Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Việt kiều mua nhà: Thống kê thấp hơn thực tế

pictureCăn hộ cao cấp là một trong những phân khúc mà Việt kiều nhắm tới - Ảnh: Lê Quang Nhật.
Từ năm 2006 đến nay, cả nước chỉ có khoảng 140 Việt kiều mua nhà, đất


Thường vào dịp cuối năm, khá đông Việt kiều về quê ăn tết kết hợp “sắm” nhà, đất. Đây là một trong những yếu tố kích thích thị trường nhà đất nhộn nhịp vào cuối năm. Thế nhưng năm nay, lượng Việt kiều mua nhà không nhiều.

Theo Ủy ban Về người Việt Nam ở nước ngoài Tp.HCM, gần đây nhiều kiều bào đến nhờ tư vấn về thủ tục mua nhà đất, trong đó phần lớn là kiều bào Mỹ và Tây Âu. Tuy nhiên, dù Nhà nước đã “mở cửa” nhiều hơn trong việc cho Việt kiều mua nhà đất nhưng vẫn chưa tạo ra được làn sóng mua nhà, căn hộ hoặc đất của đối tượng này.

Một năm, hơn mười Việt kiều mua được nhà

Theo ông Trần Hoà Phương, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về người Việt Nam ở nước ngoài Tp.HCM, từ năm 2006 đến nay, cả nước chỉ có khoảng 140 Việt kiều mua nhà, đất. Trong đó tại Tp.HCM có khoảng 100 trường hợp. Riêng trong năm 2009, cả nước có mười Việt kiều mua nhà, chủ yếu là ở Tp.HCM. Đây là con số quá ít so với hơn bốn triệu kiều bào đang sống ở nước ngoài.

Ông Phạm Quang Hải, Trưởng phòng Giao dịch bất động sản Vinaland Phú Mỹ Hưng cũng cho biết, năm 2009 lượng khách hàng là Việt kiều đến công ty này nhờ tư vấn mua nhà đất ít. Ông Hải nói: “Có nhiều người đến hỏi mua nhưng lại không giao dịch”. Được biết dịp tết những năm trước, nhiều Việt kiều về mua nhà tại Phú Mỹ Hưng, trong đó có người mua đến sáu căn nhà tại đây để cho thuê.

Lý giải về hiện tượng Việt kiều mua nhà đất sụt giảm, giám đốc một công ty địa ốc tại Tp.HCM cho rằng do khủng hoảng kinh tế tác động làm giảm thu nhập dẫn đến lượng kiều bào về Việt Nam mua nhà đất để ở, mở doanh nghiệp, đầu tư… giảm. Mặt khác, lượng Việt kiều mua nhà khiêm tốn so với tiềm năng còn do chủ trương và chính sách về nhà đất chưa thật sự thông thoáng khiến không ít người nản lòng.

Điển hình như trường hợp bà Nguyễn Hàng Mỹ Hoa (ngụ nhà 224 khu phố Mỹ Kim 1, khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng). Bà Hoa đã mua căn biệt thự trên vào năm 2002, song phải nhờ người cháu đứng tên giùm. “Những quy định về mua bán nhà rắc rối, trong khi tôi muốn mua ngay một căn hộ để về Việt Nam sống hẳn. Chính vì vậy, tôi đành phải nhờ người cháu đứng tên”, bà Hoa nói thẳng. Pháp lý căn hộ trên hiện đã được chuyển tên sang cho bà Hoa sau khi bà nhập quốc tịch Việt Nam vào năm 2003. Tuy đã đứng tên trên giấy tờ mua nhà, có điều đến nay sau tám năm, giấy chủ quyền nhà bà Hoa vẫn chưa có trong khi những nhà kế bên đã có từ lâu.

Tuy con số thống kê chính thức khiêm tốn, nhưng trên thực tế lượng kiều bào có nhà, đất lại không nhỏ. Thông tin từ các phòng môi giới nhà đất tại khu Phú Mỹ Hưng cho hay, nhiều cư dân ở đây là Việt kiều, trên giấy chủ quyền nhà lại không phải tên của họ (họ thường nhờ người thân đứng tên). Một số ý kiến khác thì cho rằng, gần đây Việt kiều có xu hướng hợp thức hoá nhà (đã mua) nhiều hơn là mua mới.

Chờ hướng dẫn

Uỷ ban Người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao) cho biết, trong dịp tết năm nay số lượng kiều bào về quê ăn tết dự kiến đạt hơn 500.000 người.

Trong khi đó, theo số liệu của cơ quan chức năng, năm 2009 lượng kiều hối về Việt Nam ước đạt 6,283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Riêng tại Tp.HCM, kiều hối năm 2009 chỉ đạt 3,2 tỉ USD, so với con số gần 5 tỉ USD năm 2008.

Ông Ngô Dương Hoàng Thao, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Đại Đông Dương, nhận xét lượng kiều bào có tài sản từ 500.000 đến 1 triệu USD không ít và thị trường bất động sản Việt Nam là kênh đầu tư được Việt kiều ưa thích.

“Khả năng sinh lời của kênh bất động sản tương đối hấp dẫn, đặc biệt là đáp ứng được nhu cầu thực của nhiều Việt kiều là muốn có một căn nhà tại Việt Nam để ở khi về thăm quê hoặc hồi hương”, ông Thao phân tích.

Cũng theo ông Thao, quy định diện Việt kiều được mua nhà ở đã mở rộng theo hướng thoáng hơn trước. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề vẫn phải chờ hướng dẫn mới đi vào cuộc sống. “Luật quy định Việt kiều có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất, có thể được hiểu là Việt kiều chỉ được mua nhà ở chứ không được mua đất. Vậy, Việt kiều có được phép mua đất dự án rồi sau đó tự xây nhà không? Vấn đề này vẫn chưa có nghị định hướng dẫn”, ông Thao dẫn chứng. Trong một số trường hợp, việc xác định người gốc Việt Nam gặp khó khăn nếu họ được sinh ra ở nước ngoài, nay bố mẹ đều đã mất.

