Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2010

Bốn dấu ấn quản lý TTCK năm 2009

Ông Vũ Bằng.

(ĐTCK-online)Ưu tiên số một là tái cấu trúc thị trường bên cạnh việc hoàn thiện khung khổ pháp lý triển khai các nghiệp vụ mới. Cùng với đó là nâng cấp công nghệ cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) và các Sở giao dịch, Trung tâm Lưu ký nhằm kiểm soát rủi ro trong kinh doanh chứng khoán… Đó là những mục tiêu mà UBCK hướng đến trong năm 2010 sau khi khép lại năm 2009 đầy biến động. Trước thềm năm mới, Chủ tịch UBCK Vũ Bằng đã dành cho ĐTCK một cuộc phỏng vấn riêng.

Đầu năm 2009, nhiều người có cái nhìn bi quan về tình hình thị trường, nhưng kết thúc năm, mọi việc không hoàn toàn như vậy. Ông có bất ngờ với một kết thúc có hậu trong năm qua?

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong năm 2008 và đầu năm 2009 đã tác động mạnh đến kinh tế và diễn biến của TTCK Việt Nam. Trong quý I/2009, thị trường sụt giảm nghiêm trọng, chỉ số chứng khoán sụt giảm 25% so với cuối năm 2008, thanh khoản kém khi giá trị giao dịch giảm 60%. Đặc biệt, huy động vốn qua thị trường bị đình trệ, nhiều đợt phát hành không thành công. Trong khi đó, vốn đầu tư nước ngoài rút ra 530 triệu USD (quý I). Thị trường xấu khiến 62/100 CTCK bị thua lỗ.

Tuy nhiên, các chính sách kích thích kinh tế kịp thời của Chính phủ đã ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Hết quý I, kinh tế thế giới và TTCK qua giai đoạn khó khăn nhất, bắt đầu hồi phục. Cộng hưởng với nhiều chính sách mà Bộ Tài chính và UBCK ban hành kịp thời nên TTCK đã có sự hồi phục. Mức vốn hóa thị trường thời điểm cao nhất gấp hơn 2 lần năm 2008, bằng 50% GDP năm 2009. Tính thanh khoản tăng lên, khối lượng giao dịch tăng gấp 4 lần so với trước đây. Huy động vốn từ quý II, đặc biệt trong tháng 10 và 11 tăng gấp 4 lần so với năm 2008. Nhiều ngân hàng tăng vốn thành công, một mặt đáp ứng yêu cầu tăng vốn điều lệ của Ngân hàng Nhà nước, mặt khác cải thiện năng lực tài chính, từ đó tạo điều kiện cho việc cung ứng vốn kích cầu hỗ trợ 4% lãi suất của Chính phủ, góp phần tăng trưởng kinh tế. Dòng vốn nước ngoài đã ngừng rút ra và bắt đầu quay trở lại; trong tháng 10 và 11, dòng vốn vào tăng gấp 4 lần so với những tháng trước đó. Các CTCK đã qua giai đoạn khó khăn, tiếp tục mở rộng phát triển kinh doanh.

Trải qua một năm không ít khó khăn, những gì nền kinh tế và TTCK đạt được, tôi cho rằng, kết quả đó là tích cực, khả quan.

Theo ông, dấu ấn lớn nhất trong hoạt động quản lý TTCK năm 2009 là gì?

Như trên tôi đã nói, vào thời điểm khó khăn nhất, có đến 62/100 CTCK có hoạt động kinh doanh thua lỗ. UBCK đã rà soát các CTCK kinh doanh thua lỗ để từ đó có ứng xử phù hợp. Chẳng hạn, yêu cầu các CTCK nâng cao năng lực tài chính, tái cấu trúc để hoạt động kinh doanh lành mạnh hơn; sửa đổi các văn bản pháp lý về hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, dự thảo Thông tư an toàn tài chính và Thông tư hướng dẫn phá sản các tổ chức kinh doanh chứng khoán. Vì thế, thành công lớn nhất năm 2009 chính là việc giữ cho các CTCK không bị đổ vỡ. Đây là một trong những định chế trung gian có vai trò quan trọng trên thị trường nên việc đảm bảo an toàn cho khối này là ưu tiên hàng đầu.

Hai là, nâng cao chất lượng phát hành thông qua việc nâng tiêu chí phát hành, đồng thời ban hành văn bản sửa đổi về công bố thông tin, trong đó có vấn đề soát xét báo cáo tài chính bán niên bên cạnh báo cáo kiểm toán năm của các DN niêm yết, việc này làm nâng cao chất lượng công bố thông tin, tạo niềm tin cho NĐT.

Ba là, việc yêu cầu công ty đại chúng thực hiện lưu ký chứng khoán tập trung đã thúc đẩy nhiều DN lên sàn, số tài khoản mở mới ngày một tăng. Những yếu trên giúp cho giá trị vốn hóa thị trường tăng cao. Điều đó cho thấy, nhận thức của DN, người dân về TTCK ngày một thay đổi theo hướng tích cực.

Bốn là, tái cấu trúc một bước các Sở giao dịch, Trung tâm Lưu ký, thực hiện giao dịch không sàn, mở thị trường trái phiếu chuyên biệt, tạo tiền đề cho việc tái cấu trúc cao hơn sau này.

