTK

Nợ TK 632
Có TK 159

Nợ TK 159
Có TK 632

Nợ TK 632
Có TK 159

Nợ TK 159
Có TK 711

4. Dự phòng Bảo hành SP, HH

Nợ TK 641
Có TK 352

Nợ TK 352
Có TK 641

Nợ TK 641
Có TK 352

Nợ TK 352
Có TK 711

5. Dự phòng bảo hành Công trình XL

Nợ TK 641
Có TK 352

Nợ TK 352
Có TK 711

Nợ TK 641
Có TK 352

Nợ TK 352
Có TK 711

6. Dự phòng trợ cấp mất việc làm

Nợ TK 642
Có TK 351

Nợ TK 351
Có TK 642

7. Dự phòng các khoản CP tái cơ cấu DN

Nợ TK 642
Có TK 352

Nợ TK 352
Có TK 642

8. Dự phòng các Hợp đồng có rủi ro lớn

Nợ TK 642
Có TK 352

Nợ TK 352
Có TK 642

9. Quỹ dự phòng tài chính

Nợ TK 421
Có TK 415

Nhìn vào quy định được phân tích trên, ta thấy Chuẩn mực số 18 và Quyết định số 15/2006 khi trích lập hoặc trích lập thêm các khoản dự phòng tính vào chi phí, còn khi hoàn nhập thì ghi giảm chi phí đã trích, trừ trường hợp trích lập dự phòng cho hoạt động tài chính thì khi hòan nhập tính vào chi phí hoạt động tài chính lập. Tuy nhiên, theo như quy định của Thông tư số 13/2006 khi trích lập hoặc trích lập thêm thì tính vào chi phí, còn khi hoàn nhập thì tính vào nhập khác trừ trường hợp dự phòng các khoản đầu tư tài chính thì khi hoàn nhập tính vào doanh thu hoạt động tài chính. Với quy cách xử lý khác nhau này dẫn đến những người làm công tác kế toán không biết nên áp dụng như thế nào. Về việc trích lập lần đầu, trích lập bổ sung thêm đều tính vào chi phí thì cơ bản đã thống nhất giữa hai bên, nhưng về việc hoàn nhập thì khác biệt hòan toàn. Đi sâu về bản chất, ta thấy dù theo phương pháp xử lý hòan nhập nào (ghi giảm chi phí hay tăng thu nhập) đều làm cho kết quả trong kỳ tăng lên. Nhưng thực tế vẫn cần phải có sự thống nhất giữa hai quy định này.

Thứ ba, số lượng các khoản dự phòng

Theo chuẩn mực số 18 và Quyết định 15 bao gồm có 9 khoản dự phòng và mang tính chất dự phòng, nhưng theo Thông tư số 15 chỉ có 05 khoản dự phòng. Như vậy, vấn đề đặt ra là liệu ngoài các khoản dự phòng thống nhất trong quy định giữa hai bên thì các khoản dự phòng còn lại khi trích lập có được xem là chi phí hợp lý không? Và sẽ thực hiện theo cơ chế tài chính nào? Trong các khoản dự phòng đã trích lập nêu trên, Quỹ dự phòng tài chính được trích lập vào lợi nhuận sau thuế, như vậy có mâu thuẫn với nguyên tắc trích lập dự phòng là tính vào chi phí trước thuế không?

Khánh Linh (Tạp chí Kiểm toán)