Chính những quy định chưa rõ ràng trên nên đa số những Việt kiều có nhu cầu và có khả năng đều đã nhờ bà con thân thuộc đứng tên mua. Đó là chưa kể, nhiều kiều bào không biết phải xin giấy xác nhận đủ điều kiện để mua căn hộ ở đâu, bởi luật chưa chỉ rõ cơ quan nào xác định giấy này.

Ông Trần Hoà Phương nói: “Pháp lý quy định việc mua nhà của kiều bào đã có hiệu lực từ ngày 1/7/2009, song chưa có hướng dẫn cụ thể. Nhiều vướng mắc của kiều bào khi mua nhà đất, ngay cả cơ quan hành chính cũng chưa biết phải hướng dẫn, giải quyết như thế nào. Chính vì vậy, việc mua nhà của Việt kiều có khả thi hay không còn phải chờ Chính phủ quy định và hướng dẫn chi tiết”.

Di Lã (SGTT)

Nhà nước làm gì để giữ chân người tài?

pictureNhiều công chức có năng lực rời bỏ cơ quan Nhà nước do vấn đề lương thưởng.
Công chức rời bỏ cơ quan Nhà nước có chiều hướng gia tăng bởi sự cạnh tranh từ khu vực tư nhân và nước ngoài


Với sự gia tăng cạnh tranh từ khu vực tư nhân và nước ngoài, các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước đang phải đương đầu với một thách thức lớn, làm thế nào để thu hút, giữ chân và khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực?

Bỏ việc vì lương thấp

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm hấp dẫn ngoài hệ thống Chính phủ và thu hút rất nhiều người có năng lực ra khỏi cơ quan Nhà nước khiến cho hệ thống công vụ rơi vào tình trạng có nhiều công chức không đủ năng lực hoặc nhiều công chức không có động cơ làm việc.

Báo cáo phát triển Việt Nam 2010 mà Ngân hàng Thế giới vừa công bố cho biết, trong giai đoạn từ năm 2003 đến 2007 đã có hơn 16.000 cán bộ, công chức tự nguyện ra khỏi cơ quan Nhà nước. Tp.HCM chiếm hơn 40% con số nói trên.

Kết quả điều tra do Học viện Hành chính Quốc gia tiến hành với 460 công chức ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng hai tỉnh Nam Định, Hòa Bình cho thấy phần lớn công chức rời bỏ cơ quan Nhà nước là vì đồng lương.

Hầu hết những người được hỏi đều cho rằng, mức lương thưởng, trợ cấp là yếu tố quan trọng nhất, lý do về mức lương không thỏa đáng chiếm đến 50% câu trả lời. Tuy nhiên, rất nhiều người trả lời rằng họ cảm thấy khu vực công có quá ít cơ hội cho họ sử dụng năng lực và có quá ít sự khuyến khích cho nỗ lực của họ.

Cụ thể, có 20,8% các công chức được hỏi cho rằng lý do khiến họ không mặn mà với cơ quan Nhà nước là sau một thời gian làm việc, họ thấy kinh nghiệm mà họ có được không như mong đợi. 36,1% cho rằng họ khó phát triển khả năng của mình vì cơ quan Nhà nước không có thưởng và không có sự khích lệ đối với nhân viên. 18% cho rằng, họ ra đi để tìm kiếm cơ hội thể hiện khả năng.

Trao đổi với VnEconomy xung quanh vấn đề tiền lương trong cơ quan Nhà nước, một chuyên gia của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết, lương tối thiểu đã tăng 200% kể từ năm 2000, trong khi chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng khoảng 84%. Theo kết quả này thì mức lương tối thiểu rõ ràng đã tăng nhanh hơn mức độ lạm phát.

Tuy nhiên, trong cùng khoảng thời gian nói trên, khi lương tối thiểu tăng 200% thì GDP bình quân đầu người đã tăng 238%. Ngoài ra, do phải cạnh tranh với khu vực tư nhân trong việc tuyển dụng cán bộ nên Nhà nước không nên chỉ đơn thuần tăng lương tối thiểu theo lạm phát mà phải có nhiều chế độ ưu đãi khác để thu hút người tài.

Giữ người tài, cách nào?

Thực tế cho thấy, chênh lệch lương thưởng giữa khu vực Nhà nước và tư nhân có ý nghĩa rất quan trọng. Khi cán bộ, công chức thấy mình không được trả lương thỏa đáng, họ thường có xu hướng làm giàu bằng cách lách luật và là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nạn tham nhũng.

Tuy nhiên, theo ông Đặng Như Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội , một chuyên gia trong lĩnh vực tiền lương thì hiện nay chi lương cho đội ngũ cán bộ làm việc trong khu vực Nhà nước đã chiếm gần một nửa chi thường xuyên của Chính phủ.

Vì thế, vị chuyên gia này cho rằng, có thể cải thiện tình hình này trong khuôn khổ ngân sách bằng cách tăng lương đồng thời với cắt giảm biên chế. Có nghĩa là tăng lương có tính chất chọn lọc theo bằng cấp, theo kỹ năng, trách nhiệm và hiệu quả công việc hơn là theo thời gian công tác.

Cũng về kinh nghiệm thu hút và giữ chân người tài, ông Peter Ryder, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ đầu tư Indochina Capital, Phó chủ tịch Hiệp hội Thương mại Mỹ (AmCham) tại Hà Nội cho rằng, các cơ quan Nhà nước cũng phải thực sự nhận thức được yêu cầu cạnh tranh trong vấn đề nguồn nhân lực, phải tạo ra được sức cạnh tranh của mình so với các tổ chức tư nhân.