Năm 2009 có thể nói là năm “xé rào” của các CTCK. Do khó khăn về doanh thu, một số CTCK đã liên kết trở thành đại lý giao dịch vàng; giữa năm lại rộ lên chuyện CTCK cho NĐT giao dịch ký quỹ, bán khống. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Đúng là năm 2009 có hiện tượng CTCK “xé rào”, nhưng theo tôi, không phải phổ biến. Khách quan nhìn nhận thì thực tiễn đôi khi cũng đi trước khung khổ pháp lý. Trước tình hình đó, UBCK đã có những chấn chỉnh kịp thời để một số nghiệp vụ của CTCK không đi xa những quy định hiện hành. Mặt khác, UBCK tích cực chủ trì soạn thảo, chỉnh sửa nhiều văn bản pháp lý trình cơ quan quản lý ban hành để tạo cơ chế thúc đẩy thị trường phát triển.

Chẳng hạn, chúng tôi đã hoàn thiện dự thảo sửa đổi Luật Chứng khoán để trong năm 2010 Quốc hội họp xem xét ban hành. Bên cạnh đó là sửa đổi Nghị định 14/2007/NĐ-CP về nội dung phát hành riêng lẻ, sửa đổi định Nghị định 36/2007/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán. Hiện các văn bản này đang được lấy ý kiến các thành viên thị trường để trình Chính phủ ban hành vào đầu năm 2010. Ngoài ra, sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2007/TT-BTC, trong đó đưa nội dung soát xét báo cáo tài chính vào để nâng cao chất lượng công bố thông tin, nhấn mạnh hơn việc công khai hóa thông tin. Đặc biệt, dự thảo Thông tư hướng dẫn giao dịch, trong đó có một số nghiệp vụ mới cho thị trường đã được trình Bộ Tài chính xem xét để có thể áp dụng dần từng bước.

Năm 2009 còn nở rộ tin đồn, giao dịch nội gián, thao túng thị trường. Có vẻ việc xử phạt đủ sức răn đe nằm ngoài tầm của UBCK?

Đối với xử phạt vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán thì báo chí năm vừa qua nói nhiều đến tính nghiêm khắc. Đúng là mức xử phạt trong thẩm quyền của UBCK khá thấp. Các hành vi vi phạm thu lời bất chính lớn phải ở một tầm cao hơn mới có thể xử được (ở nhiều nước, mức phạt lên đến hàng triệu USD). Ngoài mức xử phạt thấp, từ lúc phát hiện hiện tượng đến khi kết luận được vi phạm là một quá trình rất khó. Trên thế giới, trong 50 vụ chỉ xử được 2 vụ. Đối với Việt Nam, công nghệ theo dõi, đặc biệt là quyền hạn của UBCK còn hạn chế (ở nhiều nước, UBCK được điều tra, phong tỏa tài khoản tiền, ghi âm các giao dịch…, nên kết luận dễ hơn). Tuy nhiên, trong năm qua, chúng tôi cũng đã kiểm tra, kết luận và xử phạt nhiều vụ liên quan đến nội gián, thao túng thị trường và đòn bẩy tài chính. Chúng tôi đã kiểm tra và sẽ xử phạt tiếp một số vụ tương tự trong thời gian tới.

Để làm được như các nước, cần phải mất một thời gian dài, cũng như phải có những thay đổi về cơ chế. Trước mắt, chúng tôi đã hoàn thiện dự thảo sửa đổi Nghị định 36/2007/NĐ-CP, trong đó nâng mức xử phạt và phân cấp mạnh hơn. Hy vọng, khi nghị định này được ban hành sẽ tăng hiệu lực quản lý, ngăn ngừa các vi phạm trên thị trường.

TTCK năm qua biến động mạnh, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh của nhiều NĐT. Ông có thông điệp gì chuyển tải đến NĐT trong năm mới?

Nhiều tổ chức tài chính lớn cũng như giới phân tích trên thế giới đưa ra dự đoán tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2010 là 3,1%. Về mặt trung và dài hạn, kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng tốt hơn và mục tiêu tăng trưởng 6,1% trong năm tới nếu không có gì quá bất thường sẽ thực hiện được.

Bối cảnh vĩ mô như vậy là nền tảng rất quan trọng để TTCK đi lên, hồi phục mạnh hơn. Tuy nhiên, TTCK vẫn tiềm ẩn những khó khăn và rủi ro, đặc biệt là việc nền kinh tế phải đối phó với lạm phát, nhập siêu… Chúng ta cần có sự bình tĩnh, theo dõi để có quyết định đầu tư đúng đắn. Trong hoạt động kinh doanh, NĐT tránh tham gia những nghiệp vụ quá rủi ro, vượt qua các quy định pháp lý.


Theo Tinnhanhchungkhoan

Những vấn đề "nóng" của thị trường bất động sản năm 2009

Năm 2009 được đánh giá là năm vô cùng sôi động với thị trường bất động sản cùng với dấu hiệu hồi phục của nền kinh tế. Nhiều chính sách mới được đưa ra, nhiều dự án mới hình thành, nhiều xu hướng mới được thiết lập...

Một sổ cho nhà đất

Kể từ ngày 10/12, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ về cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (theo mẫu mới) chính thức có hiệu lực.