“Cần có động cơ khuyến khích đối với nhân viên. Ngoài vấn đề tiền lương thì các yếu tố khác trong quản lý nhân lực cũng có ý nghĩa quan trọng không kém. Đó là, khi cán bộ, công chức cảm thấy rằng họ đang làm việc trong một hệ thống mà sự thăng tiến và các quyết định khác về nhân sự được đưa ra một cách xứng đáng dựa trên những tiêu chí rõ ràng và minh bạch, họ sẽ có động cơ để phấn đấu và cống hiến”, ông Peter Ryder nói .


Theo Vneconomy

Lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh

pictureTuần qua, lãi suất bình quân nhiều kỳ hạn trên thị trường liên ngân hàng đều tăng đến trên 11,25%/năm.
Lãi suất giao dịch bình quân VND thị trường liên ngân hàng tuần qua tăng lên ở các kỳ hạn, đặc biệt là qua đêm và kỳ hạn 1 tuần


Lãi suất giao dịch bình quân VND trên thị trường liên ngân hàng tuần qua tăng lên ở các kỳ hạn, đặc biệt là qua đêm và kỳ hạn 1 tuần.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất giao dịch bình quân VND trên thị trường kiên ngân hàng tuần qua có sự tăng lên đối với tất cả các kỳ hạn so với tuần trước, với mức tăng từ 0,6% đến 2%/năm (ngoại trừ lãi suất kỳ hạn 3 tháng có mức tăng nhỏ nhất là 0,1%/năm). Đây là diễn biến ngược với xu hướng giảm thể hiện từ đầu tháng 1/2010.

Lãi suất bình quân kỳ hạn 1 tuần và qua đêm có mức tăng cao nhất là 2% và 1,64%/năm. Đây cũng là 2 kỳ hạn có doanh số phát sinh lớn nhất. Tuần liền trước, lãi suất bình quân qua đêm chỉ ở mức 8,03%/năm.

Lãi suất bình quân qua đêm tuần qua ở mức 9,67%/năm (trong đó lãi suất qua đêm các ngày 25 và 26/1 ở mức trên 10,5%/năm); lãi suất bình quân đối với các kỳ hạn còn lại đều tăng đến trên 11,25%/năm; riêng lãi suất các kỳ hạn từ 1 đến 12 tháng đều ở mức 11,67% trở lên. Lãi suất cho vay thấp nhất là 6,8%/năm; lãi suất cho vay cao nhất là 14,5%/năm (phát sinh với các kỳ hạn 1 tháng, ngày 25/1/2010).

Trái ngược với diễn biến lãi suất VND, tuần qua, bình quân lãi suất giao dịch bằng USD trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm so với tuần trước. Mức giảm của các kỳ hạn từ 0,1% đến 1,43%/năm. Riêng lãi suất bình quân kỳ hạn 2 tuần tăng nhẹ. Lãi suất bình quân cao nhất là 1,48%/năm, lãi suất các kỳ hạn còn lại dao động từ 0,63% đến 1,43%/năm, các giao dịch chủ yếu phát sinh với các kỳ hạn dưới 3 tháng, không phát sinh giao dịch kỳ hạn 12 tháng.

Trong tuần, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đạt xấp xỉ 86.660 tỷ VND và 1.573 triệu USD, bình quân đạt khoảng 17.332 tỷ VND/ngày và 314 triệu USD/ngày. So với tuần liền trước, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tăng 7.973 tỷ VND, 59 triệu USD. Tuần này, doanh số giao dịch qua đêm bằng VND ở mức 35.097 tỷ, chiếm tỷ trọng 40,5% so với tổng doanh số giao dịch cả tuần.


Theo Vneconomy

Bộ Tài chính lý giải về lợi tức trái phiếu quốc tế

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà (bên trái) tại cuộc họp báo diễn ra sáng ngày 1/2.

1 tỷ USD tiền bán trái phiếu quốc tế đã về tài khoản của Việt Nam lúc 1h ngày 29/1
Theo lý giải của Bộ Tài chính, có 3 tiêu chí làm căn cứ xác định lợi tức trái phiếu quốc tế của Việt Nam, và cũng là 3 nguyên nhân chính dẫn đến kết quả của đợt phát hành vừa qua.

Tại cuộc họp báo diễn ra sáng ngày 1/2, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà đã cho biết, 1 tỷ USD tiền bán trái phiếu quốc tế đã về tài khoản của Việt Nam lúc 1h ngày 29/1.

Theo Bộ Tài chính, số trái phiếu trong đợt chào bán này sẽ được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Singapore và đáo hạn vào ngày 29/1/2020. Đợt phát hành trái phiếu trị giá 1 tỷ USD, kỳ hạn 10 năm đã thành công với mức lợi tức 6,95%.

Ông Trần Xuân Hà cho biết, số tiền huy động vốn trái phiếu quốc tế này sẽ dùng để chi tiêu chung của Chính phủ, trong đó một phần sẽ được dùng để cho vay lại đối với dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và các dự án khác.

Cũng theo ông Trần Xuân Hà, lợi tức trái phiếu của Việt Nam trong đợt phát hành vừa qua được căn cứ trên 3 tiêu chí: xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam; tình hình giao dịch của trái phiếu Việt Nam đáo hạn vào năm 2016 (VN2016) và tình hình thị trường vốn quốc tế tại thời điểm phát hành. Và đây cũng chính là những nguyên nhân khiến lợi tức trái phiếu của Việt Nam cao hơn lợi tức trái phiếu có cùng kỳ hạn của Philippines, Indonesia.

Thứ nhất, về xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam, hiện chúng ta được Moody’s xếp định mức tín nhiệm Ba3, còn Standard & Poor’s xếp ở mức BB. Với mức xếp hạng tín nhiệm này, chênh lệch giữ lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Việt Nam so với trái phiếu kho bạc Mỹ cùng kỳ hạn là từ 3,78 - 3,85%.

Bộ Tài chính cho biết, Việt Nam hơn Philippines, Indonesia một bậc theo xếp hạng của Standard & Poor’s, nhưng lại thua Indonesia một bậc theo xếp hạng của Moody’s và hai bậc theo xếp hạng của Fitch. Bên cạnh đó, xếp hạng của Việt Nam lại thua Philippines về triển vọng theo đánh giá của Moody’s và một bậc theo xếp hạng của Fitch.

Như vậy, nhìn chung Việt Nam có nhỉnh hơn so với hai nước trong khu vực về xếp hạng tín nhiệm nhưng triển vọng (outlook) lại yếu hơn khi bị xếp ở mức “tiêu cực - negative”. Triển vọng “tiêu cực” nói lên xu hướng của xếp hạng tín nhiệm trong 6-9 tháng tới hoặc là về “ổn định” hoặc là bị xuống hạng. Trong khi đó, với triển vọng “tích cực - positive” có nghĩa trong 6-9 tháng tới triển vọng quay về “ổn định” hay lên 1 hạng.

Thứ hai, về giao dịch trái phiếu VN2016, trong thời gian qua, trái phiếu này được giao dịch với lợi tức trong khoảng từ 6,17 - 6,27%. Và từ ngày 18 - 21/1, tức thời điểm Việt Nam tổ chức các đợt chào bán trái phiếu, lợi tức dao động ở mức 6,26 - 6,27%.

Trái phiếu VN2016 còn thời gian đáo hạn là 6 năm với mức lợi tức như trên thì trái phiếu kỳ hạn 10 năm sẽ phải tính thêm độ trội thêm trong khoản 0,75 - 0,8%, theo đó lợi tức phải ở mức từ 7 - 7,15%.

Trong khi đó, trái phiếu của Philippines, Indonesia có cùng thời gian đáo hạn năm 2016 lại có mức lợi tức thấp hơn từ 1,25 - 1,5% so với trái phiếu của Việt Nam. Từ ngày 18-21/1, mức lợi tức trái phiếu của Philippines dao động ở mức 4,84 - 4,88%, còn mức lợi tức của trái phiếu Indonesia từ 5,05 - 5,14%.

Như vậy, mức lợi tức này nếu cộng thêm độ trội cho trái phiếu kỳ hạn 10 năm thì lợi tức trái phiếu của Philippines, Indonesia cũng sẽ không vượt quá 6%, phù hợp với đợt phát hành trái phiếu của hai nước này trong nửa đầu tháng 1/2010, với mức lợi tức lần lượt là 5,674% và 6%.

Xét về yếu tố thanh khoản, thì trái phiếu của Việt Nam thấp hơn nhiều so với trái phiếu của Philippines, Indonesia, do đó mức độ hấp dẫn của trái phiếu của Việt Nam cũng gắn liền với mức lợi tức phải trả.

Thứ ba, về tình hình thị trường khi Việt Nam phát hành trái phiếu. Ngày 20/1, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, sau đó là Nhật, đã tuyên bố các biện pháp thắt chặt tiền tệ. Điều này làm cho tính thanh khoản của các ngân hàng yếu đi. Cũng trong ngày 20/1, Tổng thống Mỹ Obama công bố kế hoạch cải tổ hệ thống pháp lý ngân hàng khiến thị trường chứng khoán thế giới giảm mạnh và kéo dài nhiều ngày tiếp theo đó.

Điều này khiến nhu cầu chứng khoán kém đi nhiều so với đầu tháng 1/2010, và điều này đã ảnh hưởng đến cầu trái phiếu của Việt Nam. Lượng đăng ký mua trái phiếu đến ngày 21/1 đạt 2 tỷ USD và khi giao dịch chính thức có 2,4 tỷ USD đăng ký mua. Trong khi đó, các đợt phát hành trái phiếu của Philippines, Indonesia vào nửa đầu tháng 1/2010 đã có lượng đặt mua gấp 5 -6 lần khối lượng dự kiến phát hành.

Theo Bộ Tài chính, kết quả của đợt phát hành này có ý nghĩa quan trọng, tiếp tục mở ra kênh huy động vốn trên thị trường quốc tế của Chính phủ và các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới cho đầu tư phát triển.


Theo Vneconomy

5 hiểu lầm về kinh tế Ấn Độ

picture

Một đường phố ở Mumbai. Những thành phố lớn của Ấn Độ vẫn là ví dụ sinh động về đô thị của một quốc gia đang phát triển.

5 hiểu lầm thường gặp và sự thật phía sau những hiểu lầm đó về kinh tế Ấn Độ


Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, Ấn Độ đang chuyển mình từ chỗ là miền đất của những đàn voi và người thôi miên rắn thành một cường quốc công nghệ thông tin, một nền kinh tế mới nổi hùng mạnh.

Dù hai cách nhìn trên về Ấn Độ đều hợp lý, nhưng từ trước tới nay, không ít người đã hiểu chưa chính xác về nền kinh tế này.

Trên tờ Business Week, hai tác giả Anil K. Gupta và Haiyan Wang đã chỉ ra 5 hiểu lầm thường gặp và sự thật phía sau những hiểu lầm đó về kinh tế Ấn Độ. Theo hai tác giả này, công nghệ thông tin chưa phải là đầu tàu của kinh tế Ấn Độ như nhiều người vẫn nghĩ, và nền giáo dục của Ấn Độ vẫn còn nhiều hạn chế, nhưng nền kinh tế này không thua kém Trung Quốc tới mức như quan niệm thường thấy.