Theo đó, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sẽ được chứng nhận cùng trong một giấy chứng nhận duy nhất, thay vì phải tách riêng thành sổ hồng, sổ đỏ.

Ngoài ra, Nghị định đã quy định nhiều điểm mới trong đó thống nhất thủ tục nhanh gọn một nơi cấp, thể hiện đầy đủ quyền sử dụng đất và các loại tài sản, rút ngắn thời gian thực hiện, hạn chế phiền phức cho người dân khi làm giấy...

Cấm sử dụng chung cư làm văn phòng

Ngày 19/11, Bộ Xây dựng ra quyết định yêu cầu một số địa phương rà soát lại việc quản lý và sử dụng căn hộ chung cư, trong đó, nghiêm cấm việc sử dụng chung cư để cho thuê văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh…

Theo lý giải Bộ Xây dựng thì việc chủ sở hữu các căn hộ chung cư tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đã gây xáo trộn, mất trật tự, an toàn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của các hộ dân sống trong các toà nhà chung cư và trái với quy định của pháp luật. Bộ cũng cho rằng việc ra quyết định này sẽ góp phần hạn chế tình trạng đầu cơ trên bất động sản. Mặc dù còn nhiều tranh cãi nhưng quyết định này vẫn được thi hành và góp phần gây biến động đối với giá văn phòng cho thuê .

Lần đầu tiên tổ chức bốc thăm quyền mua căn hộ

Ngày 4/11, sàn giao dịch bất động sản Tập đoàn Nam Cường đã tổ chức bốc thăm quyền góp vốn mua căn hộ chung cư Lê Văn Lương Residentials và Khu hỗn hợp khách sạn, thương mại và nhà ở HH2, thuộc phân khu C dự án Khu đô thị mới Dương Nội (Hà Nội).

Đây là lần đầu tiên tại Hà Nội, chủ đầu tư công khai quyền góp vốn mua căn hộ cho mọi đối tượng với mong muốn đưa sản phẩm có giá gốc đến trực tiếp nhà đầu tư có nhu cầu thực sự. Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề đáng nói sau sự kiện này, tuy nhiên đây cũng được xem là một xu hướng mới, một tín hiệu vui đối với những người có nhu cầu thực sự về nhà ở.

Áp thuế TNCN đối với hợp đồng góp vốn mua căn hộ, đất nền

Từ ngày 26/9, thuế thu nhập cá nhân đối với hợp đồng góp vốn mua căn hộ, nền đất theo quy định tại Thông tư số 161 của Bộ Tài chính chính thức được áp dụng. Theo đó, người nộp thuế sẽ được lựa chọn một trong 2 cách nộp thuế suất 25% tính trên thu nhập chịu thuế hoặc mức 2% tính trên giá chuyển nhượng.

Theo đánh giá ban đầu, khá nhiều nhà đầu tư lựa chọn mức đóng 2% trên doanh thu bởi nó giúp nhà đầu tư giảm được đến hơn 50% số thuế phải nộp. Ngoài ra, thị trường bất động sản vẫn là kênh đầu tư rất hấp dẫn do vậy việc áp dụng thuế TNCN đối với hợp đồng chuyển nhượng sẽ chỉ làm giảm bớt mức lợi nhuận của các nhà đầu tư chứ không thể làm họ chùn bước.

Bùng nổ dự án

Mặc dù chịu sức ép của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 nhưng thị trường bất động sản vẫn được đánh giá khá hấp dẫn, đặc biệt hai thành phố lớn Hà Nội và TP HCM.

Năm 2009 là năm được mùa của các dự án bất động sản, trong đó chủ đầu tư lớn đã liên tiếp tung ra hàng loạt dự án lớn. Tại Hà Nội có Nam An Khánh, Bắc An Khánh, Ecopark, Diamon Park, khu ĐT Villa Park … Đặc biệt, hiệu ứng từ cơn “sốt” đất từ phía Tây Hà Nội đã nhanh chóng lan toả khắp các phía còn lại, giá bất động sản theo đó cũng hình thành mặt bằng giá mới cao hơn.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù giao dịch ảm đảm nhưng không vì thế cản trở nhà đầu tư bung hàng với hàng loạt dự án khu căn hộ cao cấp như Blooming Park, The Vista, Riverside…

“Sốt” chung cư cũ

Chưa bao giờ thị trường chung cư cũ của Hà Nội, TP Hồ Chí Minh bỗng trở nên sôi động và “sốt” như năm nay khi giá bán lần lượt leo thang từng ngày. Trong đó, tại Hà Nội, hàng loạt các khu chung cư cũ có vị trí đắc địa, hệ thống hạ tầng ổn định như khu Giảng Võ, Thành Công, Thái Hà…giá tăng đến 2-3 tỷ đồng/căn.

Theo đánh giá của các chuyên gia, sở dĩ có cơn “sốt” giá này là do chủ trương sẽ hoàn thành việc cải tạo, xây mới tất cả các chung cư cũ tại Hà Nội vào năm 2015 của Nhà nước đã khiến thị trường nhà đất trở nên “nóng” bởi sự săn tìm của giới đầu tư chứ không phải là người sử dụng có nhu cầu ở thật.
Nguồn: Theo VnMedia

10 điểm đáng chú ý của xuất nhập khẩu 2009

Xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có một năm “hụt hơi” và kém rất xa so với kim ngạch đạt được trong năm 2008.