Hiểu lầm 1: Lĩnh vực công nghệ thông tin đóng vai trò là động lực chính đối với tăng trưởng của kinh tế Ấn Độ

Không ai có thể phủ nhận việc Ấn Độ là một cường quốc trong lĩnh vực công nghệ thông tin (IT) và các dịch vụ IT. Tuy nhiên, IT chỉ đóng một phần rất nhỏ vào nền kinh tế Ấn Độ. Năm 2008, ngành IT của Ấn Độ đạt doanh thu 72 tỷ USD. Nếu tính ở phương diện giá trị gia tăng, lĩnh vực này đóng góp vỏn vẹn 4% GDP của Ấn Độ trong năm 2009.

Đóng góp của ngành này vào việc tạo công ăn việc làm tại Ấn Độ thậm chí còn nhỏ hơn. Chỉ có khoảng 2 triệu người ở Ấn Độ làm việc trực tiếp trong ngành IT, và ngành này cũng chỉ tạo thêm được 8 triệu việc làm gián tiếp ở nước này, trong lực lượng lao động lên tới 700 triệu người tại đây.

Như vậy, dù ngành IT của Ấn Độ đang tăng trưởng với tốc độ 25% mỗi năm và đem đến cho Ấn Độ một hình ảnh thương hiệu tốt, thì phần lớn sự tăng trưởng của nền kinh tế nước này vẫn đang được đóng góp chủ yếu bởi ngành sản xuất và các ngành dịch vụ khác.

Hiểu lầm 2: Kinh tế Ấn Độ “thua” kinh tế Trung Quốc hàng thập kỷ

Nhiều du khách từng đặt chân tới Ấn Độ và Trung Quốc đều có ấn tượng mạnh khi so sánh Mumbai, New Dehli và Bangalore với Thượng Hài, Bắc Kinh và Quảng Châu. Sự khác biệt giữa các đô thị của hai quốc gia này rất rõ nét. Những thành phố hàng đầu của Trung Quốc giờ đây có vẻ ngoài hiện đại và hào nhoáng không kém gì New York hay London. Trong khi đó, những thành phố lớn của Ấn Độ vẫn là ví dụ sinh động về đô thị của một quốc gia đang phát triển. Trên thực tế, kinh tế Ấn Độ không “thua xa” kinh tế Trung Quốc như sự so sánh trên chỉ ra.

Năm 2008, GDP của Trung Quốc cao hơn 3 lần so với GDP của Ấn Độ. Nếu GDP của Ấn Độ tăng trưởng 8-9% trong thập kỷ tới như dự báo của nhiều tổ chức uy tín (theo số liệu mới nhất, trong quý 3/2009, kinh tế Ấn Độ tăng 7,9%) thì tới năm 2020, quy mô của nền kinh tế nước này sẽ ngang bằng với kinh tế Trung Quốc năm 2008.

Như vậy, kinh tế Ấn Độ chỉ cách kinh tế Trung Quốc khoảng 12-14 năm, thay vì vài thập kỷ như suy nghĩ của nhiều người. Sự cách biệt này tương ứng với khoảng thời gian giữa năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu cải cách, và năm 1991, khi Ấn Độ cũng bắt tay vào thực hiện chiến lược tương tự.

Hiểu lầm 3: Nền chính trị dân chủ ở Ấn Độ sẽ cản trở việc cải thiện nhanh chóng hệ thống cơ sở hạ tầng

Với hệ thống chính trị dân chủ cao độ, bất kỳ chính phủ nào lên cầm quyền ở Ấn Độ cũng gặp khó trong việc di dời hàng triệu dân khỏi các trung tâm thành phố để nhường chỗ cho các dự án nhà cao tầng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng không chỉ bao gồm những con đường lớn và những tòa nhà cao, mà còn bao gồm cả cảng biển, sân bay, nhà máy phát điện, hệ thống truyền dẫn, viễn thông, đường ray… Do đó, nền chính trị của Ấn Độ chỉ cản trở việc cải thiện bộ mặt đô thị của các nước này, thay vì cả hệ thống cơ sở hạ tầng nói chung.

Trong thời gian 1995-2007, Trung Quốc chi khoảng 8,5% GDP vào cơ sở hạ tầng, so với mức 4,2% GDP của Ấn Độ chi cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, hiện nay, Ấn Độ hiện đang chi 8% GDP cho cơ sở hạ tầng, và dự kiến sẽ tăng mức chi này lên 9%. Nhưng do mức độ dân chủ cao, khả năng Ấn Độ sẽ trở thành một công xưởng của thế giới trước khi những thành phố của nước này có vẻ ngoài hiện đại hơn.

Hiểu lầm 4: Tăng trưởng dân số không kiểm soát là một gánh nặng của Ấn Độ

Khi nghĩ tới Ấn Độ, nhiều người hình dung ngay tới những thành phố đông chật dân nghèo và đặt câu hỏi, liệu nước này có thể chịu đựng được mãi tốc độ tăng trưởng dân số không kiểm soát hiện nay?

Đúng là tại Ấn Độ hiện không có chính sách hạn chế sinh đẻ nào được áp dụng, nhưng xu hướng tăng trưởng dân số ở đây là ngày càng đi xuống. Tỷ lệ sinh ở nước này đã giảm từ mức 4,65 vào năm 1980, xuống còn 3,25 vào năm 2000, rồi 2,68 vào năm 2007. Tốc độ tăng trưởng dân số cũng giảm nhanh chóng từ mức 2,15% mỗi năm vào thập niên 1980, xuống 1,5% vào năm 2000, và 1,35% kể từ đó tới nay.

Nếu xu hướng này tiếp tục, thì tỷ lệ sinh của Ấn Độ sẽ chỉ còn 2,0 trong thập kỷ tới, và tăng trưởng dân số sẽ chỉ còn 0,6% mỗi năm, bằng với mức của Trung Quốc hiện nay. Nói cách khác, sự tăng trưởng dân số của Ấn Độ đang tự điều chỉnh, thay vì là một gánh nặng dai dẳng đối với tăng trưởng kinh tế của nước này.

Hiểu lầm 5: Ấn Độ có nền giáo dục đẳng cấp quốc tế

Trong buổi lễ ra mắt quỹ cải cách giáo dục “Race to the Top” của Mỹ, Tổng thống nước này Barack Obama đã khuyến khích các trường học ở Mỹ phát triển các tiêu chuẩn cạnh tranh quốc tế để các các sinh viên Mỹ có thể đuổi kịp “sinh viên ở Bắc Kinh và Bangalore”. Tổng thống Obama đã đúng khi tăng đầu tư cho giáo dục, nhưng nếu xem hệ thống giáo dục của Ấn Độ thuộc hàng đẳng cấp quốc tế thì có lẽ chưa thực sự chuẩn xác.

Ở Ấn Độ, sự phân hóa không chỉ diễn ra mạnh mẽ ở phương diện thu nhập mà còn ở cả trong lĩnh vực giáo dục. Việc đặt chân vào những trường đại học đẳng cấp cao ở Ấn Độ như Viện Công nghệ Ấn Độ và Viện Quản lý Ấn Độ còn khó khăn hơn cả vào những trường danh tiếng hàng đầu của Mỹ như Havard hay MIT. Những trường này cũng là cái nôi đào tạo hàng loạt giám đốc điều hành và lãnh đạo cao cấp cho những doanh nghiệp lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, tỷ lệ biết chữ ở người trưởng thành của Ấn Độ hiện chỉ đạt mức 61%, so với mức 91% của Trung Quốc, 90% của Indonesia, và 89% của Brazil. Trong suốt 5 thập kỷ qua, Trung Quốc nhấn mạnh việc phát triển giáo dục phổ thông, trong khi Ấn Độ lại thúc đẩy giáo dục bậc cao. Tuy nhiên, với cuộc cách mạng sản xuất đang diễn ra, Ấn Độ đang cần nhiều “thợ” hơn “thầy”.

(Theo Business Week)-Vneconomy

Chính phủ: “Không cấm biếu quà tết theo truyền thống”

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì buổi họp báo chiều 1/2 - Ảnh: Từ Nguyên.

Chính phủ chỉ cấm những hình thức biếu quà có tính chất tiêu cực, lạm dụng công quỹ, không hạn chế tặng quà theo truyền thống và phong tục
Chính phủ chỉ cấm những hình thức biếu quà có tính chất tiêu cực, lạm dụng công quỹ, không hạn chế tặng quà theo truyền thống và phong tục.

Thông tin trên được Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho biết tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ, diễn ra chiều 1/2.

"Tết không được để dân đói"

Tại buổi họp báo, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, trong ngày 1/2, Chính phủ đã họp phiên thường kỳ tháng 1/2010 với nội dung chính là thảo luận, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng 1/2010.

Phó thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng và các thành viên Chính phủ cho rằng, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, trong tháng đầu của năm 2010, tình hình kinh tế - xã hội của nước ta đã đạt được những kết quả tích cực. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 1 ước tăng 28,4% so với cùng kỳ năm 2009.

Đối với khu vực dịch vụ, du lịch, trong tháng 1, chuẩn bị bước vào dịp Tết Nguyên đán, hoạt động thương mại trên thị trường khá nhộn nhịp. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 1/2010 ước tăng 23,1% so với tháng 1/2009. Lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng mạnh, ước đạt 416 nghìn lượt, tăng 10,6% so với tháng 12/2009 và tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, đến thời điểm này, Chính phủ đã xuất 23.000 tấn gạo hỗ trợ dân các địa phương trong dịp tết và thời kỳ giáp hạt đầu năm 2010. Đồng thời có 7 tập đoàn và tổng công ty Nhà nước trong các lĩnh vực: lương thực, thực phẩm, xăng dầu, điện… đã báo cáo chuẩn bị đầy đủ, chu đáo các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu của nhân dân trong dịp tết.

Đặc biệt, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành và các địa phương tuyệt đối không để người dân thiếu đói trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.

“Địa phương nào để dân thiếu đói trong dịp Tết Nguyên đán phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Chính phủ”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc dẫn lời Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng.

Không được dùng công quỹ tặng quà

Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc Chính phủ có nghiêm cấm biếu và nhận quà biếu trong dịp tết sắp tới, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Chính phủ chỉ cấm những hình thức biếu quà có tính chất tiêu cực, lạm dụng công quỹ, không hạn chế tặng quà theo truyền thống và phong tục.

Chính phủ đã có chỉ thị về vấn đề này. Tuy nhiên, để đảm bảo kỷ cương, các cơ quan giám sát như báo chí phải cùng vào cuộc phối hợp chặt chẽ.

Dự kiến nhu cầu hàng hóa trong tháng này sẽ tăng hơn 20%. Do đó, Chính phủ cũng yêu cầu các địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước có phương án, nguồn vốn cần thiết dự trữ mua hàng tết.

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cũng chỉ đạo tăng cường công tác quản lý giá cả các mặt hàng thiết yếu, kiểm tra, niêm yết giá và bán theo giá niêm yết; chống đầu cơ.

Đặc biệt, để kiềm chế việc tăng giá hàng và hình thành mặt bằng giá mới sau Tết Nguyên đán, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên cho biết, cơ quan này sẽ phối hợp với các ban ngành chức năng nỗ lực để hạn chế tăng giá thấp nhất.

Tuy nhiên, Thứ trưởng Biên cũng thừa nhận, việc hàng hóa có tăng giá sau tết hay không còn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu, tiền hàng, sản xuất kinh doanh của trong nước và quốc tế…

Tập đoàn, tổng công ty đã bán 450 triệu USD cho ngân hàng

Liên quan đến kết quả xử lý một số vấn đề dư luận đang quan tâm như: vụ việc tại Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), vấn đề hai tỷ giá, chống Đô la hóa…, đại diện các bộ, ngành đã trả lời thẳng thắn báo giới.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, tuần qua, Thường trực Chính phủ đã họp bàn xem xét các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước. Hiện Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng đã làm việc với Bộ Tài chính và lãnh đạo SCIC nhưng chưa có kết luận cuối cùng.