Khi kinh tế thế giới đi vào giai đoạn trì trệ, những giải pháp chính sách chỉ có thể thúc đẩy xuất khẩu Việt Nam tăng về mặt lượng. Nỗ lực từ phía Chính phủ đang bị “hãm phanh” bởi các hàng rào kỹ thuật có xu hướng gia tăng trên thế giới, thay thế những bức tường chính sách được “đập bỏ” vì cam kết mở cửa và hội nhập.

VnEconomy điểm lại 10 sự kiện, vấn đề xuất nhập khẩu trong năm 2009 đáng ghi nhớ này.

1. Chính phủ buộc phải điều chỉnh chỉ tiêu xuất khẩu

Sau kết quả tăng trưởng xuất khẩu xấp xỉ 30% trong năm 2008, cuối năm ngoái, Chính phủ trình lên Quốc hội một kế hoạch kinh tế đầy tham vọng, với kim ngạch xuất khẩu năm 2009 dự kiến đạt khoảng 76,7 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2008.

Cẩn trọng trước diễn biến kinh tế thế giới có chiều hướng đi xuống, gần 88% đại biểu Quốc hội đã bỏ phiếu tán thành nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2009, trong đó tốc độ tăng trưởng xuất khẩu được điều chỉnh xuống còn 13%.

Tháng 1/2009, kim ngạch xuất khẩu xụt giảm mạnh, chỉ còn hơn 3,7 tỷ USD (năm 2008, kim ngạch xuất khẩu bình quân một tháng đạt gần 5,25 tỷ USD). Dù hai tháng kế tiếp, xuất khẩu có phục hồi, nhưng tiếp đến là giai đoạn trầm lắng hơn với kim ngạch tháng 4 và 5/2009 chưa đầy 4,5 tỷ USD mỗi tháng.

Trong các cuộc họp của Bộ Công Thương với các hiệp hội thời gian này, hầu hết các ngành hàng xuất khẩu chủ lực đều kiến nghị điều chỉnh giảm chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu, tiêu biểu là dệt may, gỗ, thủy sản…

Cuối tháng 5/2009, Chính phủ buộc trình Quốc hội điều chỉnh kim ngạch xuất khẩu theo hướng giảm mạnh, từ mức 13% xuống còn 3%. Mục tiêu xuất khẩu được điều chỉnh xuống 64,6 tỷ USD kim ngạch.

Trong khoảng 4 tháng kế tiếp, liên tục xuất hiện các điều chỉnh trong ước tính kim ngạch xuất khẩu của Bộ Công Thương.

Cuối tháng 7/2009, Bộ này ước tính kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 61 tỷ USD, giảm khoảng 3% so với con số thực hiện năm 2008. Trong nửa cuối tháng 9/2009, Bộ Công Thương tiếp tục đưa ra các dự báo mà con số được điều chính xuống 59 tỷ USD (giảm khoảng 6,5%); tiếp đó là 56,7 tỷ USD (giảm khoảng 9,5%).

2. Lần đầu tiên sau hơn 20 năm, xuất khẩu giảm so với năm trước

Kết thúc năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt 56,584 tỷ USD, giảm 9,7% so với thực hiện năm 2008. So sánh với số liệu tương ứng từ 1986 trở lại đây, năm 2009 là năm đầu tiên kim ngạch xuất khẩu giảm so với năm trước đó.

Đóng góp vào việc giảm kim ngạch xuất khẩu trong năm nay, dầu thô chiếm 69,7%. Tiếp đến, giày dép chiếm khoảng 12,6%; cao su chiếm xấp xỉ 6,8%; cà phê 6,7%; gỗ và sản phẩm gỗ 4,7%; thủy sản 4,4%...

Về nhập khẩu, kim ngạch cả năm 2009 ước đạt 68,83 tỷ USD và giảm 14,7% so với năm 2008. Năm nay là năm thứ hai, sau năm 1998, kim ngạch nhập khẩu giảm so với năm trước đó, nhưng mức độ giảm mạnh hơn (năm 1998 chỉ giảm 0,8%).

Trong các nguyên nhân giảm kim ngạch nhập khẩu, xăng dầu chiếm 40%; sắt thép chiếm khoảng 13,2%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phương tiện chiếm 6,1%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép chiếm 3,5%...

Với diễn biến này, độ mở nền kinh tế, theo cách hiểu là tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, đã giảm mạnh trong năm 2009, từ mức 143,4 tỷ USD của năm 2008 xuống chỉ còn trên 125,4 tỷ USD, giảm tới 12,6%.

2. Nhập siêu được kiềm chế

Diễn biến nhập siêu cũng chứng kiến nhiều bất thường trong năm nay. Quý 1/2009, Việt Nam xuất siêu xấp xỉ 1,5 tỷ USD với cả 3 tháng đầu năm đều có xuất siêu, tuy nhiên, xu thế này không duy trì được lâu. Trong 9 tháng còn lại của năm, nhập siêu gia tăng dần sức ép.

Quý 2/2009, nhập siêu đạt xấp xỉ 3,6 tỷ USD, xóa sạch thành tích xuất siêu của quý 1/2009. Tính cho đến giữa năm, Việt Nam đã nhập siêu gần 2,1 tỷ USD.