Thứ trưởng Hà cũng cho biết, hiện cơ quan này đang soạn thảo đề án tiếp tục hoàn thiện và củng cố vai trò của SCIC và đang xây dựng nghị định về các doanh nghiệp kinh doanh vốn Nhà nước, trong đó có các nội dung như cơ chế phân phối lương thưởng, quản lý tài chính, cơ chế hoạt động của SCIC...

“Tới đây, trong hoạt động của SCIC sẽ phải xác định doanh thu để giao đơn giá tiền lương và cơ chế chi trả phù hợp”, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho biết.

Liên quan đến những vấn đề trong mua bán ngoại tệ, hai tỷ giá, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến cho biết, đến thời điểm này, hệ thống các ngân hàng đã mua lại được 450 triệu USD từ các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Hiện các tổ chức tín dụng này sẵn sàng bán lại cho các doanh nghiệp có nhu cầu.

Liên quan đến việc người dân khó tiếp cận mua ngoại tệ cũng như việc tồn tại hai tỷ giá, Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến khẳng định, Nhà nước hoàn toàn không có chính sách về hai tỷ giá. Việc người dân khó tiếp cận trong mua bán ngoại tệ là do chúng ta còn thiếu các chế tài quản lý, xử phạt các hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, ông Tiến cũng cho biết, Chính phủ không có chủ trương khuyến khích người dân sử dụng ngoại tệ trên lãnh thổ Việt Nam.


Theo Vneconomy

Phố Wall phục hồi mạnh mẽ

Chứng khoán Mỹ đã có phiên giao dịch đầu tháng 2 thành công - Ảnh: Getty Images.

Chứng khoán Mỹ đã tăng điểm mạnh nhờ thông tin tích cực từ lĩnh vực sản xuất và kết quả kinh doanh của Exxon Mobil vượt dự báo
Ngày 1/2, chứng khoán Mỹ đã tăng điểm mạnh nhờ thông tin tích cực từ lĩnh vực sản xuất công nghiệp và kết quả kinh doanh của Exxon Mobil vượt dự báo.

Hôm thứ Hai, Bộ Thương mại Mỹ cho biết, chi tiêu của người dân trong tháng 12/2009 đã tăng 0,2%, sau khi tăng 0,7% trong tháng 11/2009. Như vậy, tổng mức chi tiêu của người dân trong năm 2009 đã giảm 0,4%.

Trong khi đó, tổng mức thu nhập trong tháng 12 năm ngoái đã tăng 0,4%, sau khi tăng 0,5% trong tháng 11/2009. Tính chung năm 2009, tổng mức thu nhập của người dân đã giảm 1,4%, mức giảm mạnh nhất kể từ năm 1938.

Cùng ngày, Viện Quản lý Nguồn cung (ISM) cho biết, chỉ số ngành sản xuất trong tháng 1/2010 đã tăng lên 58,4 điểm - cao hơn so với mức dự báo 55,5 điểm của giới phân tích, từ mức 54,9 điểm trong tháng 12/2009. Như vậy, đây là tháng tăng điểm thứ sáu liên tiếp của chỉ số này.

Cũng trong ngày 1/2, tập đoàn năng lượng ExxonMobil công bố lợi nhuận quý 4/2009 giảm 23% so với cùng kỳ năm ngoái, xuống 6,05 tỷ USD, tương đương 1,27 USD/cổ phiếu, từ mức 7,82 tỷ USD (1,54 USD/cổ phiếu). Doanh thu của hãng tăng 6% lên 89,84 tỷ USD. Kết quả kinh doanh của ExxonMobil đã vượt dự báo của giới phân tích.

Lực cầu mạnh vào thị trường

Mở cửa với mức tăng trên 0,5% giá trị, ba chỉ số chứng khoán sau đó liên tục có những đợt tăng vững chắc với nhiều thông tin hỗ trợ. Thông tin chỉ số ISM ngành công nghiệp tăng vượt dự báo đã thúc đẩy thị trường khởi sắc. Bên cạnh đó, kết quả kinh doanh của Exxon Mobil khả quan đã giúp khối năng lượng có phiên bứt phá, qua đó góp sức vào đà tăng của thị trường.

Ngoài ra, với mức giảm điểm khá mạnh tuần trước đó và tháng 1, lực gom mua cổ phiếu giá rẻ cũng được nhiều nhà đầu tư thực hiện. Sức mua của thị trường phiên này tỏ ra khá vững, song song với những đợt lên điểm không đột ngột với đỉnh sau cao hơn đỉnh trước.

Điểm đáng chú ý là sau nhiều tháng, ngưỡng giá trị của các chỉ số chứng khoán đã ở mức cao nhất khi đóng cửa ngày giao dịch. Điều này cho thấy lực gom mua khá mạnh và không đơn thuần chỉ là phiên phục hồi kỹ thuật.

Cổ phiếu khối năng lượng nổi trội với mức tăng 3% của chỉ số S&P Năng lượng, trong đó cổ phiếu Exxon Mobil lên 2,73%, cổ phiếu Chevron tăng 1,98%.

Mức tăng điểm nổi bật hơn cả thuộc về cổ phiếu khối công nghiệp và khai thác mỏ khi lên 6,1%, những cổ phiếu dẫn đầu trong khối này là Alcoa (4,95%), U.S. Steel Corp (6,5%).

Trong 30 cổ phiếu thuộc Dow Jones, 26 cổ phiếu đã lấy lại đà tăng điểm, trong đó mức tăng lớn nhất thuộc về khối công nghiệp, năng lượng, tài chính… Các cổ phiếu American Express, Bank of Ảmerica, JPMorgan Chase đạt mức tăng từ 1,45% - 1,9%.