Sang quý 3/2009, nhập siêu của Việt Nam đột ngột tăng mạnh. Con số ghi nhận trong 3 tháng này đã đạt trên 4,67 tỷ USD. Quý 4/2009, nhập siêu vẫn duy trì ở mức cao, đạt khoảng 4,8 tỷ USD, trong đó, riêng nhập siêu tháng 11/2009 đã vượt 2 tỷ USD.

So với con số nhập siêu trên 18 tỷ USD của năm 2008, năm nay, chênh lệch thương mại quốc tế đã được kiềm chế chỉ còn khoảng 2/3, đạt gần 12,25 tỷ USD.

3. Giá hàng hóa xuất nhập khẩu giảm mạnh

Đa số các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng về lượng. Nhưng giá của hầu hết các hàng hóa đều theo chiều hướng giảm mạnh trong năm vừa qua, cá biệt có mặt hàng giá bình quân cả năm giảm tới trên 40%.

Về phía xuất khẩu, giá dầu thô xuất bán bình quân cả năm chỉ đạt khoảng 46,3 USD, giảm tới 38,5% so với năm 2008 (năm ngoái, giá xuất khẩu bình quân đạt trên 75,3 USD). Tiếp đến, giá cao su xuất khẩu đã giảm khoảng 32%; cà phê 27%; than đá 26%; gạo 25%; hạt tiêu 24%; hạt điều 13%...

Đối với dệt may, mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong năm 2009, giá bình quân xuất khẩu trong năm nay đã giảm từ 10-15% so với năm 2008, theo ước tính của Hiệp hội Dệt may Việt Nam.

Giá hàng hóa nhập khẩu cũng giảm mạnh trong năm vừa qua. Bình quân, giá xăng dầu nhập khẩu đã giảm 42%; lúa mỳ giảm 40%; phân bón 35%; sắt thép 32%; chất dẻo 24%; sợi dệt 15%...

Do xuất khẩu tăng mạnh về lượng, những tính toán sơ bộ của Tổng cục Thống kê cho biết, chênh lệch xuất nhập khẩu năm nay vẫn đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, khoảng 30%.

Nếu như tăng trưởng năm 2009 đạt 5,3% như tính toán của cơ quan này, đóng góp của xuất khẩu ròng vào GDP năm này vào khoảng 1,6 điểm %.

4. Hàng nông nghiệp “thăng hoa”

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản năm 2009 ước đạt khoảng 15,3 tỷ USD, trong đó nông sản đạt trên 8 tỷ USD, thuỷ sản trên 4 tỷ USD, lâm sản trên 2 tỷ USD...

Với kết quả này, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm ngành nông nghiệp năm nay đã vượt dự kiến hồi đầu năm (12 tỷ USD) và chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao (14 tỷ USD).

Diễn biến này cũng được xoay chuyển nhanh chóng trong hai tháng gần đây. Việc giá nhiều mặt hàng nông sản như gạo, cao su, hạt tiêu... tăng trở lại đã góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này.

Nhìn nhận những nhân tố có đóng góp tích cực vào kết quả xuất khẩu năm nay, trong 8 mặt hàng tác động kìm hãm sự suy giảm của kim ngạch xuất khẩu năm 2009, nhóm nông, lâm, thủy sản chiếm một nửa.

Đứng đầu là sắn và sản phẩm sắn. Nhóm hàng này đạt tăng trưởng 52,8% về giá trị trong năm 2009 và đóng góp 3,2% vào việc kìm hãm sụt giảm kim ngạch xuất khẩu. Tiếp đến là hạt tiêu tăng trưởng 14,3% và đóng góp 0,8%; chè 21,3% và 0,5%; cuối cùng là rau quả 6,1% và 0,4%.

5. “Ẩn số” xuất, nhập vàng

Năm 2009 cũng chứng kiến một nhân tố gây đột biến lớn đến kim ngạch xuất nhập khẩu, đó là vàng vật chất. Theo Tổng cục Thống kê, tái xuất vàng quý 1/2009 khoảng 2,287 tỷ USD. Đây cũng là động lực chính khiến Việt Nam xuất siêu trong giai đoạn này.

Tính chung cả năm, xuất khẩu nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm đã đạt trên 2,7 tỷ USD kim ngạch. Nhân tố này đóng góp tới 32,4% tổng các cản lực đối với suy giảm kim ngạch xuất khẩu.

Cũng liên quan đến diễn biến khá bật thường này, nhiều ý kiến đã chỉ trích Tổng cục Thống kê về việc đưa vàng vào kim ngạch xuất khẩu chung cả nước, cho rằng động thái này là nhằm để làm đẹp con số, và vàng không phải là hàng hóa thông thường…

Trong một diễn biến ngược chiều, đến cuối năm 2009, trước việc giá vàng trong nước đã lên quá cao, có độ chênh lệch lớn so với mặt bằng giá thế giới, Ngân hàng Nhà nước ra quyết định cho phép nhập khẩu một số lượng lớn vàng vật chất.

Theo số liệu của cơ quan thống kê, riêng tháng 11/2009, kim ngạch nhập khẩu vàng đã trên 337 triệu USD. Nếu tính giá vàng ở mức 1.100 – 1.200 USD/oz (1 Troy oz = 31,1 gam), lượng vàng nhập khẩu vào Việt Nam trong tháng 11/2009 tương đương khoảng 9 - 10 tấn.


7. Năm điều chỉnh của chính sách thuế

Trong một năm tình hình xuất khẩu có nhiều khó khăn, vai trò của Chính phủ và các bộ, ngành thể hiện rõ nét. Rất nhiều cuộc họp với các ngành hàng được Bộ Công Thương tổ chức liên tục trong năm qua, nhiều chính sách mới ra đời, đặc biệt liên quan đến thuế xuất, nhập khẩu.

Đáng kể nhất là việc điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi hàng nghìn dòng thuế theo cam kết trong CEPT/AFTA, ACFTA, AKFTA, AJCEP năm 2009.

Riêng việc thực hiện hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản đã giảm thuế nhập khẩu đối với hàng loạt mặt hàng như ô tô, sữa, đồ điện tử, điều hoà nhiệt độ, điện thoại, thức ăn chăn nuôi, rau quả, gạo...

Cũng trong năm vừa qua, nhằm thực hiện chủ trương kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn đối với doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn thực hiện việc giãn, giảm, hoãn, miễn thuế, đáng chú ý là việc giảm 50% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng theo danh mục hàng hoá của biểu thuế nhập khẩu ưu đãi.

8. Điều chỉnh tỷ giá

Từ biên độ +/-3% được công bố cuối năm 2008, sang đến tháng 3/2009, biên độ tỷ giá VND/USD được điều chỉnh lên +/-5% với tỷ giá bình quân liên ngân hàng sau lần điều chỉnh cuối cùng ở mức 17.034 VND/USD.

Cũng trong thời gian này, trên thị trường tự do giá USD liên tục tăng cao. Chỉ số giá USD bình quân năm 2009 đã tăng 9,17% so với năm trước đó, gây sức ép rất lớn lên chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước.

Trên thực tế, giá mua và bán được các ngân hàng thương mại công bố liên tục kịch trần, nhiều thời điểm các ngân hàng niêm yết giá mua bằng với giá bán.

Trong các giao dịch mua ngoại tệ với ngân hàng, nhiều doanh nghiệp luôn phải chấp nhận tính thêm vào giá USD chính thức một vài loại chi phí khác. Phần chênh lệch này được các doanh nghiệp gọi đùa là “chi phí không biết đưa vào đâu”.

Neo vào đồng USD trong khi phương tiện thanh toán này mất giá với hầu hết các đồng tiền khác. Tuy nhiên, bản thân VND cũng mất giá so với USD.

Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ công bố hôm 16/12 cho biết, lạm phát khu vực thành thị trong vòng một năm qua, tính đến tháng 11/2009 đã tăng 1,8%. Trong khi đó, lạm phát tại Việt Nam trong 12 tháng qua đã trên 6,5%.

Trước những sức ép kể trên, ngày 25/11, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã công bố mức tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày 26/11/2009 là 17.961 và biên độ được thu hẹp về +/-3%.

9. Kiện chống bán phá giá gia tăng

Theo Hội đồng Trọng tài quốc tế Việt Nam, tính đến hết tháng 7/2009, Việt Nam bị kiện chống bán phá giá 39 vụ, tỷ lệ thua kiện gần 70%, đứng thứ 7 trong 100 nước bị kiện nhiều nhất thế giới. Tuy nhiên, đó chưa phải con số cuối cùng.

Trong năm nay, nhiều vụ kiện chống bán phá giá mới lại tiếp tục, đáng chú ý có các vụ như sau:

Ngày 27/2, Canada chính thức khởi xướng vụ điều tra chống bán phá giá đối với giầy và đế giầy cao su không thấm nước Việt Nam.

Ngày 31/3, hai công ty nhựa Hoa Kỳ đã gửi đơn kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với túi nhựa PE Việt Nam.

Ngày 25/7, Cục Điều tra Trợ cấp và Bán phá giá Thổ Nhĩ Kỳ ra quyết định số 2009/26 về việc khởi xướng điều tra chống lẩn tránh thuế đối với sản phẩm máy điều hòa có xuất xứ từ Việt Nam, Indonesia, Philippin, Pakistan và Ai Cập.

Ngày 8/9, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) điều chỉnh mức thuế chống bán phá giá đối với cả 3 bị đơn bắt buộc gồm Minh Phu Corp (từ 1,66% xuống 0,43%), Phuong Nam (từ 5,6% xuống 0,21%), và Camimex (từ 19,8% xuống mức 0,08%).

Ngày 22/12, Liên minh châu Âu (EU) đã bỏ phiếu chính thức thông qua đề xuất của Ủy ban Châu Âu (EC), kéo dài thêm 15 tháng thời hạn áp thuế chống bán phá giá đối với giày mũ da nhập khẩu của Việt Nam. Mức thuế mà EC áp đặt với giày dép nhập khẩu từ Việt Nam là 10%.

10. Thi nhau dựng rào cản kỹ thuật

Khủng hoảng kinh tế khiến các rào cản thương mại được dựng lên ngày càng nhiều. Các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang phải đầu tư, chi phí cả nhân lực và vốn, thiết bị để đáp ứng các yêu cầu mới.