Về khối công nghệ, sau khi có tháng giảm điểm mạnh trước đó, phiên đầu tháng 2, khối này cũng đã phục hồi trở lại, cổ phiếu Apple tăng 1,4%, cổ phiếu Qualcomm nhích 1,5%, cổ phiếu IBM tiến thêm 1,9%.

Thanh khoản trên sàn New York suy giảm khi chỉ đạt 1,04 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 4 cổ phiếu tăng điểm thì có 1 cổ phiếu giảm điểm. Trên sàn Nasdaq, khối lượng khớp lệnh đạt 2,22 tỷ cổ phiếu, thị trường cứ có 17 cổ phiếu lên điểm thì có 10 cổ phiếu giảm điểm.

Biểu đồ diễn biến của ba chỉ số chứng khoán Mỹ ngày 1/2 - Nguồn: G.Finance.

Điểm qua kết quả giao dịch ngày 1/2: chỉ số Dow Jones tăng 118,2 điểm, tương đương 1,17%, chốt ở mức 10.185,53.

Chỉ số Nasdaq lên 23,85 điểm, tương đương 1,11%, chốt ở mức 2.171,2.

Cuối cùng, chỉ số S&P 500 tiến thêm 15,32 điểm, tương ứng 1,43%, đóng cửa ở mức 1.089,19.

Những thông tin đáng chú ý trong tuần:

Thứ Ba: Công bố doanh số nhà chờ bán; công bố doanh số bán ôtô.

Thứ Tư: ADP công bố báo cáo về tình trạng cắt giảm việc làm của khối doanh nghiệp tư nhân; công bố chỉ số ISM ngành dịch vụ; Pfizer, Time Warner, Cisco và Visa công bố kết quả kinh doanh.

Thứ Năm: Công bố số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu; số đơn đặt hàng từ các nhà máy.

Thứ Sáu: Aetna và Tyson Foods công bố kết quả kinh doanh.

Nhiều thị trường chứng khoán châu Á khởi sắc

Ngày 1/2, chứng khoán châu Á đã có diễn biến tích cực hơn khi nhiều thị trường đã khởi sắc trở lại.

Phiên giảm điểm mạnh cuối tuần trước của chứng khoán thế giới đã không còn tác động mạnh tới diễn biến của thị trường chứng khoán khu vực phiên đầu tháng 2. Sự phục hồi nhẹ của chứng khoán Nhật, Hồng Kông, Hàn Quốc và Ấn Độ đã mở ra hy vọng đợt giảm điểm đang đi vào giai đoạn cuối.

Lo ngại chính sách thắt chặt tiền tệ của Trung Quốc sẽ tác động tới đà tăng trưởng của nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, tiếp tục tạo áp lực lên thị trường chứng khoán Trung Quốc nói riêng và khu vực nói chung.

Chỉ số Shanghai Composite đã mất 47,93 điểm, tương đương -1,6%, chốt ở mức 2.941,36. Mức giảm mạnh hơn 1% cũng xuất hiện ở thị trường Australia và Đài Loan. Đáng chú ý là chỉ số Hang Seng của Hồng Kông - vốn có diễn biến khá sát với chỉ số Shanghai Composite - phiên này đã đi lên, đạt mức tăng 0,61%.

Tại Hàn Quốc, chỉ số KOSPI đã tăng nhẹ vào cuối ngày giao dịch với biên độ 0,25%, chốt ở mức 1.606,44. Nhiều cổ phiếu blue-chip có sức ảnh hưởng tới thị trường đã lên điểm, trong đó cổ phiếu Hyundai tiến thêm 2,65%, cổ phiếu Kia nhích 5,63%, cổ phiếu Hynix Semiconductor tăng 1,54%.

Chỉ số MSCI châu Á - Thái Bình Dương phiên này giảm 0,3% xuống 116,44 điểm. Như vậy, chỉ số này đã giảm hơn 10% giá trị sau khi Trung Quốc và Ấn Độ đưa ra yêu cầu nâng dự trữ bắt buộc của ngân hàng thương mại.

Điểm qua kết quả giao dịch của các thị trường châu Á khác: chỉ số Taiwan Weighted của Đài Loan giảm 1,52%. Chỉ số Straits Times của Singapore hạ 0,22%. Chỉ số VN-Index của Việt Nam lên 1,04%. Chỉ số ASX của Australia hạ 1,13%. Chỉ số BSE của Ấn Độ nhích 0,34%. Chỉ số Nikkei 225 của Nhật lên 0,07%.

Thị trường Chỉ số Phiên trước Đóng cửa Tăng/giảm (điểm) Tăng/giảm (%)
MỹDow Jones10.067,3310.185,53Up118,20Up1,17
Nasdaq2.147,352.171,20Up 23,85Up1,11
S&P 5001.073,871.089,18Up 15,31Up1,43
AnhFTSE 1005.188,525.247,41Up101,67Up1,98
ĐứcDAX5.608,795.654,48Up 45,69Up0,81
PhápCAC 40 3.739,463.762,01Up 22,55Up0,60
Đài LoanTaiwan Weighted7.640,447.524,67Down115,77Down1,52
Nhật BảnNikkei 22510.198,0410.205,02Up 6,98Up0,07
Hồng KôngHang Seng20.121,9920.243,75Up121,76Up0,61
Hàn QuốcKOSPI Composite1.602,431.606,44Up 4,01Up0,25
SingaporeStraits Times2.745,3516.394,13Down 36,17 Down0,22
Trung QuốcShanghai Composite2.989,292.941,36Down 47,93Down1,60
Ấn ĐộBSE16.357,962.735,93Up 9,42 Up0,34
AustraliaASX4.596,904.544,80Down 52,10Down1,13
Việt NamVN-Index481,96486,95Up 4,99 Up1,04
Nguồn: CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg


Theo Vneconomy