Liên quan đến thị trường Hoa Kỳ, đạo luật Lacey sửa đổi, đạo luật Nông nghiệp Mỹ 2008 (Farm Bill 2008), đạo luật cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng đều yêu cầu cung cấp chứng nhận xuất xứ sản phẩm, kiểm soát hóa chất, an toàn cháy… Những thay đổi này sẽ tác động trực tiếp đến xuất khẩu nông sản, hải sản, đồ gỗ, dệt may, hàng tiêu dùng...

Đạo luật FLEGT của EU quy định tất cả các chuyến hàng gỗ xuất khẩu vào thị trường EU chỉ được cơ quan thẩm quyền cấp phép sau khi kiểm tra nguồn gốc xuất xứ. Quy định IUU (cũng của EU) bắt buộc mỗi lô hàng thuỷ sản xuất khẩu sang EU phải tuân thủ quy định về khai thác hợp pháp, phải có cam kết của nhà máy chế biến về nguồn gốc sản phẩm…

Hàn Quốc cũng thắt chặt kiểm tra các sản phẩm nhập khẩu theo hình thức OEM (Original Equipment Manufacturing). Các doanh nghiệp Hàn Quốc nhập khẩu sản phẩm từ các công ty gia công ở nước ngoài cần phải kiểm tra cơ sở sản xuất ít nhất một lần trong một năm.

Nguồn: Theo Anh Quân/VnEconomy

Tăng trưởng tín dụng 2010 sẽ được kiểm soát chặt

Tăng trưởng tín dụng 2010 sẽ được kiểm soát chặt

Tăng trưởng tín dụng ngân hàng trong năm 2010 sẽ được kiểm soát chặt chẽ nhằm chủ động phòng ngừa lạm phát.


Tuy chưa khẳng định khủng hoảng toàn cầu có chấm dứt hoàn toàn trong năm 2010 hay không, song hoạt động của ngành ngân hàng được dự báo sẽ có nhiều thuận lợi, khi nền kinh tế đi vào giai đoạn phục hồi.

Hoạt động của ngành được cho là sẽ tăng trưởng mạnh khi nhu cầu đầu tư, sản xuất, kinh doanh được khôi phục sau khủng hoảng.

Ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) cho biết, kế hoạch năm 2010 của Sacombank dựa trên tình hình của nền kinh tế, với tổng tài sản dự kiến sẽ được tăng lên 150.000 tỷ đồng.

Trong đó, nguồn vốn huy động là 130.000 tỷ đồng, tăng 52% so với năm 2009; dư nợ cho vay đạt 82.000 tỷ đồng, tăng 40 - 45% so với năm 2009. Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế của Sacombank trong năm 2010 là đạt khoảng 2.600 tỷ đồng, tăng 63% so với năm trước.

Tổng giám đốc OCB, ông Trần Văn Vĩnh cho biết, chiến lược năm tới của OCB là tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng và chỉ tiêu lợi nhuận cũng phải tăng lên để đảm bảo mức cổ tức 10 -12% cho cổ đông. Trong khi đó, các chỉ tiêu khác, như huy động, tăng trưởng tín dụng, cũng sẽ cao hơn so với năm 2009.

Nhiều ngân hàng khá lạc quan về hoạt động của ngành trong năm 2010, vì kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển tốt. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, hoạt động của ngành ngân hàng sẽ chịu sự kiểm soát chặt chẽ về tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu kiểm soát nhằm chủ động phòng ngừa lạm phát của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Ngoài việc tăng trưởng trên cơ sở kiểm soát, hoạt động của ngành cũng sẽ chuẩn mực hơn để phù hợp với tình hình kinh tế. Đồng thời, áp lực cạnh tranh về huy động vốn sẽ không ngừng gia tăng, nếu chưa giải quyết được bài toán lãi suất.

Nhu cầu tín dụng của các quốc gia đang nổi lên như Việt Nam là rất lớn, song trong bối cảnh nền kinh tế đang phải kiểm soát lạm phát, thì tăng trưởng tín dụng phải được kiểm soát là điều không thể làm khác. Vì vậy, trong năm 2010, người đi vay sẽ khó khăn hơn. Mặt khác, cạnh tranh trong huy động vốn của các ngân hàng cũng gay gắt hơn.

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, ông Phạm Hồng Hải, Giám đốc Kinh doanh vốn và ngoại tệ của Ngân hàng HSBC Việt Nam cho rằng, khó khăn của hoạt động ngành ngân hàng trong năm 2010 không thể xem nhẹ và thậm chí còn nặng nề hơn năm 2009, bởi phát triển trong bối cảnh phải đảm bảo cả hai mục tiêu là tăng trưởng và kiểm soát lạm phát là không dễ. Việc ổn định thị trường ngoại hối cũng được Ngân hàng Nhà nước đặt lên hàng đầu.

Còn theo ông Nguyễn Duy Hưng, Tổng giám đốc VietBank, năm 2010, gói hỗ trợ lãi suất của Chính phủ sẽ chấm dứt, các doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo tính hiệu quả trong đầu tư. Tuy nhiên, đây cũng là năm các chính sách tiền tệ, tài khóa mà Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước thực hiện trong năm 2009 sẽ phát huy tác dụng. Bên cạnh đó, nền kinh tế thế giới chưa có dấu hiệu phục hồi vững chắc và Việt Nam cũng không thể loại trừ khả năng tiếp tục bị ảnh hưởng.

Theo đánh giá của ông Hưng, nhìn chung tình hình thị trường trong năm 2010 sẽ không quá khó khăn, nhưng cũng không hề thuận lợi đối với hoạt động ngành ngân hàng. Trong bối cảnh đó các ngân hàng cần hết sức chú trọng thanh khoản. Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với phát triển ngân hàng trong bất cứ thời điểm nào.

TS. Trần Du Lịch, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia nhận định rằng, nguy cơ lạm phát tái bùng phát trong năm tới có cả yếu tố từ bên trong và bên ngoài, nên chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa phải dựa trên tín hiệu thị trường.

Vì vậy, vấn đề lớn đặt ra trong năm 2010, theo nhận định của một chuyên gia trong ngành tài chính - ngân hàng, là cần nhiều giải pháp vĩ mô tổng thể. Trong đó, chính sách tiền tệ phải được điều hành linh hoạt, vừa phục vụ mục tiêu tăng trưởng, vừa góp phần kiểm soát lạm phát. Bài toán khác cần giải quyết trong năm 2010 là chính sách lãi suất.

Theo Thùy Vinh
Báo Đầu tư

Công bố lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu

Công bố lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩuLãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước bằng đồng Việt Nam là 9,6%/năm. Áp dụng từ 01/01/2010.

Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định công bố lãi suất cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư.

Theo đó, lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước bằng đồng Việt Nam là 9,6%/năm, lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu của Nhà nước bằng đồng Việt Nam là 9,6%/năm, bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi là 6,0%/năm.

Mức chệnh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư đối với dự án vay vốn bằng đồng Việt Nam là 2,2%/năm, đối với dự án vay vốn bằng ngoại tệ là 0,7%/năm. Quyết định này có hiệu thi hành từ ngày 1/1/2010.

Theo Bảo Ngọc
VOV

TQ phản đối Mỹ áp thuế chống phá giá ống thép

TQ phản đối Mỹ áp thuế chống phá giá ống thép

Ngày 31/12, Trung Quốc bày tỏ "rất bất bình" trước quyết định của Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (ITC) áp thuế chống phá giá ở mức cao đối với sản phẩm ống thép nhập khẩu từ Trung Quốc.


Trong tuyên bố đăng trên trang web, Bộ Thương mại Trung Quốc "phản đối mạnh mẽ" quyết định của ITC đưa ra ngày 30/12, tuy nhiên chưa cho biết Bắc Kinh có hành động đáp trả hay không.

Tuyên bố nêu rõ Trung Quốc cho rằng phán quyết mặt hàng ống thép dùng cho ngành dầu mỏ của Trung Quốc làm tổn hại ngành công nghiệp thép của Mỹ là sai lầm, vì thực tế là khủng hoảng tài chính đã dẫn đến những khó khăn cho ngành công nghiệp này.

Khi bỏ phiếu nhất trí áp đặt mức thuế từ 10%-16% đối với ống thép nhập của Trung Quốc, ITC cho rằng sản phẩm này được hưởng trợ giá không công bằng, gây bất lợi cho ngành công nghiệp thép của Mỹ.

Theo các luật sư, đây là trường hợp áp thuế mạnh nhất đối với hàng hóa Trung Quốc từ trước đến nay.

Một quan chức ITC cho biết ủy ban này sẽ gửi Bộ Thương mại Mỹ văn bản chính thức quyết định về mức thuế trên trong vòng 10 ngày tới.

Theo TTXVN

Công bố cách tính chỉ số giá tiêu dùng mới

Công bố cách tính chỉ số giá tiêu dùng mới

Ngày 31.12.2009 tại Hà Nội, đại diện Tổng cục Thống kê cho biết, cách tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ở Việt Nam thời kỳ 2009 – 2014 sẽ có một số thay đổi.


Để tính chỉ số giá tiêu dùng, Tổng cục Thống kê phải xác định danh mục các loại hàng hóa và dịch vụ (“rổ” hàng hóa) tiêu dùng phổ biến của người dân (được gọi là danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện) và thu thập giá hàng tháng đối với các loại hàng hóa và dịch vụ trong danh mục này.

Rổ hàng hàng hóa mới sẽ bao gồm 573 mặt hàng, tăng 78 mặt hàng so với “rổ” hàng hóa cũ. Tỷ trọng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm, chỉ còn 39,93% thay vì mức 42,85% trước đây. Nhóm hàng này cũngđược tách chi tiết thành 3 nhóm hàng gồm lương thực (8,18 %), thực phẩm (24,35 %) và ăn uống ngoài gia đình (7,4 %).

Các nhóm hàng hóa còn lại đều có cơ cấu quyền số tăng lên trong rổ hàng hóa chung.

Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹtiếp tục không nằmtrong chỉ số giá tiêu dùng và được công bố hàng tháng cùng với chỉ số giá tiêu dùng.

Việc thay đổi một số nội dung trong phương án tính CPI nhằm đảm bảo chất lượng và tăng độ chính xác cho chỉ số CPI (thước đo lạm phát của nền kinh tế); trên cơ sở đó giúp Chính phủ và các nhà hoạch định có các chính sách điều hành hiệu quả nhất.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